Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng 2.6: Phân tích các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả tổng hợp

Bảng 2.6: Phân tích các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả tổng hợp

Tải bản đầy đủ - 0trang

1



PH N M

1.



Đ U



Tính c p thi t c a đ tài

Dệt may là một ngành chủ lực của công nghiệp thành phố Đà Nẵng, thu



hút nhiều lao động nhất, đặc biệt là lao động nữ. Sản lượng của ngành dệt

may cũng chiếm một tỷ trọng đáng kể trong sản lượng của ngành công

nghiệp. Theo thoả thuận hạn ngạch dệt may Việt Nam – EU, ngày 1/1/2005

EU bãi bỏ hạn ngạch cho dệt may Việt Nam. Từ ngày 11/1/2007, khi Việt

Nam tr thành thành viên của tổ chức Thương Mại thế giới (WTO), thì dệt

may Việt Nam chính thức được đối xử bình đẳng như các thành viên khác của

tổ chức này. Với việc bãi bỏ hạn ngạch đã m ra cho dệt may Việt Nam nói

chung và dệt may Đà Nẵng nói riêng rất nhiều cơ hội nhưng cũng đầy khó

khăn và thách thức. Trong khi đó, ngành dệt may cả nước nói chung và dệt

may Đà Nẵng nói riêng vẫn bị đánh giá là còn nhiều yếu kém, khả năng cạnh

tranh trong nước và quốc tế thấp. Trước tình hình này các doanh nghiệp dệt

may rất cần vốn để sản xuất và phát triển.

Hiệu quả tài chính là hiệu quả của việc gìn giữ và phát triển nguồn vốn

chủ s hữu (VCSH). Hiệu quả tài chính cao tức là lợi nhuận sinh ra từ việc sử

dụng nguồn VCSH cao. Phân tích hiệu quả tài chính của doanh nghiệp sẽ giúp

các nhà quản trị định hướng đúng để đầu tư và điều chỉnh nguồn vốn của

doanh nghiệp một cách phù hợp. Hiệu quả tài chính cao cũng là một yếu tố

quan trọng thu hút vốn của các nhà đầu tư. Tóm lại hiệu quả tài chính là mục

tiêu chủ yếu của các nhà quản trị, nhất là trong trư ng hợp họ cũng là ngư i

chủ và có vốn đầu tư.

Việc phân tích hiệu quả tài chính quan trọng đối với ngành dệt may là

vậy, song hiện nay trên thực tế các doanh nghiệp dệt may Đà Nẵng lại chưa

chú trọng việc phân tích vấn đề này. Các doanh nghiệp nhỏ thì khơng tiến

hành phân tích; các doanh nghiệp lớn mặc dù có quan tâm, có nhận thấy tầm



2



quan trọng của việc phân tích nhưng còn lúng túng trong việc tổ chức phân

tích; đối với các doanh nghiệp đã cổ phần hố thì chưa chú trọng phân tích

các chỉ tiêu mang tính đặc thù của cơng ty cổ phần (CTCP). Do đó, các thơng

tin cung cấp từ việc phân tích chưa thực sự thuyết phục, hữu ích cho các nhà

quản trị, khơng có sức thu hút cao đối với các nhà đầu tư.

Trong th i gian ngắn tới đây, các CTCP dệt may (chủ yếu là các doanh

nghiệp dệt may lớn của thành phố) sẽ niêm yết trên thị trư ng chứng khốn

thì thơng tin từ việc phân tích tài chính nói chung và phân tích hiệu quả tài

chính nói riêng càng đóng vai trò quan trọng.

Xuất phát từ thực tiễn này của ngành dệt may Thành phố Đà Nẵng, tác

giả đã lựa chọn đề tài "Phân tích hiệu quả tài chính các doanh nghiệp dệt may

trên địa bàn thành phố Đà Nẵng" để làm luận văn tốt nghiệp.

2.



Mục đích nghiên c u c a đ tài

Luận văn hệ thống hố những vấn đề lý luận về phân tích hiệu quả tài



chính doanh nghiệp.

Khảo sát, đánh giá cơng tác phân tích hiệu quả tài chính tại các doanh

nghiệp dệt may Thành phố Đà Nẵng, qua đó đề xuất một số biện pháp nhằm

hoàn thiện về nội dung và phương pháp phân tích hiệu quả tài chính phù hợp

với đặc thù của các doanh nghiệp dệt may



Đà Nẵng trong cơ chế thị trư ng,



từ đó đáp ứng nhu cầu cung cấp thơng tin hữu ích cho các đối tượng quan

tâm.

3.



Đ i t ợng và ph m vi nghiên c u

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là cơ s lý luận và thực trạng phân



tích hiệu quả tài chính tại các doanh nghiệp dệt may Đà Nẵng

Tính đến 31 tháng 12 năm 2008, trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng có

24 doanh nghiệp dệt và 52 doanh nghiệp may. Tuy nhiên trong luận văn, tác

giả chỉ chọn nghiên cứu 6 doanh nghiệp dệt may có giá trị sản xuất cơng



3



nghiệp lớn (giá trị sản xuất của 6 doanh nghiệp này trong giai đoạn 2005 –

2008 chiếm khoảng 80% - 90% giá trị sản xuất cơng nghiệp tồn ngành dệt

may thành phố); hoạt động ổn định từ năm 2005 đến 2008 và đang tiếp tục

hoạt động trong năm 2009, 2010; và đã đăng ký kinh doanh tại S Kế hoạch Đầu tư. Luận văn minh họa số liệu từ năm 2005 đến năm 2009.

4.



Ph



ng pháp nghiên c u



Luận văn sử dụng các phương pháp:

- Các phương pháp thư ng dùng trong phân tích hoạt động kinh doanh

như: phương pháp so sánh, phương pháp chi tiết, phương pháp loại trừ

- Phương pháp diễn giải, phương pháp quy nạp

- Phương pháp phỏng vấn trực tiếp kế toán trư ng, ban giám đốc và các

bộ phận liên quan.

5.



Nh ng đóng góp c a lu n vĕn

Luận văn hệ thống hoá những vấn đề lý luận về phân tích hiệu quả tài



chính doanh nghiệp.

Luận văn đã khảo sát cơng tác phân tích hiệu quả tài chính tại các

doanh nghiệp dệt may Đà Nẵng, qua đó chỉ ra những ưu nhược điểm về cơng

tác phân tích hiệu quả tài chính tại các doanh nghiệp này.

Định hướng tổ chức cơng tác phân tích hiệu quả tài chính tại các doanh

nghiệp dệt may Đà Nẵng và đưa ra các giải pháp nhằm hồn thiện cơng tác

phân tích hiệu quả tài chính tại các doanh nghiệp trên về mặt tổ chức, phương

pháp và nội dung phân tích.

6.



K t c u c a đ tài

Ngoài các phần m đầu, kết luận và phục lục, luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ s lý luận về phân tích hiệu quả tài chính doanh nghiệp.



4



Chương 2: Thực trạng phân tích hiệu quả tài chính



các doanh nghiệp



dệt may tại thành phố Đà Nẵng.

Chương 3: Một số giải pháp nhằm hồn thiện cơng tác phân tích hiệu

quả tài chính



các doanh nghiệp dệt may tại thành phố Đà Nẵng.



5



Ch

C



S



ng 1



LÝ LU N V PHÂN TÍCH HI U QU

TÀI CHÍNH DOANH NGHI P



1.1.



Khái quát v hi u qu , hi u qu tài chính doanh nghi p



1.1.1. Khái niệm về hiệu quả

Theo các nhà ngôn ngữ học, khái niệm hiệu quả được hiểu là “kết quả

như yêu cầu của việc làm mang lại” [13, tr. 440]. Nhưng theo từ điển Lepetit

Lasousse định nghĩa "Hiệu quả là kết quả đạt được trong việc thực hiện một

nhiệm vụ nhất định" [18, tr. 57]. Như vậy, bản chất của hiệu quả chính là kết

quả của lao động xã hội, được xác định trong mối quan hệ so sánh lượng kết

quả hữu ích cuối cùng thu được với lượng hao phí lao động xã hội. Do vậy,

thước đo hiệu quả là sự tiết kiệm hao phí lao động xã hội và tiêu chuẩn của

hiệu quả là tối đa hóa kết quả dựa trên các nguồn lực sẵn có.

Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế tổng hợp được tạo thành

b i tất cả các yếu tố của quá trình sản xuất kinh doanh, nên cần phải xem xét

hiệu quả kinh doanh trên cả hai mặt đó là hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội.

Hiệu quả xã hội phản ánh những lợi ích về mặt xã hội đạt được từ quá

trình hoạt động kinh doanh. Hiệu quả xã hội của hoạt động sản xuất là việc

sản xuất, chế tạo ra các sản phẩm ngày càng tốt hơn về chất lượng, chủng loại

đa dạng, số lượng nhiều đáp ứng nhu cầu vật chất, văn hoá tinh thần cho xã

hội góp phần vào việc cân đối cung cầu, bình ổn giá cả thị trư ng, m rộng

giao lưu văn hoá giữa các vùng miền, lãnh thổ hoặc các quốc gia. Bên cạnh

đó, hoạt động sản xuất ngày một m rộng phát triển giúp tạo công ăn việc làm

nhằm giải quyết thất nghiệp, từ đó kéo theo giảm các tệ nạn xã hội do khơng

có việc làm từ đó cuộc sống được cải thiện và môi trư ng lành mạnh hơn.



6



Xét gốc độ thuật ngữ chuyên môn, hiểu hiệu quả theo nghĩa kinh tế nó

là “ Mối quan hệ giữa các yếu tố đầu vào khan hiếm với đầu ra hàng hố và

dịch vụ, có thể được đo lư ng theo hiện vật gọi là hiệu quả kỹ thuật hoặc theo

chi phí thì được gọi là hiệu quả kinh tế. Khái niệm hiệu quả kinh tế được dùng

như một tiêu chuẩn để xem xét các tài nguyên được thị trư ng phân phối như

thế nào” [14, tr. 224]. Hiệu quả kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn

lực của doanh nghiệp hoặc xã hội để đạt được kết quả cao nhất với chi phí

thấp nhất. Hiệu quả kinh tế là sự so sánh giữa kết quả đạt được với chi phí bỏ

ra để đạt được kết quả đó. Hiệu quả kinh tế chủ yếu được phản ánh thông qua

chỉ tiêu lợi nhuận đạt được từ hoạt động của doanh nghiệp.

Hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội có mối quan hệ mật thiết, ảnh

hư ng và tác động lẫn nhau. Nó vừa thống nhất vừa có mâu thuẫn. Hiệu quả

kinh tế vì có thể đo lư ng bằng các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả nên dễ xác định

mức độ tổng hợp hoặc đặc thù. Hiệu quả xã hội khó xác định bằng các chỉ

tiêu cụ thể mà chỉ có thể đánh giá thơng qua những biểu hiện của đ i sống xã

hội của một địa phương, vùng lãnh thổ hoặc trong phạm vi nền kinh tế quốc

dân. Do vậy khi đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp sản xuất

thư ng đề cập đến hiệu quả kinh tế và phân tích đan xen cùng hiệu quả xã

hội.

Hiệu quả kinh tế có thể xem xét theo hai quan điểm sau:

Quan điểm thứ nhất [12]: Hiệu quả được xem xét trên quan điểm biến

đổi của đầu vào thành đầu ra:

K = đầu ra : đầu vào

Trong đó, “đầu ra” bao gồm các chỉ tiêu phản ánh kết quả hoạt động

của doanh nghiệp trong một kỳ như: doanh thu, thu nhập, giá trị sản xuất...

“Đầu vào” phản ánh các nguồn tài nguyên mà doanh nghiệp đã huy động như:



7



các loại tài sản ngắn hạn, tài sản dài hạn... Theo quan điểm này, hiệu quả

được xác định bằng chỉ tiêu tương đối. Khi so sánh giá trị kết quả thu được so

với các giá trị nguồn lực đã tiêu hao để tạo ra kết quả và tính tốn hiệu quả

cần phải có sự phù hợp về th i kỳ của số liệu đầu ra và đầu vào để loại bỏ sự

biến động mang tính th i điểm do đặc thù kinh doanh của từng doanh nghiệp.

Trong trư ng hợp khơng có số liệu bình qn thì có thể sử dụng số liệu tại

một th i điểm để phân tích. Trư ng hợp này gọi là nghiên cứu theo trạng thái

tĩnh.

Quan điểm thứ hai [7]: Hiệu quả được xem xét trong mối quan hệ xác

suất hoạt động an toàn của doanh nghiệp, đây chính là các quan điểm về rủi ro

trong hoạt động của doanh nghiệp.

Các doanh nghiệp sản xuất, hoạt động cuối cùng cũng vì mục tiêu lợi

nhuận với mức rủi ro có thể chấp nhận được. Các doanh nghiệp cần có sự kết

hợp hài hồ giữa mục tiêu tăng lợi nhuận với hạn chế rủi ro. Khả năng sinh l i

của doanh nghiệp là mục tiêu quan trọng hơn vì thu nhập cao giúp bảo tồn và

phát triển vốn, tăng giá trị của doanh nghiệp. Hơn nữa, mục đích cuối cùng

của chủ s hữu, nhà quản trị là đảm bảo sự giàu có, tăng trư ng tài sản của

doanh nghiệp.

1.1.2. Khái niệm về hiệu quả tài chính doanh nghiệp

Trước khi hiểu về hiệu quả tài chính doanh nghiệp, cần phải hiểu về tài

chính doanh nghiệp.

Bản chất của tài chính doanh nghiệp là hệ thống các quan hệ kinh tế

biểu hiện dưới hình thái giá trị phát sinh trong quá trình hình thành và sử

dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp để phục vụ cho mục đích sản xuất kinh

doanh của doanh nghiệp và các nhu cầu chung của xã hội.



8



Hay nói cách khác, tài chính doanh nghiệp là những mối quan hệ tiền tệ

gắn trực tiếp với việc tổ chức, huy động, phân phối, sử dụng và quản lý vốn

trong quá trình kinh doanh

Trên thực tế hiện nay, khi hiểu về hiệu quả tài chính doanh nghiệp có

hai quan điểm

Quan điểm thứ nhất: hiệu quả tài chính doanh nghiệp là hiệu quả của

việc huy động, quản lý và sử dụng vốn trong quá trình kinh doanh. Nếu đứng

trên quan điểm này thì phân tích hiệu quả tài chính là phân tích hiệu quả của

việc huy động, quản lý và sử dụng vốn.

Quan điểm thứ hai: hiệu quả tài chính chỉ là hiệu quả của việc huy động

vốn, còn hiệu quả của việc quản lý và sử dụng vốn là hiệu quả kinh doanh.

Nếu đứng trên quan điểm này thì phân tích hiệu quả tài chính là phân tích

hiệu quả của việc huy động nguồn tài trợ.

Xuất phát từ khái niệm về tài chính doanh nghiệp là mối quan hệ tiền tệ

gắn liền với việc huy động, phân phối, sử dụng và quản lý vốn; trong luận văn

này, hiệu quả tài chính được hiểu theo quan điểm thư nhất. Cụ thể: hiệu quả

tài chính trước hết là hiệu quả của việc huy động vốn; hiệu quả tài chính còn

là hiệu quả của việc quản lý và sử dụng vốn kinh doanh, đó chính là hiệu quả

của việc quản lý và sử dụng tài sản trong doanh nghiệp.

Khi xem xét trên góc độ những chủ s hữu, mục đích cuối cùng của

những ngư i này hiệu quả trong việc sử dụng đồng vốn của họ - vốn chủ s

hữu. Như vậy, hiệu quả tài chính xét cho cùng là hiệu quả của việc gìn giữ và

phát triển VCSH. Một doanh nghiệp có hiệu quả tài chính cao chính là điều

kiện cho doanh nghiệp tăng trư ng. Vì khi hiệu quả tài chính cao tức là lợi

nhuận sinh ra từ việc sử dụng nguồn VCSH cao làm cho nhà đầu tư dễ dàng

chấp nhận để lại phần lớn lợi nhuận vào việc đầu tư, và như vậy doanh nghiệp



9



có điều kiện để bổ sung thêm các phương tiện kinh doanh. Ngồi ra, hiệu quả

tài chính cao sẽ đảm bảo an tồn cho doanh nghiệp trong mơi trư ng tài

chính, vì đối với ngư i cho vay thì lợi nhuận như là một giao ước, một đảm

bảo đối với sự thay đổi của những điều kiện kinh doanh. Do vậy, hiệu quả tài

chính là mục tiêu chủ yếu của các nhà quản trị, nhất là trong trư ng hợp họ

cũng là ngư i chủ và có vốn đầu tư.

Nghiên cứu hiệu quả tài chính nhằm đánh giá sự tăng trư ng của tài sản

cho doanh nghiệp so với tổng số vốn mà doanh nghiệp thực có, đó là khả

năng sinh l i VCSH.

1.2.



Ý nghĩa c a vi c phân tích hi u qu tài chính c a doanh nghi p

Bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn hoạt động đều phải cần vốn.



Nguồn vốn của doanh nghiệp bao gồm vốn của chủ s hữu và nợ phải trả,

trong đó VCSH là yếu tố cốt lõi để doanh nghiệp có thể hoạt động. Nguồn

vốn chủ s hữu được đề cập



đây bao gồm vốn của chủ doanh nghiệp và của



các nhà đầu tư. Mà chủ s hữu và các nhà đầu tư lại rất quan tâm tới hiệu quả

sử dụng đồng vốn của họ, và do đó các nhà quản trị cũng rất quan tâm tới vấn

đề này để thu hút vốn. Vì vậy, phân tích hiệu quả tài chính là cơng cụ giúp các

nhà quản trị định hướng đúng để đầu tư và điều chỉnh nguồn vốn của doanh

nghiệp một cách phù hợp.

Qua việc phân tích hiệu quả tài chính ta cũng sẽ rút ra được các kết

luận về hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Do đó đối với các chủ nợ như:

các ngân hàng hay các tổ chức tín dụng cho vay vốn,... khi phân tích hiệu quả

tài chính giúp cho các đối tượng này đưa ra quyết định liên quan đến cho vay

tín dụng, tài chính đối với doanh nghiệp.

Trong phạm vi luận văn này chủ yếu phân tích hiệu quả tài chính để

phục vụ cho các chủ s hữu là các cổ đông và các nhà quản trị doanh nghiệp.



10



Thơng qua đánh giá kết quả hoạt động tài chính để giúp cho các chủ s hữu

và nhà quản trị có quyết định quản lý nhằm nâng cao hiệu quả tài chính của

doanh nghiệp mình.

1.3.



N i dung phân tích hi u qu tài chính trong doanh nghi p



1.3.1. Chỉ tiêu phân tích hiệu quả tài chính

Như đã trình bày trong phần khái niệm về hiệu quả tài chính, phân tích

hiệu quả tài chính là phân tích hiệu quả của việc huy động và sử dụng VCSH,

hay là hiệu quả của việc gìn giữ và phát triển VCSH. Phân tích hiệu quả tài

chính nhằm đánh giá sự tăng trư ng của tài sản so với tổng số vốn mà doanh

nghiệp thực có, đó là khả năng sinh l i VCSH. Do vậy, để phân tích hiệu quả

tài chính của doanh nghiệp, ngư i ta phân tích chỉ tiêu tỷ suất sinh l i VCSH

(Return on equity-ROE).

Tỷ suất sinh l i

VCSH (ROE)



=



Lợi nhuận sau thuế

x 100%

VCSH bình quân



(1.1)



Chỉ tiêu này thể hiện một trăm đồng vốn đầu tư của chủ s hữu sẽ tạo

ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. Đây là một chỉ tiêu quan trọng phản ánh

khả năng sinh l i của VCSH.

Khơng có gì là q đáng khi nói rằng sự nghiệp của phần lớn các nhà

quản trị cao cấp thăng trầm theo sự lên xuống của ROE



công ty họ. ROE



được gán cho tầm quan trọng như vậy là do nó đo lư ng tính hiệu quả của

đồng vốn của các chủ s hữu cơng ty. Nó xem xét lợi nhuận một đồng tiền

của chủ s hữu mang đi đầu tư, hay nói cách khác đó là phần trăm lợi nhuận

thu được của chủ s hữu trên vốn đầu tư của mình. Nói tóm tại, nó đo lư ng

tiền l i của mỗi đồng tiền vốn bỏ ra [2].

“Trong điều kiện doanh nghiệp huy động vốn từ nhiều nguồn, nhất là

thơng qua thị trư ng tài chính, chỉ tiêu này càng cao thì doanh nghiệp càng có



11



cơ hội tìm được nguồn vốn mới. Ngược lại, tỷ lệ này càng thấp dưới mức sinh

lãi cần thiết của thị trư ng thì khả năng thu hút VCSH, khả năng đầu tư vào

doanh nghiệp càng khó” [12]. Tuy nhiên, giá trị của ROE q cao cũng khơng

phải là một điều hồn tồn tốt b i nó thư ng gắn liền với việc sử dụng vốn

vay cao dẫn đến tính tự chủ tài chính thấp, điều này sẽ làm tăng rủi ro của

doanh nghiệp. Nên mục tiêu của các nhà quản trị là duy trì một giá trị ROE ổn

định với mức rủi ro chấp nhận được.

Có quan điểm cho rằng: Lợi nhuận sau thuế



cơng thức (1.1) cũng có



thể được thay bằng lợi nhuận trước thuế. Theo quan điểm này thì thuế suất

thuế thu nhập doanh nghiệp phải phụ thuộc vào chính sách của nhà nước và

các chế độ quy định nên có thể thay đổi. Do vậy, sử dụng lợi nhuận trước thuế

trong phân tích sẽ loại trừ được sự ảnh hư ng của chính sách thuế thư ng

biến động của nhà nước mà vẫn phản ánh chính xác hiệu quả tài chính của

doanh nghiệp [6].

Tỷ suất sinh l i VCSH thay đổi tuỳ theo phương pháp tính khấu hao

của các doanh nghiệp. Vì vậy có quan điểm cho rằng: Lợi nhuận sau thuế

cơng thức (1.1) có thể được thay bằng: Lợi nhuận sau thuế + Khấu hao.

Những doanh nghiệp áp dụng chế độ khấu hao nhanh sẽ có tỷ suất sinh l i

VCSH thấp, do đó khi phân tích cần phải chú ý đến giá trị khấu hao để không

đánh giá thấp các doanh nghiệp đang độ tăng trư ng nhưng có giá trị khấu

hao lớn [17].

Đối với các CTCP, mức sinh l i tài chính là chỉ tiêu mà các cổ đông

đặc biệt quan tâm. Nếu doanh nghiệp tham gia thị trư ng chứng khốn thì giá

cổ phiếu của doanh nghiệp rất nhạy cảm với chỉ tiêu này. Đây là một chỉ tiêu

cốt lõi mà các nhà quản lý sử dụng để điều chỉnh nhịp độ hoạt động của

doanh nghiệp.



các công ty này, bên cạnh chỉ tiêu “tỷ suất sinh l i VCSH”,



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng 2.6: Phân tích các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả tổng hợp

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×