Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
II. THỰC TRẠNG VIỆC HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN Ở NƯỚC TA:

II. THỰC TRẠNG VIỆC HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN Ở NƯỚC TA:

Tải bản đầy đủ - 0trang

tranh, khôi phục nền kinh tế bị tàn phá nặng nề, từng bước xác lập quan hệ sản

xuất mới bước đầu xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, phát

triển sự nghiệp văn hoá giáo dục y tế, thiết lập củng cố chính quyền nhân dân

trong cả nước. Tuy nhiên, nền kinh tế vẫn ở trong tình trạng kém phát triển, sản

xuất nhỏ là phổ biến và nặng nề tính tự cung tự cấp. Trình độ

trang thiết bị kỹ thuật trong sản xuất cũng như trong kết cấu hạ tầng kinh tế

văn hoá xã hội lạc hậu, mất cân đối, chưa tạo được tích luỹ trong nước và lệ thuộc

nhiều vào bên ngoài. Cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp để lại nhiều hậu

quả tiêu cực do đó nền kinh tế hoạt động với hiệu quả thấp.

Khủng hoảng kinh tế xã hội diễn ra nhiều với đặc trưng sản xuất chậm và

không ổn định, lạm phát lên đến 774,7% năm 1986. Tài nguyên thiết bị lao động

và tài năng mới được sử dụng thấp. Đời sống nhân dân thiếu thốn, nếp sống văn

hoá tinh thần và đạo đức kém lành mạnh, trật tự an tồn xã hội khơng được đảm

bảo, tham nhũng nhiều và tệ nạn xã hội phát triển.

Trên thực tế nền kinh tế nước ta từ nghị quyết hội nghị lần thứ 6 ban chấp

hành Trung ương khoá IV (năm 1979) các quan hệ hàng hoá tiền tệ đã được chấp

nhận nhưng mới ở mức độ thứ yếu. Đó là do qua nhiều thập kỷ qua, tư tưởng kinh

tế xã hội chủ nghĩa mang nặng thành kiến coi quan hệ hàng hoá và cơ chế thị

trường là biểu hiện thuộc tính của chế độ tư hữu và tư bản. Mặt khác là do chúng

ta xây dựng chủ nghĩa xã hội theo mơ hình dập khn giáo điều chủ quan duy ý

chí các mặt bố trí cơ cấu kinh tế thiếu về phát triển cơng nghiệp nặng, quy mơ lớn

với xố bỏ các hình thức kinh tế dựa trên chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, phát

triển kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể, nặng nề hình thức phủ nhận nền kinh

tế hàng hoá theo cơ chế thị trường, bộ máy quan liêu cồng kềnh kém hiệu quả.

Những sai lầm đó đã dẫn đến việc kìm hãm lực lượng sản xuất và nhiều động lực

phát triển, cuộc cải cách kinh tế bị đẩy lùi. Tư tưởng Lênin trong chính sách kinh

tế Mác bị xem như bước lùi tạm thời bất đắc dĩ.



8



2.2. Sau đổi mới:

Trong gần 30 năm đổi mới, thực hiện phát triển nền kinh tế thị trường

(KTTT) định hướng xã hội chủ nghĩa (XHCN), qua mỗi kỳ Đại hội, nhận thức về

mơ hình KTTT định hướng XHCN ở nước ta từng bước được đổi mới, nâng cao;

các nền tảng cơ bản của nền KTTT định hướng XHCN đã được hình thành và

từng bước phát triển.

Từ Đại hội VI, Đảng và Nhà nước ta đã chú trọng nghiên cứu đổi mới nhận

thức, lý luận, có nhiều chủ trương, chính sách, biện pháp xây dựng và hồn thiện

thể chế KTTT định hướng XHCN, luôn coi đây là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu

trong sự nghiệp đổi mới phát triển đất nước. Đại hội X của Đảng xác định tiếp tục

hoàn thiện thể chế KTTT định hướng XHCN là một nhiệm vụ quan trọng và cấp

bách để: "phát huy sức mạnh toàn dân tộc, đẩy mạnh toàn diện cơng cuộc đổi

mới, sớm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển".

Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khóa X đã ban hành Nghị

quyết số 21-NQ/TW ngày 30-1-2008 về tiếp tục hoàn thiện thể chế KTTT định

hướng XHCN. Đây là một nghị quyết có tầm chiến lược và mang tính đột phá,

được triển khai thực hiện khá đồng bộ, nghiêm túc, sâu rộng; huy động được cả

hệ thống chính trị tham gia tích cực.

Q trình thực hiện chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà

nước về hoàn thiện thể chế KTTT định hướng XHCN đến nay đã nhận thức ngày

càng rõ hơn về mục tiêu, đặc trưng và cơ chế vận hành của nền KTTT định hướng

XHCN. Hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách tiếp tục được hồn thiện, tạo

khung khổ pháp lý đồng bộ, thuận lợi hơn cho sự vận hành của nền KTTT định

hướng XHCN. Môi trường đầu tư, kinh doanh được cải thiện, bình đẳng và thơng

thống hơn, nâng cao hơn vai trò, sức cạnh tranh của các chủ thể, các loại hình

doanh nghiệp; huy động tốt hơn các nguồn lực trong và ngoài nước; tạo nhiều

việc làm mới, góp phần nâng cao sức sản xuất của xã hội.

Các yếu tố thị trường và các loại thị trường được hình thành ngày càng đầy

đủ, đồng bộ hơn, gắn kết với thị trường khu vực và quốc tế. Hầu hết các loại giá

đã vận hành theo nguyên tắc thị trường; thực hiện cơ chế giá thị trường có sự

9



quản lý của Nhà nước đối với một số loại hàng hóa - dịch vụ thiết yếu. Vai trò của

Nhà nước được điều chỉnh phù hợp hơn với cơ chế thị trường, ngày càng phát huy

dân chủ trong đời sống kinh tế - xã hội. Hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu,

rộng. Đã thiết lập được nhiều quan hệ đối tác chiến lược về kinh tế. Tích cực xây

dựng Cộng đồng ASEAN và hoàn thiện thị trường trong nước đầy đủ hơn theo

cam kết WTO; đã và đang đàm phán, ký kết và thực hiện nhiều hiệp định thương

mại tự do song phương và đa phương thế hệ mới.

Tuy nhiên, cho đến nay đã bộc lộ một số hạn chế, yếu kém. Hệ thống pháp

luật, cơ chế, chính sách chưa hoàn chỉnh và đồng bộ với yêu cầu của nền KTTT

định hướng XHCN và u cầu đổi mới mơ hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh

tế, thực hiện ba đột phá chiến lược. Quyền tự do kinh doanh chưa được tôn trọng

đầy đủ; môi trường kinh doanh chưa thật sự bảo đảm cạnh tranh công bằng, lành

mạnh; việc gia nhập, hoạt động và rút khỏi thị trường còn nhiều rào cản. Quản lý,

điều hành giá cả một số hàng hóa, dịch vụ thiết yếu còn lúng túng, chưa thật sự

tuân thủ theo nguyên tắc thị trường.

Doanh nghiệp nhà nước còn chưa thể hiện được đầy đủ vai trò nòng cốt

trên thực tế. Hầu hết doanh nghiệp ngoài nhà nước quy mơ còn nhỏ, thiếu liên

kết. Doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài vẫn hoạt động chủ yếu trong các

ngành sử dụng nhiều lao động, khai thác tài nguyên và còn hạn chế trong chuyển

giao cơng nghệ. Trình độ phát triển của các loại thị trường còn thấp. Hiệu lực,

hiệu quả quản lý nhà nước chưa cao, kỷ luật, kỷ cương chưa nghiêm. Hội nhập

kinh tế quốc tế còn chưa phát huy tốt nhất các nguồn lực bên ngoài để phát triển.

Các nỗ lực đổi mới kinh tế trong nước chưa thật sự đáp ứng yêu cầu các cam kết

hội nhập. Nhiều bộ, ngành, địa phương, hiệp hội, doanh nghiệp chưa chủ động tận

dụng cơ hội và khắc phục khó khăn, thách thức trong q trình hội nhập.

Ngun nhân những hạn chế, yếu kém trên là do nhận thức về nền KTTT

định hướng XHCN còn có một số vấn đề chưa rõ. Chưa thật sự phát huy đầy đủ

quyền tự do kinh doanh của người dân theo quy định của Hiến pháp, pháp luật.

Cơ chế thực thi và phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương trong tổ chức quán

triệt, thực hiện các chủ trương, chính sách và pháp luật còn kém hiệu lực, hiệu

10



quả. Cơ chế kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm, rút kinh nghiệm, năng lực phân

tích, dự báo và điều chỉnh chính sách vẫn còn nhiều hạn chế.

2.3. Hạn chế trong phát triển kinh tế

Măc dù nước ta đã đạt được nhưng thành tựu nhất định trong phát triển

kinh tế và ổn định tình hình chính trị xã hội nhưng khơng phải khơng còn nhưng

tồn tại cần được giải quyết nhất là những tồn tại trong việc điều hành nền kinh tế

và giải quyết các vấn đề thương mại .Tuy những khó khăn này chỉ là tạm thời

nhưng chúng ta vẫn phải giải quyết để làm lành mạnh hoá nền kinh tế và đẩy

nhanh công cuộc phát triển kinh tế nước nhà .

Một trong những hạn chế lớn hiện nay là Việt Nam còn thiếu quá nhiều

thông tin , đặc biệt là thông tin trong lĩnh vực kinh tế. Khơng có các thơng tin cần

thiết về thị trường , về Luật kinh tế dẫn đến nhiều thất bại. Đáng chú ý là vấn đề

thương hiệu và gần đây là những khó khăn trong việc thâm nhập thị trường Mỹ.

Chính từ hai nguyên nhân này mà Việt Nam thất bại trong vụ kiện cá ba sa.Về

mặt nào đó vụ kiện này có mặt thiên vị cho Hiệp hội chủ trại cá nheo Mỹ nhưng

phải thừa nhận chúng ta đã khơng có nhưng thơng tin cần thiết và cũng không tiến

hành những hoạt động mà đáng ra chúng ta phải thực hiện trước khi thâm nhập và

thành cơng trên thị trường khó tính này. Một hạn chế khác là chúng ta vẫn còn tồn

tại những nghành kinh tế còn quá yếu kém khi mà chúng ta đã và đang dỡ bỏ một

số hạn ngạch thuế quan cho một số mặt hàng để chuẩn bị cho quá trình tham gia

tổ chức thương mại quốc tế WHO. Nguyên nhân của sự khó khăn này một phần là

do còn có nhưng ngành kinh tế hoạt động khơng hiệu quả đặc biệt trong sử dụng

vốn. Một phần là do một phần những ngành khác có tỷ lệ nội địa hố thấp. Ngoài

ra vẫn phải thừa nhận là các ngành kinh tế Việt Nam phát triển phần lớn là dựa

vào sự tăng lên về vốn. Theo thống kê gần đây thì trong cơ cấu một đồng sản

phẩm tăng lên thì có tới 74% là do tăng về vốn , 14% do lao động và chỉ có 12%

là do sự tăng lên về năng suất thơi. Trong những nghành có tỷ lệ nội địa hố thấp

thì có thể kể đến ngành ơ tơ và cơng nghệ tin học, phần lớn hàng hố sản xuất



11



trong nước mới dừng ở mức lắp ráp sản phẩm linh kiện nhập từ nước ngồi về.Ví

dụ ngành ơ tơ tỷ lệ nội địa hố mới ở mức 8%, cao nhất là Toyota Việt Nam tỷ lệ

này cung chỉ đạt 14%. Hiện nay một trong những vấn đề mà các nhà quản lý

không thể giải quyết mâu thuẫn giữa việc giảm để kích thích tiêu dùng các loại

hàng hố đồng thời phải tăng thuế để buộc các doanh nghiệp tăng tỷ lệ nội địa

hố.

Đó là trên sân nhà, còn trên thị trường thế giới thì sao? Nói chung hàng hố

Việt Nam vẫn còn chủ yếu cạnh tranh bằng giá. Nói chung cơng nghệ sản xuất

của Việt Nam còn khá lạc hậu nên hàng hố có giá trị thấp, hàm lượng khoa học

không cao. Kết quả dễ thấy là lợi nhuận sẽ thấp. Trong khi đó, Việt Nam lại chưa

vươn tới những thị trường dễ tính như châu Phi, Đơng Âu… mà chủ yếu hàng hoá

xuất sang EU, Nhật và Mỹ vốn là những thị trường khó tính đòi hỏi những tiêu

chuẩn khắt khe. Các tham tán thương mại cũng chưa hoạt động hiệu quả trong

việc hỗ trợ doanh nghiệp tìm kiếm thị trường. Một vấn đề nữa là hàng hoá Việt

Nam vẫn hay bị một số nước mua lại, dán nhãn mác khác để bán ra thị trường.

Đây là một thiệt thòi lớn cho chúng ta khơng chỉ là lợi nhuận mà còn liên quan

đến những quyền lợi và tài sản vơ hình khác.

Khơng chỉ vậy, trong lĩnh vực quản lý nhà nước chúng ta cũng còn tồn tại

khơng ít những hạn chế đặc biệt trong lĩnh vực quản lý hành chính và chế độ tài

chính cơng. Phải thừa nhân rằng bộ máy hành chính của Việt Nam còn rất cồng

kềnh và còn quá nhiều khâu trùng lặp. Mặc dù chúng ta đã có những cải cách

trong rút gọn thủ tục hành chính nhưng vẫn còn khá phức tạp, chưa thực sự thơng

thống. Tiêu biểu là việc cải thiện chế độ hải quan tại các cảng biển nước ta. Theo

đánh giá của các nhà kinh doanh nước ta đây là một tiến bộ lớn nhưng sau một

thời gian kiểm điểm lại chính chúng ta cũng phải thừa nhận những khiếm khuyết

vẫn còn tồn tại. Đồng thời với việc

nặng nề trong thủ tục hành chính thì vấn đề liên hệ giữa các thành phàn

tham gia giải quyết cũng chưa thông suốt. Hệ thống luật Việt Nam cũng chưa

thực sự hoàn thiện và thiếu sự ổn định. Đặc biệt là hệ thống luật kinh tế nói chung

ln thay đổi gây khơng ít khó khăn cho doanh nghiệp. Gần đây các phương tiện

12



thông tin đại chúng liên tục đưa ra những kiến nghị của các doanh nghiệp xung

quanh vấn đề mua hoá đơn GTGT. Theo ý kiến của các chuyên gia nước ngoài

tham gia giúp đỡ Việt Nam trong việc soạn thảo các văn bản luật thì ngun nhân

chính là do Việt Nam có q nhiều văn bản chồng chéo. Ngồi luật còn có thơng

tư, chỉ thị, hướng dẫn.Đơi khi chính những văn bản này lại hạn chế lẫn nhau, mâu

thuẫn với nhau. Bộ máy hành chính còn cồng kềnh cũng hạn chế khả năng hoạt

động của các nhà đầu tư. Cái khó nhất ở đây là bộ máy hành chính càng cồng

kềnh càng tạo ra nhiều khâu trung gian, càng làm mất thời gian của doanh nghiệp

trong khi đó có khơng ít khâu còn có sự chồng chéo nhau khơng phân định rõ

phạm vi hoạt động.



III. MỘT SỐ VẤN ĐỀ ĐẶT RA TRONG XÂY DỰNG NỀN KINH TẾ

THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA ở VIỆT NAM

Nền kinh tế Việt Nam được cấu thành bởi hai thành tố là kinh tế thị trường

và định hướng xã hội chủ nghĩa. Hai thành tố này có quan hệ tương tác với nhau,

phản ảnh tính phổ biến, tính đặc thù và đòi hỏi phải giải quyết hài hòa mối quan

hệ giữa phổ biến và đặc thù trong quá trình phát triển và quản lý nền kinh tế thị

trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

Nhìn lại gần 30 năm phát triển và quản lý nền kinh tế thị trường định

hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta, không phải lúc nào mối quan hệ giữa tính phổ

biến là kinh tế thị trường và tính đặc thù là định hướng xã hội chủ nghĩa cũng

được giải quyết tốt. Trong phát triển và quản lý nền kinh tế thị trường, một mặt,

nhiều đòi hỏi khách quan từ các quy luật của kinh tế thị trường chưa được giải

quyết thỏa đáng và mặt khác, nhiều vấn đề phản ánh bản chất, đặc trưng cơ bản

của tính định hướng xã hội chủ nghĩa cũng chưa được coi trọng đúng mức. Có khi

chúng ta chỉ vì quá nhấn mạnh đến bảo đảm tính định hướng xã hội chủ nghĩa nên

đã không bảo đảm được những quy luật khách quan của kinh tế thị trường và

ngược lại chỉ đơn thuần coi trọng thị trường, chạy theo các mục tiêu tăng trưởng

kinh tế mà hy sinh mục tiêu xã hội và phát triển con người. Trong tư duy của một



13



số người dường như vẫn có sự khơng thanh thốt, thậm chí còn mâu thuẫn khi

giải quyết mối quan hệ giữa kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa.

Từ nhận định tổng quát trên, trong giai đoạn tới cần phải:

- Phát triển nền kinh tế thị trường đầy đủ theo hướng hiện đại trên cả hai

phương diện kết cấu và thể chế.

- Định hình rõ nét hơn và tạo sự đồng thuận xã hội rộng lớn hơn về những

nội dung biểu hiện định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển kinh tế thị trường

xét cả trên phương diện lý luận lẫn thực tiễn.

Những vấn đề mang tính phổ biến mà Việt Nam cần giải quyết để hình

thành nền kinh tế thị trường hiện đại gồm:

a. Phải hình thành đầy đủ và đồng bộ các loại thị trường, tôn trọng các quy

luật của thị trường và giải quyết hài hòa mối quan hệ nhà nước - thị trường doanh nghiệp; chủ động và tích cực hội nhập vào nền kinh tế toàn cầu và khu vực.

b. Phát triển và quản lý có hiệu quả nền kinh tế thị trường hiện đại với

những đặc trưng cơ bản, mang tính phổ biến đối với tất cả các quốc gia, khơng

phân biệt chế độ chính trị. Thiếu những đặc trưng cơ bản này thì nền kinh tế thị

trường ở Việt Nam không thể được coi là kinh tế thị trường hiện đại.

Về định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển nền kinh tế thị trường hiện

đại ở Việt Nam

Định hướng xã hội chủ nghĩa phản ánh tính đặc thù của nền kinh tế thị

trường ở Việt Nam. Nền kinh tế thị trường ở Việt Nam vừa phải được phát triển

theo những quy luật khách quan của kinh tế thị trường, vừa phải được định

hướng, điều tiết và giám sát cho phù hợp với bản chất và những nguyên tắc của

một xã hội đang từng bước đi lên chủ nghĩa xã hội.

Sự phù hợp với bản chất và những nguyên tắc của chủ nghĩa xã hội trong

quá trình phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam là một q trình lâu dài, từ chưa

đầy đủ, chưa hồn thiện đến đầy đủ, hoàn thiện. Việc nhận diện đúng trạng thái

phát triển của xã hội trong từng giai đoạn trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã

hội ở Việt Nam để từ đó có những quyết sách phát triển và quản lý phù hợp, tránh

ngộ nhận có thể dẫn đến sai lầm duy ý chí, siêu hình là rất quan trọng.

14



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

II. THỰC TRẠNG VIỆC HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN Ở NƯỚC TA:

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×