Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Hứng thú đã phát triển cả về chiều sâu lẫn chiều rộng, mang tính bền vững, phong phú và sâu sắc. Có thái độ tự giác, tích cực, năng động, sẵn sàng khám phá những lĩnh vực mà mình yêu thích, xuất phát từ động cơ đúng đắn trong cuộc sống.

Hứng thú đã phát triển cả về chiều sâu lẫn chiều rộng, mang tính bền vững, phong phú và sâu sắc. Có thái độ tự giác, tích cực, năng động, sẵn sàng khám phá những lĩnh vực mà mình yêu thích, xuất phát từ động cơ đúng đắn trong cuộc sống.

Tải bản đầy đủ - 0trang

37



Trí nhớ phát triển hồn thiện, biết ghi nhớ có hệ thống đảm bảo tính

lơgíc, tư duy chặt chẽ hơn, suy nghĩ sâu sắc và lĩnh hội đầy đủ bản chất của

vấn đề.

+ Sự phát triển nhân cách.

- Phát triển và tồn tại như một thành viên trong xã hội và noi gương

những người trưởng thành làm động lực thúc đẩy bản thân phấn đấu hơn nữa.

- Thể hiện rõ rệt tính tự lập, muốn tách biệt khỏi sự quản lý của gia

đình.

- Có xu hướng hướng ngoại, giao lưu thiết lập mối quan hệ bạn bè, tơn

trọng tình bạn cao cả.

- Thích xây dựng mối quan hệ thân thiết với người khác giới, thích

quan hệ gần gũi với người có học thức, người lớn tuổi, người có kinh nghiệm

sống quý báu để học hỏi, tăng vốn hiểu biết cho bản thân.

+ Sự phát triển về trạng thái tình cảm

- Giàu cảm xúc, nhạy cảm với những vấn đề của bản thân, dễ bị kích

động và đơi khi khơng hồn tồn làm chủ được bản thân mình, có thể sẵn

sàng dùng bạo lực, nhưng cũng nhanh chóng lấy lại bình tĩnh và ln hướng

tới sự hồn thiện.

- Nhìn chung đã biết suy nghĩ và định hướng cho tương lai, biết đúc rút

kinh nghiệm từ những thất bại mắc phải, sống vị tha, nhân ái và đoàn kết với

bạn bè.

+ Sự phát triển trí tuệ

- Đặc điểm nổi bật của thời kỳ này là chú trọng đến hoạt động trí tuệ,

biết hệ thống hoá và trang bị vốn kiến thức cho bản thân làm hành trang bước

vào cuộc sống.

- Thích đọc sách, xem phim, tìm hiểu các thơng tin khoa học và các vấn

đề đòi hỏi tư duy trừu tượng.



38



- Quan tâm sâu sắc đến các hoạt động xã hội, tình hình kinh tế chính trị,

xu hướng phát triển của đất nước trong tương lai.

- Có sự suy nghĩ lựa chọn nghề nghiệp cho tương lai, có sở thích cho

bản thân và năng khiếu thẩm mỹ được nâng cao.

1.6. Cơ sở khoa học đánh giá chất lượng GDTC và thể lực sinh viên

Thể chất là chỉ chất lượng thân thể con người. Đó là những đặc trưng

tương đối ổn định về hình thái và chức năng của cơ thể, được hình thành và

phát triển do bẩm sinh di truyền và điều kiện sống (có giáo dục và rèn luyện).

Thể chất bao gồm thể hình, khả năng chức năng và khả năng thích ứng.

Giáo dục thể chất: Mátvêép L.p, Nơvicốp A.D khái niệm rằng “Giáo

dục thể chất là một quá trình giải quyết những nhiệm vụ giáo dục - giáo

dưỡng nhất định mà đặc điểm của q trình này là có tất cả các dấu hiệu

chung của quá trình sư phạm, hoặc là được thực hiện dưới hình thức tự giáo

dục” [30].

GDTC là một bộ phận quan trọng trong hệ thống giáo dục quốc dân, là

một trong những mục tiêu giáo dục toàn diện thế hệ trẻ trong Nhà trường.

Xuất phát từ mục tiêu cùng với những khái niệm cơ bản của các mặt giáo dục

chung, việc đánh giá chất lượng cũng được xác định bởi khả năng thực hiện

mục tiêu nhiệm vụ của chương trình giáo dục. GDTC là một quá trình có tổ

chức, có mục đích, có kế hoạch để truyền thụ những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo

từ thế hệ này sang thế hệ khác. GDTC là quá trình sư phạm với đầy đủ đặc

điểm của nó, có vai trò chủ đạo của nhà sư phạm, tổ chức hoạt động của nhà

sư phạm phải phù hợp với học sinh, với nguyên tắc sư phạm. GDTC được

chia làm hai mặt tương đối độc lập: dạy học động tác và giáo dục tố chất thể

lực. GDTC được gắn liền với giáo dục trí dục, đức dục, mỹ dục và giáo dục

lao động.



39



Việc kiểm tra đánh giá chất lượng GDTC được áp dụng theo nội dung

cơ bản sau:

- Thời gian học lý thuyết cũng như học thực hành theo thời khóa biểu

của chương trình.

- Kiểm tra trình độ thể lực, thực hiện các yêu cầu theo tiêu chuẩn đẳng

cấp nhằm nâng cao thành tích thể thao và bảo vệ tổ quốc.

- Thực hiện được các bài tập và yêu cầu trong kiểm tra lý luận GDTC

theo chương trình quy định.

1.7. Các Test thể lực

Để đáp ứng được yêu cầu GDTC nội khóa và phát triển thể chất của

sinh viên các trường đại học, cao đẳng phù hợp với từng giai đoạn phát triển

của đất nước. Bộ GD&ĐT đã ban hành quyết định số 3224/GD-ĐT ngày 12

tháng 9 năm 1995 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT về việc ban hành tạm thời bộ

Chương trình giáo dục Đại học đại cương (giai đoạn I) dùng cho các trường

đại học và cao đẳng sư phạm; quyết định số 1262/GD-ĐT ngày 12 tháng 4

năm 1997 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT về việc ban hành Chương trình GDTC

(giai đoạn II) các trường đại học, cao đẳng (không chuyên thể dục, thể thao).

Đồng thời để đánh giá thể lực sinh viên Bộ GD&ĐT ban hành Quyết định số

53/2008/QĐ-BGDĐT ngày 18 tháng 9 năm 2008, bao gồm 6 Test sau: Lực

bóp tay thuận (kg), Nằm ngửa gập bụng 30s (lần), Bật xa tại chỗ (cm), Chạy

30m XPC (s), Chạy con thoi 4x10m (s), Chạy tùy sức 5 phút (m) [46].

Căn cứ vào mục đích, u cầu của chương trình GDTC theo Quyết định

của Bộ GD&ĐT, yêu cầu sinh viên phải đạt các nội dung tiêu chuẩn theo từng

năm học.

Những cơ sở lý luận đánh giá chất lượng giáo dục chung toàn bộ hệ

thống giáo dục quốc dân, việc đánh giá chất lượng GDTC sinh viên được tiến

hành với các nội dung sau:



40



- Kiến thức lý luận về GDTC được quy định theo chương trình;

- Kỹ năng thực hiện kỹ thuật các bộ môn thể thao;

- Thực hiện các Test thể lực theo nội dung tiêu chuẩn thể lực theo năm

học.

Trong đó, nội dung thực hiện các Test thể lực theo tiêu chuẩn rèn luyện

thân thể là một yêu cầu bắt buộc và rất quan trọng trong việc nâng cao thể lực

và chất lượng GDTC trong các trường đại học, cao đẳng và trung cấp chun

nghiệp.

1.8. Một số cơng trình nghiên cứu có liên quan

Có nhiều cơng trình khoa học trên thế giới chứng minh GDTC có khả

năng góp phần bảo vệ và tăng cường sức khỏe cho thế hệ trẻ và thanh niên, là

nhân tố hết sức quan trọng có ảnh hưởng đến khả năng học tập, sáng tạo và

phát triển năng khiếu của họ.

Cùng với các nước Châu Á và các nước trong khu vực, Việt Nam coi

giáo dục là quốc sách hàng đầu, là động lực thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển.

GDTC là một bộ phận hữu cơ của mục tiêu giáo dục và đào tạo, đồng thời là

một mặt của giáo dục toàn diện cho thế hệ trẻ nhằm tạo ra lớp người có năng

lực, phẩm chất, có sức khỏe.

Trong nước những năm gần đây đã có nhiều cơng trình nghiên cứu

khoa học nổi bật về đánh giá thực trạng thể lực và về công tác GDTC trong

HS-SV như:

Vũ Đức Thu - Vũ Bích Huệ (1996), “Thực trạng phát triển thể chất

học sinh - sinh viên” [40].

Nguyễn Thị Việt Hương (1999), “Tìm hiểu năng lực thể chất của sinh

viên nam - nữ khóa 1997 Trường Đại học Khoa học Tự nhiên TP.HCM”. Tác

giả đã sử dụng các test đánh giá thể lực sau: Chạy 30m XPC (giây), lực bóp

tay thuận (kg), bật xa tại chỗ (cm), đứng dẻo gập thân (cm), chạy lượn vòng



41



30m (giây), chạy 1500m (nam) và 800m (nữ) (giây). Qua nghiên cứu tác giả

kết luận: Đánh giá chung về hình thái, thể lực của sinh viên nam - nữ khóa

1997 Trường Đại học Khoa học Tự nhiên TP.HCM có sự phát triển đáng kể so

với những cơng trình nghiên cứu trước đây của Ths. Hồng Cơng Dân (1989 1992) [39].

Lê Văn Lẫm, Vũ Đức Thu, Nguyễn Trọng Hải (2000), “Đánh giá sự

phát triển thể chất của sinh viên thuộc các ngành nghề khác nhau” ở các

Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên, Đại học Sư phạm Đà Nẵng, Đại học

Bách Khoa Hà Nội, Đại học Nông nghiệp I, Đại học Công Nghiệp Thái

Nguyên, Đại học Kỹ thuật Đà Nẵng và khối kỹ thuật Đại học Cần Thơ. Tác

giả đã sử dụng các test đánh giá thể lực sau: Chạy 100m (giây), bật xa tại chỗ

(cm), chạy 1500m (nam) và 800m (nữ) (giây), nằm sấp chống đẩy (30

giây/lần), di chuyển nhặt 10 quả bóng bàn (giây) [26].

Lê Văn Lẫm, Vũ Đức Thu, Nguyễn Trọng Hải, Vũ Bích Huệ (2000),

“Đánh giá thực trạng phát triển thể chất của học sinh - sinh viên trước thềm

thế kỷ XXI”, đã đánh giá một cách tổng quan và tương đối chính xác thực

trạng phát triển thể lực của sinh viên cả nước. Cơng trình nghiên cứu cho rằng

các chỉ số thể lực của học sinh - sinh viên của các trường đều có xu hướng

tăng. Tuy nhiên trong số này có một vài chỉ tiêu đánh giá khả năng vận động

sức bền, sức nhanh có dấu hiệu suy giảm ở năm cuối của quá trình học tập và

rèn luyện của sinh viên các trưởng [27].

Trịnh Quốc Trung (2005), “Nghiên cứu xây dựng một số giải pháp

nâng cao hiệu quả giáo dục thể chất tại Trường Đại học Mở Bán Cơng Thành

phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2003 - 2005” đã chỉ ra thực trạng hình thái và thể

lực của sinh viên năm thứ nhất. Bên cạnh đó tác giả đã thực hiện cải tiến về

nội dung và quy trình lên lớp có kết hợp hoạt động ngoại khóa tại trường

bước đầu đạt được kết quả khả quan [43].



42



Hồng Cơng Dân, Dương Nghiệp Chí (2006), “Xây dựng tiêu chuẩn

rèn luyện thân thể mới cho học sinh và sinh viên Việt Nam” các tác giả đưa ra

các chỉ tiêu là: Chạy 30m xpc (giây), lực bóp tay thuận (kg), bật xa tại chỗ

(cm), nằm ngữa gập thân trong 30 giây (lần), chạy con thoi 4x10m (giây),

chạy 5 phút tùy sức (m) [15].

Nguyễn Phúc Nguyện (2006), “Phong trào TDTT trong một số trường

Đại học công lập ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay: Thực trạng và giải

pháp quản lý”, đã xác hoạt động TDTT trong nhà trường hiện nay đang là

một nhu cầu cấp thiết của sinh viên trong khi điều kiện phát triển còn nhiều

hạn chế và tác giả đã đưa ra một số giải pháp để giải quyết nhu cầu cấp thiết

trên [33].

Đặng Thị Kim Quyên (2007), “Nghiên cứu hiệu quả một số bài tập thể

dục cho sinh viên nữ có thể lực yếu ở Trường Đại học Cần Thơ” đã xác định

cần tiến hành phân loại thể lực sinh viên tồn trường thành các nhóm độc lập

trước khi bắt đầu học chương trình GDTC, điều này tạo điều kiện thuận lợi rất

lớn trong việc giảng dạy và phát triển thể lực một cách phù hợp cho từng

nhóm đối tượng [35].

Tóm lại: Có nhiều cơng trình nghiên cứu về các lĩnh vực về công tác

GDTC trong trường học đã được công bố. Song cho đến hiện nay chưa có đề

tài khoa học nào nghiên cứu về cơng tác GDTC tại Trường Đại học Tiền

Giang, vì vậy chúng tôi đã mạnh dạn chọn nghiên cứu vấn đề này.



43



CHƯƠNG II: PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU

2.1. Phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài chúng tôi tiến hành

sử dụng các phương pháp sau:

2.1.1. Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu [36]

Phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu được sử dụng rộng rãi với

mục đích nhằm tham khảo các tài liệu khoa học, các văn kiện của Đảng, Nhà

nước, Ngành TDTT và các Bộ, ngành có liên quan về cơng tác GDTC. Từ

phân tích tiếp thu và sử dụng các thông tin khoa học liên quan cần thiết, tổng

hợp lại thành những vấn đề cơ bản có tính định hướng cần thiết. Với đề tài

này, sử dụng phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu có liên quan tới vấn

đề nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo, các biện pháp nâng cao chất lượng

giáo dục nói chung và GDTC nói riêng. Lý luận và phương pháp giáo dục

TDTT, tâm lý học TDTT, sinh lý học TDTT, các văn bản, Nghị quyết của

Trung ương Đảng, Thủ tướng Chính phủ, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Văn

hóa Thể thao và Du lịch, các văn bản tổng kết hồ sơ giảng dạy của Trường

Đại học Tiền Giang, từ đó làm cơ sở cho việc lựa chọn và xây dựng các các

bài tập phát triển thể lực chung cho nam sinh viên của trường, nhằm phát triển

thể lực và phần nâng cao chất lượng GDTC cho sinh viên.

2.1.2. Phương pháp phỏng vấn [36]

Cùng với việc thu thập các thông tin từ việc phân tích tài liệu khoa học

chúng tơi còn thu thập các thông tin từ các chuyên gia, các nhà khoa học, các

giảng viên TDTT, các nhà quản lý thơng qua hình thức phỏng vấn trực tiếp và

gián tiếp bằng phiếu hỏi.



44



2.1.3. Phương pháp quan sát sư phạm [36]

Phương pháp này được sử dụng để khảo sát, phân tích đánh giá khách

quan thực trạng GDTC trong sinh viên Trường Đại học Tiền Giang. Đồng thời

sử dụng phương pháp quan sát sư phạm nhằm trực tiếp theo dõi nội dung tập

thể lực chung trong giờ chính khóa của nam sinh viên của trường, bằng cách:

Ghi số lượng các bài tập, số lượng sinh viên trong lớp, cách thức tổ chức và

hướng dẫn giờ học, thời gian tiến hành cho mỗi nội dung tập luyện, các hình

thức bài tập được sử dụng, số lần lặp lại BTTL chung.

2.1.4. Phương pháp kiểm tra sư phạm [36]

Để nghiên cứu thực trạng thể lực sinh viên của trường, chúng tôi tiến

hành kiểm tra lấy số liệu thông qua các test sư phạm theo tiêu chuẩn đánh

giá, xếp loại thể lực học sinh, sinh viên của Bộ GD&ĐT năm 2008 Ban hành

kèm theo quyết định số 53/2008/QĐ-BGDĐT ngày 18 tháng 9 năm 2008 của

Bộ trưởng Bộ GD&ĐT (QĐ 53) [46].

Các test được sử dụng trong đề tài bao gồm:

Chạy 30 m xuất phát cao (giây):

+ Mục đích: Đánh giá sức nhanh.

+ Dụng cụ sân bãi: sân bóng đá (đất cát cồn), đồng hồ bấm giây điện tử

(Casio Japan) có độ chính xác 1/100 giây, cờ, giấy bút ghi chép.

+ Cách tiến hành: Mỗi lần chạy 4 học sinh theo ô riêng. Người thực

hiện trong tư thế xuất phát cao, ở vị trí xuất phát, sau khi nghe lệnh “Chạy”

thì nhanh chóng rời khỏi vạch xuất phát, và chạy nhanh vượt qua vạch đích

(mặt phẳng thẳng đứng ở đích). Kết quả đo được tính bằng giây.

Lực bóp tay thuận (kg):

+ Mục đích: Đánh giá sức mạnh bàn tay.

+ Dụng cụ thiết bị: lực kế bóp tay theo kiểu Collin.



45



+ Cách tiến hành: Người được đo đứng ở tư thế thẳng tự nhiên, tay

thuận duỗi thẳng bên lườn tạo với trục dọc cơ thể 1 góc 45 độ. Lực kế được

đặt trong lòng bàn tay giữa ngón cái và các ngón còn lại. Người được đo dùng

sức mạnh của tay thuận, tập trung vào bàn tay bóp mạnh lực kế mỗi người

được bóp 2 lần.

(Chú ý, mặt có kim của lực kế quay ra ngồi, khi bóp không được vung

tay hoặc tiếp xúc với cơ thể để tìm trợ lực).

- Đánh giá kết quả: Thành tích được tính bằng cách đọc số trên mặt

đồng hồ của lực kế sau khi bóp. Lấy thành tích cao nhất trong 2 lần bóp lực

kế.

Nằm ngửa gập bụng (số lần/30 giây):

+ Mục đích: Để đánh giá sức mạnh cơ bụng.

+ Dụng cụ sân bãi: thảm cao su, đồng hồ bấm giây điện tử (Casio

JanPan) có độ chính xác 1/100 giây, giấy bút ghi chép.

+ Cách tiến hành: đối tượng điều tra ngồi trên thảm, chân co 90 0 ở

khớp gối, bàn chân áp sát sàn, lòng bàn tay áp chặt vào sau đầu, các ngón tay

đan chéo nhau, khủy tay chạm đùi.

Người thứ hai hổ trợ bằng cách ngồi lên mu bàn chân, đối diện với đối

tượng kiểm tra, hai tay giữ ở phần dưới cẳng tay, nhằm không cho bàn chân

đối tượng điều tra tách xa khỏi sàn.

Khi có hiệu lệnh “bắt đầu”đối tượng điều tra ngã ngừơi nằm ngã ngửa

ra, hai bã vai chạm sàn sau đó gập bụng thành ngồi, hai khủy tay chạm đùi,

thực hiện động tác gập thân đến 900. Mỗi lần ngã người, co bụng được tính

một lần. Điều tra viên thứ nhất ra lệnh “bắt đầu”, bấm đồng hồ, đến giây thứ

30, “hô kết thúc”, điều tra viên thứ hai đếm số lần gập bụng.

Yêu cầu đối tượng điều tra làm đúng kỹ thuật và cố gắng thực hiện

được số lần cao nhất trong 30 giây. Mỗi người thực hiện một lần.



46



- Cách lấy kết quả: tính số lần đạt yêu cầu trong 30 giây.

Bật xa tại chỗ (cm):

+ Mục đích: Đánh giá sức mạnh chi dưới của học sinh.

+ Dụng cụ sân bãi: Thước dây, hố cát, cờ, giấy bút ghi chép.

+ Cách tiến hành: Người thực hiện đứng sát mép ván giậm nhảy, hai

chân rộng bằng vai, hai tay thả lỏng, hơi khuỵu gối xuống, hai tay vun lên cao

- xuống dưới ra sau để tạo đà và phối hợp vung tay bật nhảy về phía trước

(khơng ngã hoặc chống tay về phía sau). Mỗi người được bật nhảy 2 lần.

+ Đánh giá kết quả: Thành tích được tính từ mép ván (vạch) giậm nhảy

đến gót chân gần nhất so với ván (vạch) giậm nhảy. Kết quả đo được tính

bằng cm, ở lần có kết quả tốt nhất.

Chạy 5 phút tùy sức (m):

+ Mục đích: Để đánh giá sức bền chung (sức bền ưa khí).

+ Dụng cụ sân bãi: Đường chạy tối thiểu dài 50m, rộng ít nhất 2m, hai

đầu kẻ hai đường giới hạn, phía ngồi hai giới hạn có khoảng trống ít nhất

1m, để chạy quay vòng. Giữa đầu đường chạy (tim đường) đặt vật chuẩn để

quay vòng. Trên đoạn 50m đánh dấu từng đoạn 10m để xác định phần lẻ của

quảng đường (5m) sau khi hết thời gian chạy.

+ Cách tiến hành: Khi có lệnh “chạy” đối tượng đều tra chạy trong ơ

chạy, hết đoạn đường 50m, vòng (bên trái) qua vật chuẩn chạy lập lại trong

vòng thới gian 5 phút. Người chạy nên chạy từ từ ở những phút đầu, phân

phối đều và tùy theo sức của mình mà tăng tốc dần. Nếu mệt có thể chuyển

dần thành đi bộ cho đến hết giờ. Mỗi đối tượng điều tra có một số đeo ở ngực

và tay cầm tích-kê có số tương ứng. Khi có lệnh dừng chạy, lập tức thả ngay

tích-kê của mình xuống ngay chân tiếp đất để đánh dấu số lẻ quảng đường

chạy, sau đó chạy chậm dần hoặc đi bộ thả lỏng để lấy lại sức. Đơn vị đo

quãng đường chạy là mét.



47



Chạy con thoi 4 x10m (giây):

+ Mục đích: Đánh giá sự nhanh nhẹn khéo léo trong chạy có chuyển

hướng.

+ Dụng cụ sân bãi: Trên mặt sân bằng phẳng kẻ hai vạch vôi song song

cách nhau 10m. Đồng hồ bấm giây điện tử (Casio Japan) có độ chính xác

1/100 giây, cờ, biên bản chạy, giấy bút ghi chép.

+ Cách tiến hành: Mỗi lần chạy một sinh viên. Người thực hiện ở tư thế

xuất phát cao tại vạch xuất phát, sau khi nghe lệnh “Chạy” thì nhanh chóng

rời khỏi vị trí và chạy nhanh đến giẫm lên vạch vơi được kẻ ở phía bên kia,

sau đó quay lại chạy nhanh về giẫm lên vạch xuất phát củ và làm giống như

vậy lần nữa để về đích. Mỗi người chỉ chạy một lần (sơ đồ 2.1).

+ Cách lấy kết quả: Thành tích được tính bằng thời gian chạy từ vạch

vôi xuất phát đến qua mặt phẳng đích (40m) gồm bốn lần (mỗi lần 10m). Kết

quả đo được tính bằng giây.



Xuất phát



10m

1 lần



2 lần



3 lần

4 lần về

đích



Sơ đồ 2.1. Chạy con thoi 4 x 10m.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Hứng thú đã phát triển cả về chiều sâu lẫn chiều rộng, mang tính bền vững, phong phú và sâu sắc. Có thái độ tự giác, tích cực, năng động, sẵn sàng khám phá những lĩnh vực mà mình yêu thích, xuất phát từ động cơ đúng đắn trong cuộc sống.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×