Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
- Có sự suy nghĩ lựa chọn nghề nghiệp cho tương lai, có sở thích cho bản thân và năng khiếu thẩm mỹ được nâng cao.

- Có sự suy nghĩ lựa chọn nghề nghiệp cho tương lai, có sở thích cho bản thân và năng khiếu thẩm mỹ được nâng cao.

Tải bản đầy đủ - 0trang

39



Việc kiểm tra đánh giá chất lượng GDTC được áp dụng theo nội dung

cơ bản sau:

- Thời gian học lý thuyết cũng như học thực hành theo thời khóa biểu

của chương trình.

- Kiểm tra trình độ thể lực, thực hiện các yêu cầu theo tiêu chuẩn đẳng

cấp nhằm nâng cao thành tích thể thao và bảo vệ tổ quốc.

- Thực hiện được các bài tập và yêu cầu trong kiểm tra lý luận GDTC

theo chương trình quy định.

1.7. Các Test thể lực

Để đáp ứng được yêu cầu GDTC nội khóa và phát triển thể chất của

sinh viên các trường đại học, cao đẳng phù hợp với từng giai đoạn phát triển

của đất nước. Bộ GD&ĐT đã ban hành quyết định số 3224/GD-ĐT ngày 12

tháng 9 năm 1995 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT về việc ban hành tạm thời bộ

Chương trình giáo dục Đại học đại cương (giai đoạn I) dùng cho các trường

đại học và cao đẳng sư phạm; quyết định số 1262/GD-ĐT ngày 12 tháng 4

năm 1997 của Bộ trưởng Bộ GD&ĐT về việc ban hành Chương trình GDTC

(giai đoạn II) các trường đại học, cao đẳng (không chuyên thể dục, thể thao).

Đồng thời để đánh giá thể lực sinh viên Bộ GD&ĐT ban hành Quyết định số

53/2008/QĐ-BGDĐT ngày 18 tháng 9 năm 2008, bao gồm 6 Test sau: Lực

bóp tay thuận (kg), Nằm ngửa gập bụng 30s (lần), Bật xa tại chỗ (cm), Chạy

30m XPC (s), Chạy con thoi 4x10m (s), Chạy tùy sức 5 phút (m) [46].

Căn cứ vào mục đích, u cầu của chương trình GDTC theo Quyết định

của Bộ GD&ĐT, yêu cầu sinh viên phải đạt các nội dung tiêu chuẩn theo từng

năm học.

Những cơ sở lý luận đánh giá chất lượng giáo dục chung toàn bộ hệ

thống giáo dục quốc dân, việc đánh giá chất lượng GDTC sinh viên được tiến

hành với các nội dung sau:



40



- Kiến thức lý luận về GDTC được quy định theo chương trình;

- Kỹ năng thực hiện kỹ thuật các bộ môn thể thao;

- Thực hiện các Test thể lực theo nội dung tiêu chuẩn thể lực theo năm

học.

Trong đó, nội dung thực hiện các Test thể lực theo tiêu chuẩn rèn luyện

thân thể là một yêu cầu bắt buộc và rất quan trọng trong việc nâng cao thể lực

và chất lượng GDTC trong các trường đại học, cao đẳng và trung cấp chun

nghiệp.

1.8. Một số cơng trình nghiên cứu có liên quan

Có nhiều cơng trình khoa học trên thế giới chứng minh GDTC có khả

năng góp phần bảo vệ và tăng cường sức khỏe cho thế hệ trẻ và thanh niên, là

nhân tố hết sức quan trọng có ảnh hưởng đến khả năng học tập, sáng tạo và

phát triển năng khiếu của họ.

Cùng với các nước Châu Á và các nước trong khu vực, Việt Nam coi

giáo dục là quốc sách hàng đầu, là động lực thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển.

GDTC là một bộ phận hữu cơ của mục tiêu giáo dục và đào tạo, đồng thời là

một mặt của giáo dục toàn diện cho thế hệ trẻ nhằm tạo ra lớp người có năng

lực, phẩm chất, có sức khỏe.

Trong nước những năm gần đây đã có nhiều cơng trình nghiên cứu

khoa học nổi bật về đánh giá thực trạng thể lực và về công tác GDTC trong

HS-SV như:

Vũ Đức Thu - Vũ Bích Huệ (1996), “Thực trạng phát triển thể chất

học sinh - sinh viên” [40].

Nguyễn Thị Việt Hương (1999), “Tìm hiểu năng lực thể chất của sinh

viên nam - nữ khóa 1997 Trường Đại học Khoa học Tự nhiên TP.HCM”. Tác

giả đã sử dụng các test đánh giá thể lực sau: Chạy 30m XPC (giây), lực bóp

tay thuận (kg), bật xa tại chỗ (cm), đứng dẻo gập thân (cm), chạy lượn vòng



41



30m (giây), chạy 1500m (nam) và 800m (nữ) (giây). Qua nghiên cứu tác giả

kết luận: Đánh giá chung về hình thái, thể lực của sinh viên nam - nữ khóa

1997 Trường Đại học Khoa học Tự nhiên TP.HCM có sự phát triển đáng kể so

với những cơng trình nghiên cứu trước đây của Ths. Hồng Cơng Dân (1989 1992) [39].

Lê Văn Lẫm, Vũ Đức Thu, Nguyễn Trọng Hải (2000), “Đánh giá sự

phát triển thể chất của sinh viên thuộc các ngành nghề khác nhau” ở các

Trường Đại học Sư phạm Thái Nguyên, Đại học Sư phạm Đà Nẵng, Đại học

Bách Khoa Hà Nội, Đại học Nông nghiệp I, Đại học Công Nghiệp Thái

Nguyên, Đại học Kỹ thuật Đà Nẵng và khối kỹ thuật Đại học Cần Thơ. Tác

giả đã sử dụng các test đánh giá thể lực sau: Chạy 100m (giây), bật xa tại chỗ

(cm), chạy 1500m (nam) và 800m (nữ) (giây), nằm sấp chống đẩy (30

giây/lần), di chuyển nhặt 10 quả bóng bàn (giây) [26].

Lê Văn Lẫm, Vũ Đức Thu, Nguyễn Trọng Hải, Vũ Bích Huệ (2000),

“Đánh giá thực trạng phát triển thể chất của học sinh - sinh viên trước thềm

thế kỷ XXI”, đã đánh giá một cách tổng quan và tương đối chính xác thực

trạng phát triển thể lực của sinh viên cả nước. Cơng trình nghiên cứu cho rằng

các chỉ số thể lực của học sinh - sinh viên của các trường đều có xu hướng

tăng. Tuy nhiên trong số này có một vài chỉ tiêu đánh giá khả năng vận động

sức bền, sức nhanh có dấu hiệu suy giảm ở năm cuối của quá trình học tập và

rèn luyện của sinh viên các trưởng [27].

Trịnh Quốc Trung (2005), “Nghiên cứu xây dựng một số giải pháp

nâng cao hiệu quả giáo dục thể chất tại Trường Đại học Mở Bán Cơng Thành

phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2003 - 2005” đã chỉ ra thực trạng hình thái và thể

lực của sinh viên năm thứ nhất. Bên cạnh đó tác giả đã thực hiện cải tiến về

nội dung và quy trình lên lớp có kết hợp hoạt động ngoại khóa tại trường

bước đầu đạt được kết quả khả quan [43].



42



Hồng Cơng Dân, Dương Nghiệp Chí (2006), “Xây dựng tiêu chuẩn

rèn luyện thân thể mới cho học sinh và sinh viên Việt Nam” các tác giả đưa ra

các chỉ tiêu là: Chạy 30m xpc (giây), lực bóp tay thuận (kg), bật xa tại chỗ

(cm), nằm ngữa gập thân trong 30 giây (lần), chạy con thoi 4x10m (giây),

chạy 5 phút tùy sức (m) [15].

Nguyễn Phúc Nguyện (2006), “Phong trào TDTT trong một số trường

Đại học công lập ở thành phố Hồ Chí Minh hiện nay: Thực trạng và giải

pháp quản lý”, đã xác hoạt động TDTT trong nhà trường hiện nay đang là

một nhu cầu cấp thiết của sinh viên trong khi điều kiện phát triển còn nhiều

hạn chế và tác giả đã đưa ra một số giải pháp để giải quyết nhu cầu cấp thiết

trên [33].

Đặng Thị Kim Quyên (2007), “Nghiên cứu hiệu quả một số bài tập thể

dục cho sinh viên nữ có thể lực yếu ở Trường Đại học Cần Thơ” đã xác định

cần tiến hành phân loại thể lực sinh viên tồn trường thành các nhóm độc lập

trước khi bắt đầu học chương trình GDTC, điều này tạo điều kiện thuận lợi rất

lớn trong việc giảng dạy và phát triển thể lực một cách phù hợp cho từng

nhóm đối tượng [35].

Tóm lại: Có nhiều cơng trình nghiên cứu về các lĩnh vực về công tác

GDTC trong trường học đã được công bố. Song cho đến hiện nay chưa có đề

tài khoa học nào nghiên cứu về cơng tác GDTC tại Trường Đại học Tiền

Giang, vì vậy chúng tôi đã mạnh dạn chọn nghiên cứu vấn đề này.



43



CHƯƠNG II: PHƯƠNG PHÁP VÀ TỔ CHỨC NGHIÊN CỨU

2.1. Phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết các nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài chúng tôi tiến hành

sử dụng các phương pháp sau:

2.1.1. Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu [36]

Phương pháp tổng hợp và phân tích tài liệu được sử dụng rộng rãi với

mục đích nhằm tham khảo các tài liệu khoa học, các văn kiện của Đảng, Nhà

nước, Ngành TDTT và các Bộ, ngành có liên quan về cơng tác GDTC. Từ

phân tích tiếp thu và sử dụng các thông tin khoa học liên quan cần thiết, tổng

hợp lại thành những vấn đề cơ bản có tính định hướng cần thiết. Với đề tài

này, sử dụng phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu có liên quan tới vấn

đề nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo, các biện pháp nâng cao chất lượng

giáo dục nói chung và GDTC nói riêng. Lý luận và phương pháp giáo dục

TDTT, tâm lý học TDTT, sinh lý học TDTT, các văn bản, Nghị quyết của

Trung ương Đảng, Thủ tướng Chính phủ, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Văn

hóa Thể thao và Du lịch, các văn bản tổng kết hồ sơ giảng dạy của Trường

Đại học Tiền Giang, từ đó làm cơ sở cho việc lựa chọn và xây dựng các các

bài tập phát triển thể lực chung cho nam sinh viên của trường, nhằm phát triển

thể lực và phần nâng cao chất lượng GDTC cho sinh viên.

2.1.2. Phương pháp phỏng vấn [36]

Cùng với việc thu thập các thông tin từ việc phân tích tài liệu khoa học

chúng tơi còn thu thập các thông tin từ các chuyên gia, các nhà khoa học, các

giảng viên TDTT, các nhà quản lý thơng qua hình thức phỏng vấn trực tiếp và

gián tiếp bằng phiếu hỏi.



44



2.1.3. Phương pháp quan sát sư phạm [36]

Phương pháp này được sử dụng để khảo sát, phân tích đánh giá khách

quan thực trạng GDTC trong sinh viên Trường Đại học Tiền Giang. Đồng thời

sử dụng phương pháp quan sát sư phạm nhằm trực tiếp theo dõi nội dung tập

thể lực chung trong giờ chính khóa của nam sinh viên của trường, bằng cách:

Ghi số lượng các bài tập, số lượng sinh viên trong lớp, cách thức tổ chức và

hướng dẫn giờ học, thời gian tiến hành cho mỗi nội dung tập luyện, các hình

thức bài tập được sử dụng, số lần lặp lại BTTL chung.

2.1.4. Phương pháp kiểm tra sư phạm [36]

Để nghiên cứu thực trạng thể lực sinh viên của trường, chúng tôi tiến

hành kiểm tra lấy số liệu thông qua các test sư phạm theo tiêu chuẩn đánh

giá, xếp loại thể lực học sinh, sinh viên của Bộ GD&ĐT năm 2008 Ban hành

kèm theo quyết định số 53/2008/QĐ-BGDĐT ngày 18 tháng 9 năm 2008 của

Bộ trưởng Bộ GD&ĐT (QĐ 53) [46].

Các test được sử dụng trong đề tài bao gồm:

Chạy 30 m xuất phát cao (giây):

+ Mục đích: Đánh giá sức nhanh.

+ Dụng cụ sân bãi: sân bóng đá (đất cát cồn), đồng hồ bấm giây điện tử

(Casio Japan) có độ chính xác 1/100 giây, cờ, giấy bút ghi chép.

+ Cách tiến hành: Mỗi lần chạy 4 học sinh theo ô riêng. Người thực

hiện trong tư thế xuất phát cao, ở vị trí xuất phát, sau khi nghe lệnh “Chạy”

thì nhanh chóng rời khỏi vạch xuất phát, và chạy nhanh vượt qua vạch đích

(mặt phẳng thẳng đứng ở đích). Kết quả đo được tính bằng giây.

Lực bóp tay thuận (kg):

+ Mục đích: Đánh giá sức mạnh bàn tay.

+ Dụng cụ thiết bị: lực kế bóp tay theo kiểu Collin.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

- Có sự suy nghĩ lựa chọn nghề nghiệp cho tương lai, có sở thích cho bản thân và năng khiếu thẩm mỹ được nâng cao.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×