Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
I. QUAN NIỆM VỀ NHÂN CÁCH NGƯỜI LÃNH ĐẠO QUẢN LÝ (LĐQL)

I. QUAN NIỆM VỀ NHÂN CÁCH NGƯỜI LÃNH ĐẠO QUẢN LÝ (LĐQL)

Tải bản đầy đủ - 0trang

Nhân cách người LĐQL là toàn bộ những đặc điểm, phẩm chất tâm lý cá

nhân phù hợp với vai trò là người chỉ huy, điều khiển và tổ chức tập thể.

Nhân cách người LĐQL khơng tự nhiên mà có, nó được hình thành,

phát triển, biến đổi phụ thuộc vào điều kiện xã hội và hoạt động của cá nhân.

Trong các xã hội khác nhau, thời kì khác nhau có sự biến đổi trong nhân cách

người LĐQL nhưng nhân cách người LĐQL vẫn bao gồm những yếu tố ổn

định, tích cực, phát triển. Đó là những yếu tố tạo nên nét đặc thù của những

người đóng vai trò chỉ huy, điều khiển, thể hiện hệ thống những đặc điểm tâm

lý hành vi xác định.

Để làm nhà lãnh đạo - quản lý giỏi, người lãnh đạo quản lý phải có năng

lực phổ biến , năng lực đặc biệt, năng lực chuyên môn giỏi hơn người khác.

Năng lực phổ biến ở người lãnh đạo – quản lý biểu hiện qua năng lực

cảm giác, năng lực tri giác, năng lực tư duy. Về năng lực cảm giác, tri giác,

người lãnh đạo quản lý phải có khả năng nhạy cảm về chính trị và nhạy cảm về

tổ chức. Nhạy cảm chính trị là khả năng nắm bắt, phát hiện diễn biến của tình

hình ngay khi nó mới xuất hiện ra ở những biểu hiện mong manh nhất, mờ nhạt

nhất. Nhạy cảm tổ chức là nhạy cảm về con người qua cử chỉ, qua lời ăn tiếng

nói có thể biết người đó suy nghĩ gì. Đồng thời với năng lực cảm giác, tri giác,

người lãnh đạo - quản lý còn phải có năng lực tư duy. Có thể khái quát năng lực

tư duy cần phải có của người lãnh đạo quản lý qua 4 từ : “sâu”, “rộng”, “xa”,

“mềm”.

- Tư duy “sâu” đó là khả năng tư duy sâu sắc, có khả năng gạt ra những

yếu tố bên ngoài để hiểu bản chất của các vấn đề, biết phân biệt đâu là nguyên

nhân chính - phụ, đâu là vấn đế trọng tâm cốt lõi để xử lý vấn đề mang tính căn

bản, chiến lược.

- Tư duy “rộng” nghĩa là phải thấy toàn diện, bao quát để nắm bắt xử lý

đúng, tránh “thấy cái này mà không thấy cái kia”, phải nhận xét sự việc trên bình

diện lớn, khơng thể tách rời các sự kiện. Do đó, tư duy “rộng” đòi hỏi người lãnh

đạo quản lý phải có tư duy có hệ thống, tuyệt đối tránh lối tư duy cục bộ, làm gì

cũng phải thấy hiệu quả của các quyết định.



5



- Tư duy “xa” có nghĩa là khả năng dự đốn, thấy trước được sự phát

triển, hình thành trong tương lai. Hoạt động lãnh đạo là dẫn đường, do đó tầm

nhìn của người lãnh đạo phải thấy xa, định hướng một cách hợp lý, nói cách

khác phải có tư duy chiến lược.

- Tư duy “mềm” là khả năng suy nghĩ, năng động, linh hoạt, mềm dẻo,

biết thay đổi những tư duy không phù hợp với sự vận động và biến đổi của

cuộc sống.

Muốn làm nhà lãnh đạo quản lý giỏi còn cần có năng lực đặc biệt về tổ

chức, về giao tiếp và năng lực sư phạm. Năng lực tổ chức thể hiện qua khả năng

dùng người, sử dụng con người, khả năng tập hợp lôi cuốn con người vào guồng

máy để vận hành, thực hiện một mục tiêu một cách tốt nhất, đặt con người vào

đúng vị tri, phát huy sở trường tốt nhất của họ. Năng lực sư phạm: là khả năng

tác động gây ảnh hưởng, thay đổi được người khác bằng phẩm chất, tình cảm ý

chí và nhân cách của chính bản thân mình. Đó là sự động viên, khuyến khích, tập

hợp được nhiều người hăng hái lao vào công việc chung. Sự tác động này, trước

hết biểu hiện khả năng lan truyền nghị lực và ý chí của mình sang người khác,

khơi vậy lòng hăng hái quyết tâm của họ.

- Về năng lực chuyên môn: là sự tổng hợp kiến thức, kinh nghiêm và trí

tuệ của người lãnh đạo để hồn thành có kết quả hoạt động chuyên môn của

người lãnh đạo. Năng lực chuyên môm được thể hiện trước tiên là khả năng chỉ

đạo thực hiện có hiệu quả hoạt động chuyên mơm. Người lãnh đạo phải giỏi

chun mơn nhưng khơng có nghĩa là giải quyết trực tiếp mọi vấn đề về chun

mơn mà là khả năng biết nhìn nhận đánh giá và tìn ra được các giải pháp có hiệu

quả qua các trợ lý chuyên môn, hoặc cùng với trợ lý chun mơn của mình. Khả

năng chun mơn giỏi còn thể hiện ở khả năng đánh giá năng lực làm việc của

người cấp dưới và biết phát huy được khả năng chun mơn của họ ở mức tối đa.

- Về tính cách, người lãnh đạo - quản lý phải có thái độ và hành vi ứng

xử chuẩn mực, biểu hiện qua thái độ và hành vi trung thành đối với Đảng, với

nước, tận tụy với nhân dân. Đối với bản thân người cán bộ lãnh đạo - quản lý,

theo Hồ Chí Minh, đạo đức quan trọng nhất chính là “cần, kiệm, liêm chính, chí

cơng, vơ tư”. Điều đó đòi hỏi người cán bộ lãnh đạo quản lý phải có thái độ

chuyên cần trong công tác, yêu lao động và lao động sáng tạo, gương mẫu về đạo

6



đức, phong cách sống giản dị, khơng lãng phí xa hoa, khơng tham nhũng, khơng

cơ hội, trung thực, cơng bằng và gắn bó mật thiết với nhân dân. Phải biết lo toan

trước mọi người, chịu trách nhiệm trước công việc và biết hưởng thụ một cách

công bằng và công khai. Sống, làm việc theo những chuẩn mực đạo đức này hiện

nay đang thật sự là một thử thách lớn cho người cán bộ lãnh đạo - quản lý, buộc

người lãnh đạo - quản lý phải biết chấp nhận hy sinh.

- Về khí chất, dù mang đặc điểm khí chất nào đi nữa, người lãnh đạo

quản lý phải biết tự điều hoà, kiềm chế và rèn luyện để biểu hiện đúng mực

những khí chất cần có của người lãnh đạo - quản lý để lôi cuốn, tập họp những

người khác cùng thực hiện mục tiêu đã định. Đó là lạc quan, cởi mở, dễ hồ

đồng, dễ thông cảm với mọi người, tinh tế trong ứng xử, có tình cảm sâu sắc và

bền vững, ln coi trọng tình cảm giữa con người với con người, tình cảm trong

tập thể, tình cảm giai cấp, tình đồng bào. Trong những tình huống khó khăn

người lãnh đạo phải có sự kiềm chế cao, bình tĩnh và kiên trì với mục tiêu đã

định, chín chắn, chu đáo, thận trọng, khơng vội vàng hấp tấp. Người lãnh đạo

quản lý còn phải biểu hiện ý chí mạnh mẽ, tinh thần dũng cảm, cam đảm, cương

quyết, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, biến nó thành uy lực, sức

mạnh thu hút, lơi cuốn người khác. Ý chí người lãnh đạo - quản lý còn thể hiện ở

tinh thần ham học hỏi để trao dồi tri thức và sự khôn ngoan, ở sự kiên nhẫn, khả

năng biết lắng nghe với sự vô tư và mềm mỏng cần thiết để tìm cách phối hợp,

điều hòa hoạt động của các thành viên, các bộ phận khác nhau vì mục tiêu

chung đã định.



II. NHỮNG PHẨM CHẤT NHÂN CÁCH CẦN CĨ CỦA NGƯỜI

LĐQL:

2.1. Phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức

- Tính Đảng, lập trường tư tưởng vững vàng, lòng trung thành với Đảng,

với sự nghiệp cách mạng

- Trách nhiệm chính trị cao

- Tính nguyên tắc

- Tính tập thể

7



- Lối sống trong sạch, lành mạnh

Các phẩm chất này có vai trò định hướng hoạt động lãnh đạo, giúp người

lãnh đạo giữ được vai trò lãnh đạo.

2.2. Thành thạo chun mơn nghề nghiệp, tính khoa học

Là yếu tố quyết định để giữ vai trò lãnh đạo cao nhất, tạo khả năng phối

hợp chun mơn của các thành viên.

- Có luận cứ trong xác định mục tiêu, nội dung lãnh đạo: Người lãnh đạo

hiểu rõ hơn ai hết, hiểu sâu sắc mình cần phải làm gì? cần đi đến đâu?

Người Mỹ: “Thế giới bị gạt sang một bên để ta đi qua, nếu ta biết mình

sẽ đi đâu”.

- Kế hoạch trong tổ chức thực hiện

- Kế hoạch trong sử dụng các hình thức, phương pháp, phương tiện lãnh

đạo

- Hiểu biết sâu rộng, năng động, có năng lực quan sát

- Tỉ mỉ, cụ thể, thận trọng khi ra quyết định

2.3. Tính đòi hỏi cao, nhất quán, phong cách lãnh đạo dân

chủ

- Tơn trọng, tin tưởng, đòi hỏi cao để cấp dưới tăng trách nhiệm, buộc họ

cố gắng, đồng thời cũng thể hiện sự tơn trọng, tin tưởng con người (Đòi hỏi

người khác một thì đòi hỏi bản thân phải gấp đơi, gấp ba)

- Nhất quán trong toàn bộ hệ thống làm toàn bộ hệ thống vận hành thống

nhất, tạo sức mạnh, niềm tin cho cấp dưới, kích thích sáng tạo

- Dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, nhiệt tình để đem lại kết

quả tốt hơn

- Quan tâm cấp dưới, nhạy cảm : Lắng nghe, hiểu cấp dưới (Đặt mình

vào vị trí của họ, khích lệ bằng khen là chính; chú ý tới cái Tơi của cấp dưới: Sức

khoẻ, gia đình, công việc; tế nhị: không phê phán quá đáng, tin vào sự hướng

thiện; thuyết phục để tự giác làm; tạo cơ hội phát triển: Mĩ 3-5 năm, Nhật 5-10

năm chuyển đổi công việc.)

8



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

I. QUAN NIỆM VỀ NHÂN CÁCH NGƯỜI LÃNH ĐẠO QUẢN LÝ (LĐQL)

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×