Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
I. CỘNG NGHIỆP HÓA – HIỆN ĐẠI HÓA GẮN VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC.

I. CỘNG NGHIỆP HÓA – HIỆN ĐẠI HÓA GẮN VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC.

Tải bản đầy đủ - 0trang

và cơng nghệ sẽ có bước tiến nhảy vọt. Kinh tế tri thức ngày càng có vai trò nổi bật

trong quá trình phát triển lực lượng sản xuất”

Từ nhận định đó Đại hội IX của Đảng ta xác định: “ Con đường cơng nghiệp

hố, hiện đại hố ở nước ta cần và có thể rút ngắn thời gian, vừa có những bước

tuần tự, vừa có bước nhảy vọt. Phát huy những lợi thế của đất nước, tận dụng mọi

khả năng để đạt trình độ cơng nghệ tiên tiến, đặc biệt là công nghệ thông tin và

công nghệ sinh học, tranh thủ ứng dụng ngày càng nhiều hơn, ở mức cao hơn và

phổ biến hơn những thành tựu mới về khoa học và công nghệ, từng bước phát triển

kinh tế tri thức”.

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ (bổ sung, phát triển

cương lĩnh 1991) do Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng xác định: “Từ

nay đến giữa thể kỷ XXI, toàn đảng, toàn dân ta phải ra sức phấn đấu xây dựng

nước ta trở thành một nước công nghiệp hiện đại theo định hướng xã hội chủ

nghĩa”. Để thực hiện thành công mục tiêu trên, toàn Đảng, toàn dân ta cần nêu cao

tinh thần cách mạng tiến cơng, ý chí tự lực tự cường, phát huy mọi tiềm năng và trí

tuệ, tận dụng thời cơ, vượt qua thách thức, quán triệt và thực hiện tốt một trong các

phương hướng cơ bản là: “ đẩy mạnh cơng nghiệp hố, hiện đại hố đất nước gắn

với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên, môi trường”.

1.1.2. Những đặc điểm chủ yếu của công nghiệp hố, hiện đại hố ở Việt

Nam hiện nay.

Cơng nghiệp hố, hiện đại hố ở nước ta có nhiều nét đặc thù cả về nội dung,

hình thức, qui mơ, cách thức tiến hành và mục tiêu chiến lược. Những nét đặc thù

này được thể hiện khái quát ở một số điểm chủ yếu sau đây:

Thứ nhất: Qua trình cơng nghiệp hố, hiện đại hố ở nước ta là q trình

rộng lớn, phức tạp và tồn diện. Có nghĩa là nó diễn ra trong tất cả các lĩnh vực

kinh tế, chính trị, văn hố, xã hội, có sự kết hợp giữa các bước đi tuần tự và bước đi

nhảy vọt, kết hợp giữa phát triển theo chiều rộng và phát triển theo chiều sâu, kết

hợp giữa biến đổi về lượng và biến đổi về chất của các tác nhân tham gia q trình.

Mục tiêu của cơng nghiệp hố, hiện đại hố mang tính bao trùm rất cao, theo đó

Trang 5



đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại,

nhưng mục tiêu xa hơn là nước ta trở thành một nước “Dân giàu, nước mạnh, dân

chủ, cơng bằng, văn minh”.

Thứ hai: Trong bối cảnh tồn cầu hố và cách mạng khoa học – cơng nghệ

đang diễn ra mạnh mẽ nước ta phải tiến hành đồng thời và đồng bộ cơng nghiệp

hố và hiện đại hố như một q trình thống nhất. Có thể nhìn nhận quá trình này

từ hai mặt thống nhất với nhau: Một mặt, đó là q trình xây dựng nền cơng nghiệp

hiện đại, tức là tạo nền tảng vật chất, kỹ thuật (lực lượng sản xuất) của nền kinh tế;

Mặt khác, đó là quá trình cải cách thể chế và cơ chế kinh tế, từ nền kinh tế kế hoạch

hoá tập trung, quan liêu bao cấp, sang kinh tế thị trường và hội nhập. Cơng nghiệp

hố gắn với hiện đại hố là cách làm đẩy lùi nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so

với các nước trong khu vực và trên thế giới, nhanh chóng đưa nước ta tiến kịp các

nước trong khu vực, hội nhập vào sự phát triển chung của khu vực và trên thế giới.

Thứ ba: Quá trình cơng nghiệp hố, hiện đại hố ở nước ta cần và có thể

được “rút ngắn”. Việc cần được “rút ngắn” ở đây là đòi hỏi khách quan của nhiệm

vụ thốt khỏi tình trạng tụt hậu phát triển. Bên cạnh đó, bối cảnh trong nước và

quốc tế cho phép nước ta có thể “rút ngắn” q trình cơng nghiệp hố, hiện đại hố.

Về cơ bản cách để nước ta có thể thực hiện cơng nghiệp hố, hiện đại hố “rút

ngắn” bao gồm hai mặt: Một mặt, đạt và duy trì một tốc độ tăng trưởng kinh tế cao

hơn các nước đi trước liên tục trong một thời gian dài để rút ngắn khoảng cách

chênh lệch về trình độ so với các nước đó (thực chất là tăng tốc để đuổi kịp); Mặt

khác, lựa chọn và áp dụng một phương thức cơng nghiệp hố, hiện đại hố cho

phép bỏ qua một số bước đi vốn là bắt buộc theo kiểu phát triển tuần tự, để đạt tới

một nền kinh tế có trình độ phát triển cao hơn (thực chất là lựa chọn con đường,

bước đi và giải pháp CNH để đi nhanh tới hiện đại). Hai mặt này không đối lập mà

thống nhất với nhau và đang tiếp tục được làm sáng tỏ hơn con đường đẩy nhanh

cơng nghiệp hố, hiện đại hoá ở nước ta.

Thứ tư: Ở nước ta quá trình cơng nghiệp hố, hiện đại hố có quan hệ chặt

chẽ với quá trình phát triển kinh tế tri thức. Trong thời gian qua tại khơng ít các

Trang 6



diễn đàn và cơng trình nghiên cứu khoa học, mối quan hệ giữa cơng nghiệp hố,

hiện đại hố với kinh tế tri thức đã từng bước được làm rõ. Về đại thể, có mạnh dạn

đi ngay vào phát triển kinh tế tri thức, mới có khả năng thay đổi phương thức và

đẩy nhanh tốc độ cơng nghiệp hố, hiện đại hố. Hay nói cách khác phát triển kinh

tế tri thức tạo điều kiện cho việc thực hiện mơ hình cơng nghiệp hố, hiện đại hoá

“rút ngắn” ở nước ta. Ngược lại, việc thực hiện các bước đi và mục tiêu của quá

trình cơng nghiệp hố, hiện đại hố tạo ra kết cấu hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội

để đi vào phát triển kinh tế tri thức.

1.1.3. Những thuận lợi và khó khăn của q trình cơng nghiệp hố, hiện

đại hoá ở Việt nam.

* Thuận lợi

- Thứ nhất: Sau 20 năm đổi mới, thế và lực của nước ta có những thay đỏi

mạnh mẽ, thể hiện ở những cái mới như:

+ Cấu trúc kinh tế mới. Cơ chế thị trường thay cho cơ chế kế hoạch hoá tập

trung, nền kinh tế thuần nhất một thành phần khép kín, được thay bằng nền kinh tế

nhiều thành phần, mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế. Thể chế kinh tế thị trường

định hướng xã hội chủ nghĩa dần dần được hình thành, kinh tế vĩ mơ cơ bản ổn

định. Vai trò và chức năng mới của Nhà nước, xã hội năng động hơn, các yếu tố cấu

thành hệ thống kinh tế - xã hội được kết nối chặt chẽ hơn.

+ Tiềm lực kinh tế mới: GDP tăng trưởng với tốc độ cao liên tục trong nhiều

năm, với cơ cấu ngành biến đổi theo hướng giảm tỷ trọng nông nghiệp, tăng tỷ

trọng công nghiệp và dịch vụ.

Từ năm 1986-1990: GDP tăng 4,4%/năm. Việc thực hiện tốt ba chương trình

mục tiêu phát triển về lương thực - thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng xuất khẩu

được đánh giá là thành công bước đầu cụ thể hóa nội dung của CNH XHCN trong

chặng đường đầu tiên. Đây là giai đoạn chuyển đổi cơ bản cơ chế quản lý cũ sang

cơ chế quản lý mới, thực hiện một bước quá trình đổi mới đời sống KTXH và giải

phóng sức sản xuất.

Từ năm 1991-1995: Nền kinh tế khắc phục được tình trạng trì trệ, suy thối,

Trang 7



đạt được tốc độ tăng trưởng tương đối cao liên tục và tồn diện. GDP bình qn

năm tăng 8,2%. Đất nước ra khỏi thời kỳ khủng hoảng kinh tế, bắt đầu đẩy mạnh

CNH - HĐH đất nước.

Từ năm 1996-2000, là bước phát triển quan trọng của thời kỳ mới, đẩy mạnh

CNH, HĐH đất nước. Chịu tác động của khủng hoảng tài chính - kinh tế khu vực

cùng thiên tai nghiêm trọng xảy ra liên tiếp đặt nền kinh tế nước ta trước những thử

thách. Tuy nhiên, giai đoạn này, Việt Nam duy trì được tốc độ tăng trưởng tổng sản

phẩm trong nước 7%/năm.

Năm 2000-2005, nền kinh tế đạt được tốc độ tăng trưởng cao, liên tục, GDP

bình quân mỗi năm đạt 7,5%. Năm 2005, tốc độ tăng trưởng đạt 8,4%, GDP theo

giá hiện hành, đạt 838 nghìn tỷ đồng, bình quân đầu người đạt trên 10 triệu đồng,

tương đương với 640 USD.

Từ một nước thiếu ăn, mỗi năm phải nhập khẩu 50 vạn - 1 triệu tấn lương

thực, Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu gạo lớn trên thế giới. Năm 2005, nước

ta đứng thứ 2 trên thế giới về xuất khẩu gạo, thứ 2 về cà phê, thứ 4 về cao su, thứ 2

về hạt điều, thứ nhất về hạt tiêu.

Từ năm 2005-2010: Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân 5 năm đạt 7%,

năm 2011 đạt 5,89% với mức 119 tỷ USD, GDP bình quân đầu người đạt 1.300

USD. Cơ cấu kinh tế chuyển biến tích cực theo hướng cơng nghiệp hố, hiện đại

hố, gắn sản xuất với thị trường.

Về cơ cấu ngành, tỷ trọng nông nghiệp trong GDP giảm dần, năm 1988 là

46,3%, năm 2005 còn 20,9%, năm 2010 còn 20,6%. Trong nội bộ ngành nơng

nghiệp cơ cấu trồng trọt và chăn nuôi đã chuyển dịch theo hướng tiến bộ, tăng tỷ

trọng các sản phẩm có năng suất và hiệu quả kinh tế cao, các sản phẩm có giá trị

xuất khẩu.

Tỷ trọng cơng nghiệp và xây dựng tăng nhanh và liên tục. Năm 1988 là

21,6%, năm 2005 lên 41%; Năm 2010 là 41,09%. Công nghiệp và xây dựng phát

triển mạnh với thiết bị công nghệ ngày càng hiện đại.

Tỷ trọng khu vực dịch vụ trong GDP đã tăng từ 33,1% năm 1988 lên 38,1%

Trang 8



năm 2005, 38,33% năm 2010.

+ Thế phát triển mới: Việt Nam thoát khỏi tình trạng cấm vận kinh tế, qua hệ

thương mại và đầu tư quốc tế mở rộng, đã gia nhập ASEAN, ASEM, APEC, WTO.

Với chủ trương tích cực và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, quan hệ kinh tế của

Việt Nam với các nước, các tổ chức quốc tế ngày càng được mở rộng. Việt Nam đã

tham gia Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á, thực hiện các cam kết về Khu vực

mậu dịch tự do ASEAN (AFTA), Hiệp định thương mại Việt Nam - Hoa Kỳ, gia

nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO)...Đến nay Việt Nam đã có quan hệ thương

mại với hơn 200 nước và vùng lãnh thổ, ký hơn 90 hiệp định thương mại song

phương với các nước, tạo ra một bước phát triển mới rất quan trọng về kinh tế đối

ngoại.

+ Động lực phát triển mới: Xuất hiện những động lực phát triển mới, mạnh

mẽ như cạnh tranh thị trường, sự mở rộng các cơ hội, sức mạnh của tinh thần dân

tộc trong cuộc đua tranh phát triển.

Đã giải quyết có hiệu quả mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển

văn hố, thực hiện tiến bộ và cơng bằng xã hội, các cơ hội phát triển được mở rộng

cho mọi thành phần kinh tế, mọi tầng lớp dân cư, tính tích cực, chủ động, sáng tạo

của nhân dân được nâng cao.

Cơng tác giải quyết việc làm, xố đói giảm nghèo đạt kết quả tốt, vượt mục

tiêu phát triển thiên niên kỷ của Liên hợp quốc. Từ năm 2000 đến năm 2005, tạo

việc làm cho 7,5 triệu lao động. Năm 2005, thất nghiệp ở thành thị giảm xuống còn

5,3%; thời gian sử dụng lao động ở nông thôn đạt 80%. Thu nhập bình quân đầu

người tăng mạnh từ 200 USD năm 1990 lên khoảng 1168 USD năm 2010.

Công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân được chú trọng và có nhiều tiến bộ.

Mạng lưới y tế được củng cố và phát triển, y tế chuyên ngành được nâng cấp, ứng

dụng cơng nghệ tiên tiến; việc phòng chống các bệnh xã hội được đẩy mạnh; tuổi

thọ trung bình từ 68 tuổi năm 1999 đến nay nâng lên trên 72 tuổi.

+ Lực lượng, chủ thể phát triển mới: Năng lực của các chủ thể phát triển:

Nhà nước, nhân dân, đội ngũ doanh gia, tri thức, quản trị được nâng cao, các yếu tố

Trang 9



bên ngồi vốn, cơng nghệ - kỹ thuật, thị trường, tri thức trở thành lực lượng thúc

đẩy phát triển quan trọng.

Thực hiện có kết quả chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần,

phát huy ngày càng tốt hơn tiềm năng của các thành phần kinh tế. Kinh tế Nhà

nước được sắp xếp, đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả, tập trung hơn vào

những ngành then chốt và những lĩnh vực trọng yếu của nền kinh tế. Cơ chế quản

lý doanh nghiệp nhà nước được đổi mới một bước quan trọng theo hướng xoá bao

cấp, thực hiện chế độ công ty, phát huy quyền tự chủ và trách nhiệm của doanh

nghiệp trong kinh doanh.

Kinh tế tư nhân phát triển mạnh, huy động ngày càng tốt hơn các nguồn lực

và tiềm năng trong nhân dân, là một động lực rất quan trọng thúc đẩy tăng trưởng

và phát triển kinh tế. Trong giai đoạn 2006 đến 2011, tổng vốn đầu tư của khu vực

kinh tế tư nhân luôn chiếm khoảng từ 33 đến 38% tổng vốn đầu tư tồn xã hội của

cả nước.

Kinh tế có vốn đầu tư nước ngồi có tốc độ tăng trưởng tương đối cao, trở

thành một bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân; là cầu nối quan

trọng với thế giới về chuyển giao công nghệ, giao thông quốc tế, đóng góp vào

ngân sách nhà nước và tạo việc làm cho nhiều người dân. Tổng vốn ODA cam kết

đạt trên 31 tỉ USD, gấp hơn 1,5 lần so với mục tiêu đề ra; giải ngân ước đạt khoảng

13,8 tỉ USD, vượt 16%. GDP bình quân đầu người đạt 1.168 USD.

Mặc dù khủng hoảng tài chính và suy thối kinh tế toàn cầu, nhưng thu hút

vốn đầu tư nước ngoài vào nước ta đạt cao. Trong 5 năm, tổng vốn FDI thực hiện

đạt gần 45 tỉ USD, vượt 77% so với kế hoạch đề ra. Tổng số vốn đăng ký mới và

tăng thêm ước đạt 150 tỉ USD, gấp hơn 2,7 lần kế hoạch đề ra và gấp hơn 7 lần so

với giai đoạn 2001- 2005.

- Thứ hai: Bối cảnh quốc tế với những ưu thế nổi trội bao gồm: Toàn cầu hố

kinh tế, phát triển kinh tế tri thức, hồ bình, ổn định và hợp tác cùng phát triển giữa

các quốc gia đã tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình cơng nghiệp hố, hiện đại hố

ở Việt Nam.

Trang 10



Trong bối cảnh đó Việt Nam đã và đang theo đuổi và thực hiện chính sách

chủ động hội nhập kinh tế quốc tế theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao

hiện quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa,

bảo vệ lợi ích dân tộc và an ninh quốc gia, giữ gìn bản sắc văn hố dân tộc, bảo vệ

mơi trường. Việc tham gia vào các q trình liên doanh, liên kết, hợp tác song

phương và đa phương, hợp tác khu vực và quốc tế của nước ta góp phần phát huy

hữu hiệu lợi thế so sánh của đất nước, thu hút được những nguồn lực dồi dào về

vốn, kỹ thuật, công nghệ, tri thức, kỹ năng của thế giới cho đẩy mạnh cơng nghiệp

hố, hiện đại hố. Bên cạnh đó việc tham gia tồn cầu hố kinh tế cũng tạo động

lực cho việc đẩy mạnh những cải cách trong nước theo hướng hiện đại phù hợp với

khung khổ chung của quốc tế.

- Thứ ba: Là một nước tiến hành CNH muộn, Việt Nam có thể tận dụng được

những lợi thế của “nước đi sau”. Bên cạnh việc thu hút những nguồn lực vật chất

và trí tuệ quan trọng như nêu trên, các nước đi sau như Việt Nam còn có thể học hỏi

kinh nghiệm phong phú về cơng nghiệp hoá, hiện đại hoá của các nước đi trước.

Một lợi thế nữa của nước đi sau là chúng ta dế chuyển đổi cơ cấu, vì khơng lệ thuộc

vào những cơ sở vật chất đã có (các phí tổn khơng phải là quá lớn để thay đổi

những cái cần thay đổi). Điều này tạo dễ dàng cho chúng ta bắt tay vào phát triển

kinh tế theo các định hướng cơ cấu đã lựa chọn bao gồm cả cơ cấu ngành, cơ cấu

vùng lãnh thổ và cơ cấu thành phần kinh tế.

- Thứ tư: Nước ta có vị trí địa kinh tế thuận lợi, nằm ở trung tâm vùng kinh tế

năng động Đông Nam Á. Thuận lợi cho việc giao lưu và hội nhập kinh tế quốc tế;

nước ta có nguồn tài nguyên thiên nhiên tương đối phong phú để phát triển một số

ngành công nghiệp quan trọng. Đặc biệt nước ta có lực lượng lao động dồi dào, cơ

cấu trẻ, năng lực trí tuệ con người Việt Nam khơng thua kém các nước, tiếp thu

nhanh các tri thức mới, dễ đào tạo có khả năng sáng tạo. Những yếu tố trên tạo nên

lợi thế quan trọng trong cạnh tranh quốc tế, đồng thời tạo điều kiện thuận lợi để

phát triển những ngành , những lĩnh vực hiện đại, có thể theo hướng rút ngắn.

* Khó khăn

Trang 11



- Tăng trưởng kinh tế chưa được đặt trên cơ sở đủ vững chắc, hiệu quả và sức

cạnh tranh chưa cao, trình độ phát triển lực lượng sản xuất thấp, cơ cấu kinh tế

chuyển dịch chậm, lậc hậu và còn nghiêng về hướng nội… là những đặc tính của

nền kinh tế nước ta sau gần 30 năm đổi mới. Thể chế kinh tế thị trường định hướng

xã hội chủ nghĩa mới chỉ đang hình thành, chưa đồng bộ và chưa vận hành tốt, môi

trường kinh doanh chưa bình đẳng và chưa có tính khuyến khích cao. Nói một cách

ngắn gọn nền kinh tế nước ta đang phát triển, đang chuyển đổi. Thực tế này là khó

tranh khỏi đói với một quốc gia đang phát triển, có tính tạm thời và được khắc phụ

dần trong q trình đổi mới, tuy nhiên nó đang là một trở ngại lớn đối với q trình

cơng nghiệp hố, hiện đại hố trong mơi trường cạnh tranh quyết liệt hiện nay.

Trong đó thách thức đặt ra là nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế so với nhiều nước

trong khu vực và trên thế giới.

- Tình hình thế giới ln có những diễn biến nhanh chóng, phức tạp, chứa

đựng những yếu tố khó lường. Việc tham gia ngày càng sâu rộng vào q trình tồn

cầu hố, đặt nền kinh tế Việt nam trước những khó khăn do cạnh tranh gay gắt, sự

dễ bị tổn thương trước các cú xốc từ bên ngoài và những ảnh hưởng mặt trái khác

và những ảnh hưởng "mặt trái" khác của tồn cấu hố kinh tế hiện nay. Nếu chúng

ta khơng có chính sách và biện pháp để hạn chế và vượt qua những khó khăn trên

thì chúng có thể có những tác động mang tính phá huỷ ghê gớm kéo lùi tiến trình

phát triển của đất nước trong nhiều năm.

- Là nước tiến hành cơng nghiệp hố muộn, Việt Nam gặp phải những khó

khăn của nước đi sau. Khó khăn rõ nét là chúng ta phải ở thế bất lợi trong cạnh

tranh quốc tế do năng suất thấp, chất lượng sản phẩm thấp hàm lượng vốn và trí tuệ

trong sản phẩm khơng cao lại thường bị động trong việc tuân thủ các luật lệ quốc

tế. Bên cạnh đó, trong q trình cơng nghiệp hoá, hiện đại hoá, nước ta phải đối

mặt với những vấn đề tài nguyên môi trường, dân số và công ăn việc làm ngày càng

gay gắt. Mức độ suy kiệt tài nguyên thiên nhiên cùng với sự xuống cấp của mơi

trường sống là hệ quả của cơng nghiệp hố, hiện đại hố trên qui mơ tồn cầu,

nhưng người gánh chịu lại chủ yếu là các nước chậm phát triển, trong đó có nước

Trang 12



ta, đó là một khó khăn khơng thể lường hết được. Nó làm cho chi phí của cơng

nghiệp hố, hiện đại hố tăng lên đáng kể, đồng thời làm giảm tính bền vững của

q trình này. Trong khi đó sự gia tăng của dân số của lực lượng lao động nhanh

hơn tốc độ tăng việc làm. Ở nước ta đây là một bài tốn chưa có lời giải hữu hiệu.

1.2. Kinh tế tri thức

1.2.1. Quan niệm về kinh tế tri thức

* Quan niệm trên thế giới về kinh tế tri thức

Trên thế giới hiện nay vẫn đang tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau về kinh tế

tri thức, có thể phân loại một cách tương đối các cách hiểu khác nhau về kinh tế tri

thức vào ba cách tiếp cận sau:

- Cách hiểu kinh tế tri thức dựa trên khía cạnh hẹp về tri thức. Có hai cách:

+ Hiểu "tri thức" với nghĩa hẹp, tức đồng nghĩa tri thức với khoa học và công

nghệ, hoặc đôi khi còn coi "tri thức" chủ yếu là cuộc cách mạng khoa học và cơng

nghệ hiện đại, trong đó 4 cơng nghệ trụ cột là công nghệ thông tin, công nghệ sinh

học, công nghệ vật liệu mới, công nghệ không gian vũ trụ. Cách hiểu này khá phổ

biến ở Mỹ vào cách đây khoảng 7, 8 năm, như có thể thấy qua các tài liệu của

thượng nghị viện Mỹ (2000). Một số nước như Ấn Độ, Philippin cũng đã có lúc

chấp nhận cách hiểu này.

+ Cách tiếp cận ngành - Tách biệt nền kinh tế quốc dân thành hai bộ phận là

khu vực kinh tế tri thức và khu vực kinh tế cũ.

Theo quan niệm này khu vực kinh tế tri thức bao gồm các ngành được gọi là

các ngành dựa trên tri thức (theo phân loại của OECD). Hai khu vực kinh tế này

hoạt động với những cơ chế, qui luật và kết quả khác hẳn nhau. Nền kinh tế tri thức

phát triển tới trình độ càng cao khi các ngành kinh tế dựa trên tri thức chiếm phần

ngày càng lớn trong nền kinh tế. Có hai cột mốc cho thấy nền kinh tế đã chuyển

sang giai đoạn kinh tế tri thức:

Một là, Tỷ trong của khu vực công nghiệp và nông nghiệp lên đến điểm cực

đại và ngày càng giảm đi. Điểm mốc này đã xuất hiện ở các nước tiên tiến nhất

cách đây khoảng 30 năm.

Trang 13



Hai là, Tỷ trọng của các ngành dựa trên tri thức lớn hơn 70% (theo phân loại

của OECD 1996).

- Cách tiếp cận rộng

Cách tiếp cận này dựa trên cách hiểu rộng về tri thức: Tri thức bao gồm mọi

hiểu biết của con người đối với bản thân và thế giới. OECD đã phân ra 4 loại tri

thức quan trọng là biết cái gì, biết tại sao, biết như thế nào, biết ai. Kinh tế tri thức

khơng chỉ có nguồn gốc từ sự tiến bộ vượt bậc của các công nghệ mới mà là kết

quả tập hợp của ba nhóm nguyên nhân trực tiếp tác động tương tác lẫn nhau bao

gồm tiến bộ khoa học kỹ thuật; nền kinh tế tồn cầu hố và cạnh tranh quyết liệt; và

các biến đổi văn hoá, chính trị, tư tưởng của chủ nghĩa tư bản hiện đại. Cách tiếp

cận nà cũng có hai nhánh tiếp cận tương tự nhau:

+ Từ khía cạnh lực lượng sản xuất: Kinh tế tri thức là trình độ phát triển cao

của lực lượng sản xuất.

+ Từ khía cạnh sự đóng góp của tri thức vào phát triển kinh tế. Cách quan

niệm này diễn giải định nghĩa của OECD đã nêu ở trên theo đúng nghĩa đen của nó,

tức là tri thức hay cụ thể hơn là những hoạt động sản xuất, truyền bá và sử dụng tri

thức, đã vượt qua vốn và lao động để trở thành nguồn lực chi phối mọi hoạt động

tạo ra của cải trong nền kinh tế tri thức. Trong đó tri thức là một khái niệm rất rộng

bao trùm mọi hiểu biết của con người.

- Cách tiếp cận bao trùm. Theo cách tiếp cận này kinh tế tri thức thực chất là

một loại môi trường kinh tế - văn hố - xã hội mới có những đặc tính phù hợp và tạo

điều kiện thuận lợi nhất cho việ học hỏi, đổi mới và sáng tạo. Trong mơi trường đó,

tri thức tất yếu trở thành nhân tố sản xuất quan trọng nhất đóng góp vào sự phát triển

kinh tế và hàm lượng tri thức được nâng cao trong mọi hoạt động kinh tế, văn hoá,

xã hội. Do vậy cốt lõi của việc phát triển một nền kinh tế tri thức, không chỉ đơn

thuần là phát triển khoa học - công nghệ mà là phát triển một nền văn hoá đổi mới,

sáng tạo thể hiện trong cách nghĩ, cách làm của mọi tác nhân kinh tế, xã hội để tạo

thuận lợi nhất cho việc sản xuất, khai thác và sử dụng mọi tri thức, mọi loại hiểu biết

của loài người, cũng như xây dựng và phổ biến các năng lực tri thức nội sinh.

Trang 14



Xét theo nghĩa này, kinh tế tri thức có thể được hiểu như một giai đoạn phát

triển mới của toàn bộ nền kinh tế, hoặc nói rộng hơn điều này sẽ dẫn tới một giai

đoạn phát triển mới của xã hội nói chung.

* Cách tiếp cận của Việt Nam về kinh tế tri thức

Ở Việt nam, từ cuối những năm 90 của thế kỷ trước, vấn đề kinh tế tri thức

đã được giới các nhà khoa học, những người hoạch định chính sách, các nhà quản

lý đưa ra bàn luận khá nhiều. Kinh tế tri thức được nhìn nhận dưới nhiều góc độ

khác nhau, với những tầm mức và phạm vi khác nhau.

Trong không ít hội thảo, hội nghị, người ta đã bàn đến khơng ít các định

nghĩa khác nhau về kinh tế tri thức, tuy nhiên trong các vă bản chính thức của đảng

và nhà nước, chưa có văn bản nào nêu ra định nghĩa về kinh tế tri thức. Mặc dù

vậy trong số các định nghĩa về kinh tế tri thức được bàn đến, dường như có một

định nghĩa nổi lên và được cơng nhận bởi nhiều người. Đó là định nghĩa của OECD

và APEC nêu ra năm 2000. Định nghĩa rằng: " Kinh tế tri thức là nền kinh tế trong

đó sự sản sinh ra, truyền bá và sử dụng tri thức là động lực chủ yếu nhất của sự

tăng trưởng, tạo của cải, tạo việc làm trong tất cả các ngành kinh tế".

1.2.2. Đặc trưng của kinh tế tri thức

Thứ nhất, tri thức trở thành nhân tố chủ yếu nhất của nền kinh tế.

Trong kinh tế tri thức, của cải tạo ra dựa vào tri thức nhiều hơn là dạư vào tài

nguyên thiên nhiên và sức lao động cơ bắp, tuy nhiên vốn và các nguồn lực khác

vẫn là những yếu tố rất cơ bản, khong thể xenm nhẹ. Kinh tế tri thức được đặc

trưng bởi sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phát triển ngày càng mạnh các

ngành kinh tế có giá trị gia tăng cao dựa nhiều vào tri thức: đó là các ngành cơng

nghiệp cơng nghệ thông tin, công nghiệp cong nghệ cao, các ngành dịch vụ dựa vào

sử lý thơng tin, tài chính ngân hàng, giáo dục đào tạo, nghiên cứu phát triển công

nghệ và ứng dụng trực tiếp đẻ tạo ra sản phẩm. Do vậy tổng giá trị sản phẩm tăng

nhanh, nhưng tổng tiêu hao nhiên liệu, nguyên liệu, vật tư hầu như không tăng mấy

số lượng người lao động trong khu vực sản xuất vật phẩm hàng hố có xu hướng

ngày càng ít đi, trong khi số người làm việc ở các văn phòng hiện đại đa chức năng

Trang 15



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

I. CỘNG NGHIỆP HÓA – HIỆN ĐẠI HÓA GẮN VỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ TRI THỨC.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×