Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
I. NGHIÊN CỨU CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NỀN KINH TẾ ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở NƯỚC TA:

I. NGHIÊN CỨU CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NỀN KINH TẾ ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở NƯỚC TA:

Tải bản đầy đủ - 0trang

nhà nước: “điều hành một nền kinh tế khơng có cả chính phủ lẫn thị trường thì

cũng như định vỗ bằng một bàn tay”. Tuy nhiên trong hoàn cảnh nước ta thì sự

can thiệp của nhà nước còn đóng vai trò giữ cho nền kinh tế đi theo đúng định

hướng xã hội chủ nghĩa.

1.2. Sự cần thiết tồn tại kinh tế thị trường:

Việt Nam đang tồn tại đủ các điều kiện cần thiết là cơ sở tồn tại của nền

kinh tế hàng hố. Phân cơng lao động đang phát triển cả về chiều rộng lẫn chiều

sâu. nhiều ngành nghề mới đã ra đời, đặc biệt là những ngành công nghiệp có

hàm lượng kỹ thuật kết tinh trong sản phẩm cao như điện tử, tin học… Bên cạnh

đó các làng nghề cổ truyền cũng đang phát triển mạnh mẽ. Các sản phẩm của

ngành đang từng bước khẳng định thương hiệu trên thị trường trong nước và quốc

tế. Đây chính là những thế mạnh củaViệt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế

thế giới.Sự phát triển này đã kéo theo sự phát triển nhanh chóng của lực lượng

sản xuất.

Kể từ sau Đại hội Đảng tồn quốc lần VI. Việt Nam đã chính thức thừa

nhận sự tồn tại của các thành phần kinh tế ngồi quốc doanh. Nhờ đó các thành

phần kinh tế này đã có những điều kiện cần thiết để phát triển. Từ đó xuất hiện sự

khác biệt giữa các hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất và sản phẩm lao động.

Đây chính là điều kiện đủ để nền kinh tế hành hố có cơ sở ra đời. Khác biệt về

sở hữu về tư liệu sản xuất và sản phẩm lao động đã tạo ra động lực to lớn để thúc

đẩy kinh tế phát triển mặc dù mặt trái của nó là sự phân hố về giàu và nghèo.

Sau một thời gian dài duy trì cơ chế kinh tế kế hoạch hoá tập trung đã đến

lúc chúng ta cần một sự chuyển đổi để phát triển kinh tế. Cơ chế thị trường với

những ưu thế không thể chối cãi là một sự lựa chọn hợp lý và cần thiết. Cơ chế

quản lý cũ cồng kềnh, kém năng lực đã khơng còn phù hợp với tình hình trong

nước và quốc tế. Những căn bệnh đặc trưng của cơ chế cũ như bảo thủ, trì trệ,

kém năng lực hình thành nên bộ máy quản lý thiếu chuyên môn nghiệp vụ nhưng

lại có thái độ quan liêu, cửa quyền cần phải được thay đổi. Thực tế cho thấy trải

qua gần hai mươi năm đổi mới gây dựng nhưng chúng ta vẫn phải thực hiện các



4



cuộc chỉnh đốn Đảng, cải cách bộ máy hành chính chứng tỏ những quan niệm cũ

sai lầm đã ăn sâu bám rễ như thế nào. Việc xoá bỏ hồn tồn khơng dễ dàng,

khơng thể hồn thành trong một sớm một chiều nhưng đó là việc cần thiết để thúc

đẩy kinh tế phát triển. Cùng với cơ chế cũ cũng là sự bất cập khi nhà nước can

thiệp quá sâu vào sản xuất kinh doanh,

điều hành không tuân theo các qui luật kinh tế mà theo cảm tính dẫn đến sự

thất bại trong thực hiện các mục tiêu kinh tế xã hội đã đề ra. Chuyển sang cơ chế

mới sẽ tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế phát triển theo đúng những qui

luật kinh tế khách quan.

Thực tiễn những năm đổi mới chỉ ra rằng việc chuyển đổi sang mơ hình

kinh tế thị trường của Đảng ta là hồn tồn đúng đắn. Nhờ mơ hình kinh tế đó

chúng ta đã bước đầu khai thác được tiềm năng trong nước đi đôi với thu hút vốn

và kỹ thuật nước ngồi, giải phóng được năng lực sản xuất trong xã hội, phát triển

lực lượng sản xuất, góp phần quyết định bảo đảm nhịp độ tăng trưởng GDP bình

quân hằng năm trong những năm 2000 là 7%. Trong đó nơng nghiệp phát triển

liên tục, đặc biệt là sản xuất lương thực đưa Việt Nam trở thành nước thứ ba trên

thế giới về xuất khẩu lương thực. Giá trị sản xuất cơng nghiệp tăng bình qn

hàng năm 13,5%. Hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật và xã hội được tăng cường.

Đời sống nhân dân được cải thiện, nâng cao tích luỹ xã hội, tạo tiền đề cho sự

phát triển trong tương lai.

1.3. Bản chất kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa:

Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta có một số

điểm như sau:

Thứ nhất , quá trình chuyển nền kinh tế nước ta sang nền kinh tế thị trường

đồng thời cũng là quá trình thực hiện nền kinh tế mở, nhằm hoà nhập với thị

trường thế giới.

Thứ hai, bản chất của quá trình chuyển nền kinh tế nước ta sang nền kinh tế

thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa là q trình chuyển nền kinh tế còn

mang nặng tính chất tự cung tự cấp sang nền kinh tế hàng hố tiến tới nền kinh tế



5



thị trường và qua trình chuyển cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị

trường có sự quản lý của nhà nước.

Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản đã khẳng định nền kinh tế hàng hoá đã

làm cho thị trường dân tộcgắn bó và hồ nhập với thị trường thế giới, Chính giao

lưu hàng hố đã làm cho quan hệ quốc tế được mở rộng khỏi phạm vi quốc gia,

thúc đẩy nền kinh tế phát triển một cách nhanh chóng.

Trong quan hệ quốc tế chúng ta có nhiều đổi mới quan trọng. Chúng ta đã

chuyển quan hệ quốc tế từ đơn phương sang đa phương, quan hệ với tất cả các

nước khơng phân biệt chế độ chính trị, theo ngun tắc đơi bên cùng có lợi và

khơng can hệ vào chuyện nội bộ của nhau.

1.4. Đặc trưng của kinh tế thị trường định hướng XHCN ở nước ta:

Mục đích của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là phát

triển lực lượng sản xuất, phát triển kinh tế để xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của

chủ nghĩa xã hội, nâng cao đời sống nhân dân lao động và tất cả các thành viên

trong xã hội. Phát triển lực lượng sản xuất hiện đại gắn liền với xây dựng quan hệ

sản xuất mới phù hợp trên cả ba mặt: sở hữu, quản lý và phân phối.

Về sở hữu sẽ phát triển theo hướng còn tồn tại nhiều hình thức sở hữu khác

nhau, nhiều thành phần kinh tế khác nhau trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò

chủ đạo. Tiêu chuẩn căn bản để đánh giá hiệu quả xây dựng quan hệ sản xuất theo

định hướng xã hội chủ nghĩa là thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất, cải thiện

đời sống nhân dân và thực hiện công bằng xã hội nên phải từng bước xác lập và

phát triển chế độ sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất chủ yếu một cách vững

chắc, tránh nóng vội xây dựng ồ ạt mà khơng tính đến hiệu quả như trước đây.

Về quản lý trong kinh tế thị trường địng hướng xã hội chủ nghĩa phải có sự

quản lý của nhà nước xã hội chủ nghĩa. Nhà nước xã hội chủ nghĩa sẽ quản lý nền

kinh tế bằng pháp luật, chiến lược, kế hoạch, chính sách đồng thời sử dụng cơ chế

thị trường, các hình thức kinh tế và phương thức quản lý kinh tế thị trường để

kích thích sản xuất, giải phóng sức sản xuất, phát huy tính tích cực và hạn chế



6



những mặt tiêu cực, khuyết tật của cơ chế thị trường, bảo vệ lợi ích nhân dân lao

động và toàn thể quần chúng nhân dân.

Về phân phối kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thực hiện

phân phối chủ yếu theo kết quả lao động và hiệu quả kinh tế, đồng thời phân phối

theo mức đóng góp vốn và các nguồn lực khác vào sản xuất kinh doanh và thông

qua phúc lợi xã hội. Cơ chế phân phối này vừa tạo động lực kích thích các chủ thể

kinh tế nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh, đông thời hạn chế

những bất công trong xã hội.Thực hiện tăng trưởng kinh tế gắn liền với công bằng

xã hội ngay trong từng bước phát triển.

Tính định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị trường nước ta còn

thể hiện ở chỗ tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với phát triển văn hoá, giáo dục xây

dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, làm cho chủ nghĩa

Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần

của nhân dân, nâng cao dân trí, giáo dục và đào tạo con nguời, xây dựng và phát

triển nguồn nhân lực của đất nước.

Chủ trương xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường, định hướng xã

hội chủ nghĩa có sự quản lý của nhà nước thể hiện trình độ tư duy và vận dụng

của Đảng ta về qui luật sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ

phát triển của lực lượng sản xuất. Đây là mơ hình kinh tế tổng qt của nước ta

trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.



II. THỰC TRẠNG VIỆC HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN NỀN

KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐỊNH HƯỚNG XHCN Ở NƯỚC TA:

2.1. Trước đổi mới:

Từ năm 1975 đất nước Việt Nam hoàn toàn độc lập và thống nhất, cách

mạng Việt Nam hoàn toàn chuyển sang giai đoạn mới, cả nước xây dựng chủ

nghĩa xã hội. Đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội từ điểm xuất phát rất thấp lại chịu

ảnh hưởng nặng nề do chiến tranh kéo dài. Trong 15 năm nhân dân ta đã khơng

ngừng phấn đấu vựot qua bao khó khăn thử thách mới giành được độc lập thống

nhất đất nước. Chúng ta đã có nhiều cố gắng trong việc hàn gắn vết thương chiến

7



tranh, khôi phục nền kinh tế bị tàn phá nặng nề, từng bước xác lập quan hệ sản

xuất mới bước đầu xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, phát

triển sự nghiệp văn hoá giáo dục y tế, thiết lập củng cố chính quyền nhân dân

trong cả nước. Tuy nhiên, nền kinh tế vẫn ở trong tình trạng kém phát triển, sản

xuất nhỏ là phổ biến và nặng nề tính tự cung tự cấp. Trình độ

trang thiết bị kỹ thuật trong sản xuất cũng như trong kết cấu hạ tầng kinh tế

văn hoá xã hội lạc hậu, mất cân đối, chưa tạo được tích luỹ trong nước và lệ thuộc

nhiều vào bên ngoài. Cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp để lại nhiều hậu

quả tiêu cực do đó nền kinh tế hoạt động với hiệu quả thấp.

Khủng hoảng kinh tế xã hội diễn ra nhiều với đặc trưng sản xuất chậm và

không ổn định, lạm phát lên đến 774,7% năm 1986. Tài nguyên thiết bị lao động

và tài năng mới được sử dụng thấp. Đời sống nhân dân thiếu thốn, nếp sống văn

hoá tinh thần và đạo đức kém lành mạnh, trật tự an tồn xã hội khơng được đảm

bảo, tham nhũng nhiều và tệ nạn xã hội phát triển.

Trên thực tế nền kinh tế nước ta từ nghị quyết hội nghị lần thứ 6 ban chấp

hành Trung ương khoá IV (năm 1979) các quan hệ hàng hoá tiền tệ đã được chấp

nhận nhưng mới ở mức độ thứ yếu. Đó là do qua nhiều thập kỷ qua, tư tưởng kinh

tế xã hội chủ nghĩa mang nặng thành kiến coi quan hệ hàng hoá và cơ chế thị

trường là biểu hiện thuộc tính của chế độ tư hữu và tư bản. Mặt khác là do chúng

ta xây dựng chủ nghĩa xã hội theo mơ hình dập khn giáo điều chủ quan duy ý

chí các mặt bố trí cơ cấu kinh tế thiếu về phát triển công nghiệp nặng, quy mô lớn

với xố bỏ các hình thức kinh tế dựa trên chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất, phát

triển kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể, nặng nề hình thức phủ nhận nền kinh

tế hàng hố theo cơ chế thị trường, bộ máy quan liêu cồng kềnh kém hiệu quả.

Những sai lầm đó đã dẫn đến việc kìm hãm lực lượng sản xuất và nhiều động lực

phát triển, cuộc cải cách kinh tế bị đẩy lùi. Tư tưởng Lênin trong chính sách kinh

tế Mác bị xem như bước lùi tạm thời bất đắc dĩ.



8



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

I. NGHIÊN CỨU CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NỀN KINH TẾ ĐỊNH HƯỚNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở NƯỚC TA:

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×