Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
II. SỰ CẦN THIẾT PHẢI GẮN CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC.

II. SỰ CẦN THIẾT PHẢI GẮN CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC.

Tải bản đầy đủ - 0trang

thức đang làm thay đổi mạnh mẽ nội dung và bước đi của quá trình CNH, HĐH ở

các nước đang phát triển và nó đòi hỏi CNH, HĐH ở những nước đi sau (như Việt

Nam) phải đồng thời thực hiện hai q trình:

Một là, xây dựng nền cơng nghiệp theo hướng hiện đại.

Hai là, phát triển kinh tế tri thức trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.

Đây là hai nội dung của một quá trình diễn ra đồng thời và phải được thực

hiện đồng thời. Đảng ta đã xác định: CNH, HĐH ở nước ta phải dựa vào tri thức,

theo con đường đi tắt, rút ngắn. CNH, HĐH phải thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ:

chuyển từ nền kinh tế nông nghiệp sang kinh tế công nghiệp và từ một nền kinh tế

công nghiệp sang kinh tế tri thức. Từ một trình độ thấp về kinh tế và kỹ thuật,

muốn đi lên nhanh và phát triển theo hướng hiện đại cần kết hợp phát triển tuần tự

với phát triển nhảy vọt. Nền kinh tế nước ta phải phát triển theo mơ hình “lồng

ghép”, một mặt, phải phát triển nông nghiệp và các ngành công nghiệp cơ bản, mặt

khác, đồng thời phải phát triển những ngành kinh tế dựa vào tri thức và cơng nghệ

cao.

Như vậy, có thể hiểu rằng, đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với phát triển kinh tế

tri thức là một phương thức CNH mới trong điều kiện của cuộc cách mạng khoa

học và công nghệ, của xu hướng tồn cầu hóa kinh tế đang gia tăng mạnh mẽ. Có

mạnh dạn đi ngay vào phát triển kinh tế tri thức mới có khả năng thay đổi phương

thức và đẩy nhanh tốc độ cơng nghiệp hố, hiện đại hoá, thực hiện được các mục

tiêu phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2020.

Mặc dù, về cơ bản, hiện nay Việt Nam vẫn còn là một nước đang phát triển

và đang trong quá trình chuyển từ nền kinh tế phi thị trường sang nền kinh tế định

hướng xã hội chủ nghĩa, từ nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp..,

song xét trên nhiều phương diện, Việt Nam có đầy đủ khả năng và từng bước phát

triển kinh tế tri thức. Điều này được thể hiện rõ nét ở những thành tựu kinh tế - xã

hội quan trọng mà nước ta đã đạt được trong hơn 25 năm đổi mới vừa qua trên các

khía cạnh chủ yếu sau:

Nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao 7 - 8% trong thời gian dài và là một

Trang 19



trong những nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh nhất thế giới. Trong hơn 10

năm qua GDP bình quân đầu người tăng gấp hơn ba lần (GDP bình quân đầu người

năm 2000 là 390 USD, năm 2005 là 642 USD và năm 2010 là 1168 USD). Đời

sống nhân dân được cải thiện đáng kể. Nền kinh tế đang chuyển mạnh sang kinh tế

thị trường và thể chế kinh tế thị trường đã bắt đầu hình thành và đang trong q

trình hồn thiện. Các loại thị trường đã được thiết lập và bắt đầu phát triển; hệ

thống tài chính ngân hàng đang từng bước lành mạnh hóa. Chính sách khuyến

khích đầu tư trong nuớc đối với khu vực tư nhân đã tạo nên động lực mới cho khu

vực này phát triển nhanh, đóng góp lớn vào tăng trưởng kinh tế, tạo nhiều việc làm

cho xã hội.

Trình độ cơng nghệ của một số lĩnh vực được nâng cao theo kịp trình độ

chung các nước trong khu vực; đã bắt đầu phát triển một số ngành công nghiệp

công nghệ cao (công nghệ thông tin và truyền thông, điện tử …). Công nghệ thông

tin và viễn thông (CNTT) Việt Nam đã đạt tốc độ tăng trưởng cao. Về sử dụng

internet, năm 1996 nước ta mới bắt đầu sử dụng, đến nay, tỷ lệ số người sử dụng

internet so với số dân đã đạt xấp xỉ 24%, ngang mức bình quân thế giới. CNTT

được ứng dụng có kết quả bước đầu trong các ngành tài chính, ngân hàng, thống kê,

kế hoạch, điện lực, hàng không, y tế, giáo dục, v.v... Đã bắt đầu nối mạng thông tin

đến các vùng sâu vùng xa. Các doanh nghiệp nói chung tích cực, chủ động sử dụng

CNTT để cải tiến tổ chức quản lý, mở rộng thị trường, nâng cao năng lực cạnh

tranh.

Nước ta là một trong những nước thu hút nhiều đầu tư nước ngoài; và hiện

nay đầu tư nước ngồi đang gia tăng nhanh chóng. Vốn đàu tư nước ngoài lớn cộng

với đầu tư trong nước chiếm tỷ lệ cao trong GDP đã góp phần đáng kể vào tăng

trưởng kinh tế, nâng cao trình độ công nghệ của sản xuất và phát triển cơ sở hạ

tầng. Kết cấu hạ tầng nước ta phát triển nhanh và được hiện đại hóa một bước; hệ

thống giao thơng, các đơ thị đã có bộ mặt mới. Quan hệ kinh tế đối ngoại không

ngừng mở rông, khối lượng xuất nhập khẩu tăng nhanh; Việt Nam là nước có tỷ lệ

xuất nhập khẩu so với GDP vào loại cao của thế giới. Nước ta cũng là một trong

Trang 20



những nước đã kết hợp tốt tăng trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội, đã chú trọng đầu

tư phát triển nông thôn, vùng sâu, vùng xa. Và cũng là nước được các tổ chức quốc

tế thừa nhận có thành tích xóa đói giảm nghèo nhanh nhất.

Tuy nhiên, nền kinh tế nước ta vẫn còn nhiều mặt yếu kém, nhất là chất

lượng tăng trưởng thấp, hiệu quả kém, đang tiềm ẩn nguy cơ phát triển không bền

vững, chưa rút ngắn được khoảng cách so với nhiều nước trong khu vực. Báo cáo

chính trị tại Đại hội Đảng lần thứ XI đã nêu rõ: “Tăng trưởng kinh tế chưa tương

xứng với khả năng; chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế còn kém;

cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm”.

Nền kinh tế nước ta đang còn dựa chủ yếu vào tài nguyên và lao động, giá trị

do tri thức tạo ra chưa đáng kể. Cơ cấu kinh tế vẫn còn nặng về nông nghiệp và

khai thác tài nguyên, tỷ trọng các ngành chưa hợp lý (nông nghiệp 21,6%, công

nghiệp 41,1%, dịch vụ 38,3%).

Năng suất lao động ở nước ta còn thấp hơn từ 2 đến 15 lần so với các nước

ASEAN. Năng suất lao động trong ngành thực phẩm của ta chỉ bằng 7% của Đài

Loan, 13% của Malaixia, 6% của Hàn Quốc và 67% của Trung Quốc. Đầu tư kém

hiệu quả; thất thoát trong đầu tư xây dựng cơ bản lớn, nhiều cơng trình đầu tư chưa

hợp lý, nên hiệu quả đầu tư kém. Hệ số ICOR năm 1995 là 3,4; từ năm 2001 đến

nay tăng lên đến trên 5 và năm 2010 là 5,26.

Tiềm năng trí tuệ của con người Việt Nam tuy không thua kém các nước,

nhưng do nhiều yếu kém trong công tác đào tạo nên chất lượng nguồn nhân lực

nước ta còn thấp, bất cập trước yêu cầu phát triển kinh tế tri thức. So với các nước

trong khu vực, nguồn nhân lực nước ta thua kém về số lượng, cơ cấu, cũng như về

trình độ, năng lực. Nước ta chưa có đủ chính sách trọng dụng nhân tài. Lực lượng

lao động dồi dào, nhưng tỷ lệ qua đào tạo nghề nghiệp và chuyên môn kỹ thuật rất

thấp, cơ cấu đào tạo lại bất hợp lý. Công nhân lành nghề, công nhân kỹ thuật phục

vụ các ngành cơng nghệ cao còn thiếu nghiêm trọng.

Năng lực khoa học và cơng nghệ quốc gia còn yếu; kết quả ứng dụng còn ít,

số cơng trình cơng bố, số bằng sáng chế phát minh trên đầu cán bộ R&D rất thấp so

Trang 21



với các nước. Thị trường khoa học và cơng nghệ chậm được hình thành. Sự gắn kết

hoạt động KH&CN với giáo dục - đào tạo và sản xuất - kinh doanh còn yếu.

CNTT ở Việt Nam đang phải đối mặt với hàng loạt vấn đề: thu nhập người

dân còn thấp, chi phí cho CNTT khá cao, năng lực hoạch định chính sách còn yếu

so với u cầu phát triển CNTT, đội ngũ nhân lực chưa sẵn sàng. Tỷ lệ vi phạm bản

quyền của Việt nam xấp xỉ khoảng 90%, vào loại cao nhất thế giới. Ứng dụng

CNTT ở nhiều nơi còn mang tính hình thức, hiệu quả thấp; mơi trường pháp lý còn

chưa rõ ràng, thiếu chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư ứng dụng và phát

triển CNTT.

Hai là: Phát triển kinh tế tri thức là cơ hội để nước ta rút ngắn q trình cơng

nghiệp hố, hiện đại hoá nhằm khắc phục nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với

các nước trong khu vực.

Như đã biết, Việt Nam hiện nay nông nghiệp vẫn chiếm tỷ trọng cao, nông

dân vẫn là lực lượng đông đảo trong xã hội; nơng dân còn nhiều khó khăn, nhiều

nơi chưa thốt khỏi đói nghèo, lao động thủ cơng còn là phổ biến ở vùng sâu, vùng

xa; năng suất lao động trong tồn xã hội còn rất thấp. Vì thế khả năng tụt hậu xa

hơn về kinh tế của nước ta với nhiều nước trong khu vực và thế giới là một nguy cơ

rất lớn.

Để khắc phục nguy cơ đó trong bối cảnh quốc tế hiện nay chúng ta khơng

còn con đường nào khác hiệu quả hơn là cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa rút ngắn,

tức là phải gắn cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa với phát triển kinh tế tri thức phát

triển kinh tế tri thức. Gắn việc đẩy mạnh cơng nghiệp hố, hiện đại hố với phát

triển kinh tế tri thức không chỉ là cơ hội để nước ta khắc phục nguy cơ tụt hậu mà

còn là phương cách tốt nhất để Việt Nam bắt kịp xu thế của thời đại, đi tắt, đón đầu

và “tăng tốc” để theo kịp các nước tiên tiến.

Ba là: Do yêu cầu xây dựng một nền kinh tế độc lập tự chủ, chủ động hội

nhập kinh tế quốc tế có hiệu quả.

Theo tư duy mới của Đảng ta, nền kinh tế độc lập tự chủ là độc lập tự chủ về

đường lối chính trị, chính sách phát triển kinh tế - xã hội, không lệ thuộc vào sức ép

Trang 22



từ bên ngồi; có tiềm lực kinh tế đủ mạnh đáp ứng cho nhu cầu tiêu dùng của nhân

dân, đồng thời có tích luỹ ngày càng cao; có cơ cấu kinh tế hợp lý, có sức cạnh

tranh cao, có khả năng ứng phó hiệu quả với những tác động bất lợi từ bên ngoài;

giữ vững được ổn định kinh tế - tài chính, bảo đảm an ninh lương thức, an tồn

năng lượng và mơi trường.

Tất cả những thuộc tính của một nền kinh tế độc lập tự chủ, chủ động hội

nhập kinh tế quốc tế mà chúng ta xây dựng chỉ có thể trở thành hiện thực khi chúng

đẩy mạnh quá trình cơng nghiệp hố, hiện đại hố gắn chặt với phát triển kinh tế tri

thức. Chỉ có gắn hai q trình đó thì chúng ta mới có thể từng bước tạo dựng được

các yếu tố trên đây của một nền kinh tế độc lập tự chủ và cũng mới có được vị thế

đủ mạnh để chủ động họi nhập kinh tế quốc tế.

Bốn là: Do yêu cầu xây dựng và củng cố quốc phòng, an ninh trong tình hình mới.

Bước sang thế kỷ 21, các nước tư bản đứng đầu là Mỹ vẫn đang nắm những

ưu thế về vốn, khoa học – cơng nghệ, nguồn nhân lực trình độ cao, cho nên có điều

kiện để phát triển kinh tế, lợi dụng tồn cầu hố kinh tế để thao túng các dân tộc

đang phát triển, tìm mọi cách thực hiện tồn cầu hố chính trị, văn hố và xã hội,

đẩy các nước, các dân tộc vào vòng xốy của chủ nghĩa tư bản. Mặt khác, chúng lợi

dụng những thành quả của khoa học – công nghệ hiện đại, của kinh tế tri thức để

tiếp tục củng cố vị trí siêu cường, áp đặt sự thống trị lên toàn cầu. Sử dụng con bài

kinh tế (hợp tác, trao đổi thương mại, vốn, công nghệ…) để tiếp tục đẩy mạnh

chiến lược diễn biến hoà bình nhằm xố bỏ các nước xã hội chủ nghĩa, trong đó

Việt nam được coi là một trọng điểm. Đặc biệt trong tương lai để xố bỏ chủ nghĩa

xã hơi ở nước ta, khơng loại trừ địch có thể sử dụng chiến tranh cơng nghệ cao.

Do vậy, để có đủ sức đánh thắng địch trong mọi tình huống dưới mọi mô

thức chiến tranh, Việt Nam cần phải tiến hành đẩy mạnh cơng nghiệp hố, hiện đại

hố gắn với phát triển kinh tế tri thức. Chỉ có như vậy, chúng ta mới vừa tạo được

vị thế bình đẳng, cùng có lợi trong hợp tác kinh tế quốc tế; vừa tạo điều kiện để

phát triển cơng nghiệp quốc phòng nhằm trang bị vũ khí, trang bị tiên tiến, nguồn

nhân lực có chất lượng cao đáp ứng nhu cầu củng cố quốc phòng, an ninh.

Trang 23



III. NHỮNG GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN

ĐẠI HÓA GẮN VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC VÀ VẬN DỤNG Ở

ĐỊA PHƯƠNG

Đại hội XI, với định hướng chiến lược cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mơ

hình tăng trưởng từ chủ yếu phát triển theo chiều rộng, sang phát triển hợp lý giữa

chiều rộng và chiều sâu, chú trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả, tính bền vững,

Đảng ta tiếp tục khẳng định: ''phát triển mạnh khoa học, công nghệ làm động lực

đẩy nhanh quá trình cơng nghiệp hố, hiện đại hố, phát triển kinh tế tri thức, góp

phần tăng nhanh năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế, sự

phát triển nhanh, bền vững của đất nước”.

Từ một nền kinh tế nơng nghiệp đi lên CNXH, trong bối cảnh tồn cầu hóa,

chúng ta phải tiến thành đồng thời hai quá trình: Chuyển từ nền kinh tế nơng

nghiệp lên kinh tế công nghiệp (CNH-HĐH); chuyển từ kinh tế nông-công nghiệp

lên kinh tế tri thức. Trong khi ở các nước đi trước, đó là hai q trình kế tiếp nhau,

thì ở nước ta, tận dụng cơ hội là nước đi sau, hai quá trình này được lồng ghép với

nhau, kết hợp các bước đi tuần tự với các bước phát triển nhảy vọt, tức là gắn

CNH-HĐH với phát triển kinh tế tri thức.

Nội dung trung tâm của thực hiện CNH-HĐH gắn với phát triển kinh tế tri

thức là lựa chọn để có thể bỏ qua một số thế hệ công nghệ trung gian, đi thẳng vào

công nghệ cao, công nghệ mới nhằm nhanh chóng chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo

hướng tăng nhanh các ngành cơng nghiệp dịch vụ có hàm lượng tri thức, giá trị gia

tăng cao. Trong ''Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2011-2020, ngoài một số mục

tiêu khối lượng như: tăng trưởng GDP bình quân 7-8%/năm; GDP bình quân đầu

người theo giá thực tế đạt khoảng 3.000 USD... còn có một số chỉ tiêu về chất

lượng, như là những nấc thang trên lộ trình CNH-HĐH, phát triển KTTT. Cụ thể là:

tỷ trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ chiếm khoảng 85% GDP; giá trị sản

phẩm công nghệ cao đạt 45% GDP; yếu tố năng suất tổng hợp đóng góp vào tăng

trưởng đạt 35%; giảm tiêu hao năng lượng tính trên GDP 2,5-3%/năm; giảm tỷ lệ

lao động nơng nghiệp xuống còn 30-35%...

Trang 24



Để đạt những chỉ tiêu trên điều tiên quyết là phải cơ cấu lại sản xuất công

nghiệp theo hướng tăng hàm lượng khoa học công nghệ và tỷ trọng giá trị nội địa

trong sản phẩm. Đồng thời phải sử dụng tri thức mới để chuyển dịch cơ cấu kinh tế,

phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn như cơng nghệ thơng tin, khai khống, luyện

kim, hóa chất, chế biến nơng sản, năng lượng... và đẩy nhanh CNH-HĐH nông

nghiệp, nông thôn bằng cách đổi mới công tác đào tạo nhân lực, đưa tri thức sản

xuất, kinh doanh, tri thức khoa học công nghệ đến với người nông dân; sử dụng

công nghệ sinh học làm gia tăng giá trị các mặt hàng nông-lâm-thủy sản.

Quán triệt quan điểm của Đảng về đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với tri thức và

phát triển bền vững, nhằm đưa Nghị quyết vào cuộc sống đòi hỏi chúng ta cần thực

hiện tốt một số vấn đề cơ bản sau:

Một là, kết hợp hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, thực

hiện tiến bộ và cơng bằng xã hội, khơng ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của

nhân dân.

Trong vấn đề này cần coi trọng cả số lượng và chất lượng tăng trưởng. Phấn

đấu tăng trưởng kinh tế với nhịp độ nhanh, chất lượng cao và bền vững hơn, gắn

với phát triển con người; từng bước thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, nâng cao

chất lượng sống và bảo đảm ngày càng tốt hơn nhu cầu về văn hóa, giáo dục cho

con người. Xây dựng cơ cấu kinh tế hiện đại, hợp lý theo ngành, lĩnh vực và vùng

lãnh thổ. Phát triển mạnh các ngành, các sản phẩm kinh tế có giá trị gia tăng cao

dựa nhiều vào tri thức. Vấn đề quan trọng hàng đầu là, chúng ta phải chủ động phát

huy năng lực sáng tạo ở trong nước, đồng thời phải biết tranh thủ cơ hội tiếp thu tri

thức của thế giới.

Hai là, cải cách triệt để nền giáo dục, phát triển nguồn nhân lực chất lượng

cao phục vụ cho phát triển kinh tế tri thức.

Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020 khẳng định: Phát triển và

nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao là một

đột phá chiến lược, là yếu tố quyết định quá trình cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi

mơ hình tăng trưởng và là lợi thế cạnh tranh dài hạn, bảo đảm phát triển nhanh,

Trang 25



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

II. SỰ CẦN THIẾT PHẢI GẮN CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×