Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Ở nước ta ngày càng có xu hướng gia tăng và có tính phổ biến rộng khắp trên các vùng nông thôn trong cả nước: Theo kết quả của các cuộc Tổng điều tra dân số năm 1999 và năm 2009, thì qui mô di cư trong nước năm1999 là 4,5 triệu người (chiếm khoảng 6,5% dâ

Ở nước ta ngày càng có xu hướng gia tăng và có tính phổ biến rộng khắp trên các vùng nông thôn trong cả nước: Theo kết quả của các cuộc Tổng điều tra dân số năm 1999 và năm 2009, thì qui mô di cư trong nước năm1999 là 4,5 triệu người (chiếm khoảng 6,5% dâ

Tải bản đầy đủ - 0trang

trong các công trường xây dựng, các cơ sở sản xuất/tái chế nhựa, may mặc, da giày,

bảo vệ,…), bán hàng rong, giúp việc gia đình… Phần lớn làm việc trong các cơ sở

kinh tế thuộc khu vực phi chính thức như các cơ sở kinh tế tư nhân, kinh tế gia đình

hoặc tự làm việc… Nên tỷ lệ được ký hợp đồng lao động thấp, hoặc có hợp đồng

laođộng thì chủ sử dụng lao động cũng ít quan tâm đếntránh thực hiện BHXH và các

phúc lợi xã hội khác đối vớingười lao động trong các cơ sở kinh tế thuộc khu vực phi

chính thức.

Thu nhập thấp, lao động nặng nhọc và khơng ổn định,mặt khác có thể bị mất việc

làm bất cứ lúc nào, là hiện tượng khá phổ biến. Nguyên nhân chủ yếu do khủnghoảng

kinh tế toàn cầu đã tác động tiêu cực tới việc làm của lao động nơngthơn.

 Dòng lao động di cư từ nơng thơn ra đơ thị và vào các KCN tìm việc làm với

nhiều hình thức và qui mơ khác nhau

Có thể đi một mình hoặc có thể đi cùng bạn bè, họ hàng, người thân trong gia đình,

hoặc qua các kênh tuyển dụng của cáccôngty, doanhnghiệp,hoặcthông quacáctrung tâm

giới thiệu việc làm… nhưng chủ yếu là đi cùng những người bạn bè trang lứa cùng

làng, xã… Qua điều tra có 24,2% người di cư ra đô thị làm việc cùng người nhà;

14,8% cùng những người thân trong dòng họ; 41,2% người di cư đi cùng những người

bạn bè cùng làng, xã, theo các kênh có tổ chức.Thơng qua các trung tâm 7,0% và các

hình thức khác 14,%… Điều này phản ánh tính kết cấu cộng đồng cao của những

người di dân rất cao thông qua hình thức di chuyển theo nhóm (cùng bạn bè, làng, xã)

là cơ sở tạo cho người di dân có được tâm lý an toàn khi di chuyển.

2.2.2. Nguyên nhân thúc đẩy sự gia tăng di cư tự tự do của lao động nông thôn vào

thành thị và các KCN của người dân nghèo muốn tìm kiếm việ làm và thu nhập

Di cư từ nông thôn ra thành thị và các KCN thời gian qua ngày càng gia tăng và

có tính rộng khắp trên các vùng nơng thơn trong cả nước có những thời điểm diễn ra

trên bình diễn rộng với qui mơ lớn…tình hình trên tuy có nhiều ngun nhân, song có

thể khái quát theo các nhóm nguyên nhân chính dưới tác động của các yếu tố “đẩy” và

“hút” lao đông từ nông thôn di cư ra thành thị và KCN, đó là:

2.2.2.1. Sự gia tăng dân số và sức ép về lao động

Việc làm ở khu vực nông thôn ngày càng gia tăng: Tỷ lệ tăng dân số ở nước hiện

nay ở mức 1,5%/ năm. Trong khu vực nơng thơn tăng trên 1,8%/ năm. Q trình

chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn và thu hút của các ngành. Hơn nữa,

người có việc làm trong nơng thơn thì tỷ lệ sử dụng thời gian chỉ đạt 70 -75%.... dư

thừa lao động cả về tương đối và tuyệt đối trong nông nghiệp, nông thôn là rất lớn…

thực trạng trên là ngun nhân chính tạo ra làn sóng dư cư tìm kiếm việc làm ngày

càng lớn, đặc biệt đối với những tỉnh thuộc vùng đồng bằng đất chật người đơng.

2.2.2.2. Tình trạng do phát triển khơng đều, sự chênh lệch về thu nhập, mức sống giữa

nông thôn thành thị và ngày càng có xu hướng dỗnh ra là một trong những nguyên

nhân có sức hút di cư từ nông thôn ra thành thị.



Cuộc sống của đa số người nông dân, đặc biệt các hộ thuần nông và các vùng sản

xuất gặp khó khăn,… thu nhập thấp và cuộc sống gặp nhiều khó khăn. Tình trạng

nghèo, đói, cơ sở phúc lợi yếu kém, đời sống văn hóa tinh thần thiếu so với thành thị.

Sản xuất nông nghiệp gặp nhiều khó khăn, chi phí sản xuất cao và nhiều rủi ro…

Chênh lệch thu nhập và mức sống đã tạo nên lực đẩy chủ yếu dòng người di cư vào

thành thị

Thành phố và các KCN còn mang lại nhiều cơ hội việc làm và có mức thu nhập

cao hơn nhiều so với ở nông thôn.Tuy nhiên, để lao động di cư vào thành phố kiếm

được việc làm và hòa nhập vào nền kinh tế đơ thị hồn tồn khơng dễ dàng. Vì kỳ

vọng sẽ tìm kiếm được việc làm và thu nhập tốt hơn, nên người lao động di cư từ nông

thôn vẫn sẵn sang chấp nhận rủi ro và thách thức, bởi khơng có lựa chọn nào khác.

Mỗi khi chênh lệch thu nhập và cuộc sống giữa thành thị và nơng thơn còn có khoảng

cách.



Bảng 2. Thu nhập bình qn năm của dân cư

Bảng 2 cho thấy chênh lệch thu nhập giữa thành phố và nông thôn rất lớn trên 2,1

lần, tuy thu nhập ở nơng thơn đã có nhiều cải thiện (năm 2008/1996 đã tăng lên 4 lần

cao hơn so với thành phố) nhưng khoảng cách về thu nhập vẫn còn lớn.

Ngồi mức thu nhập có tính hấp dẫn nêu trên còn có các điều kiện và lý do khác

như: học hành và nâng cao trình độ nghề nghiệp, và tiếp cận với văn minh và môi

trường sống đô thị về y tế, cơ sở hạ tầng vui chơi giải trí… tạo nên tâm lý thích ra

thành thị, nhất là đối với thanh niên muốn học hành và thay đổi môi trường sống…

Theo điều tra ở một số tỉnh cho thấy các nguyên nhân/lý do di cư nông thôn ra thành

phố dưới nhiều hình thức, lý do khác nhau và quyết định di cư có sự tác động của

nhiều động lực khác nhau. Nhưng về kinh tế vẫn là động lực chính đối với người dân

nơng thơn ra thành thị tìm kiếm việc làm chiếm trên 85%. Điều đó cho thấy tìm việc

làm tìm kiếm thu nhập như là một giải pháp về “sinh kế”. Với mục đích lớn nhất là tìm

việc làm để nâng cao thu nhập, nhằm cải thiện cuộc sống cho gia đình.



2.3. Các khu cơng nghiệp, khu chế xuất hình thành, nhiều hộ nơng dân bị mất đất

buộc phải chuyển sang lao động phi nông nghiệp.

2.3.1. Thực trạng q trình chuyển đổi đất nơng nghiệp ở Việt Nam trong những năm

gần đây

Q trình đơ thị hóa nơng thơn ở Việt Nam trong những năm gần đây diễn ra với

tốc độ khá nhanh, làm biến đổi bộ mặt kinh tế, văn hóa, xã hội trên cả nước.

Đơ thị hóa ở Việt Nam phát triển từ năm 1990, lúc đó cả nước có khoảng 520 đơ

thị (tỷ lệ đơ thị hóa vào khoảng 17-18%); đến ngày 01/1/1999 (theo cuộc tổng điều tra

dân số cả nước) đã có 624 đô thị với số dân 17,92 triệu người, chiếm 23,5% tổng số

dân. Đến năm 2000 số đô thị là 649, và năm 2003 đã tăng lên 656 đô thị. Kết quả tổng

điều tra dân số lao động của Tổng cục thống kê ngày 01/4/2009 cho thấy, cả nước đã

có trên 800 đô thị với dân số 25.374,262 người, chiếm 29,5% tổng số dân. Theo dự

báo của Bộ Xây dựng, tỷ lệ đơ thị hóa của Việt Nam vào năm 2020 sẽ đạt khoảng

40%, tương đương với số dân cư sinh sống tại đô thị khoảng trên 45 triệu dân

Hiện nay, cả nước có 5 thành phố trực thuộc Trung ương, 44 thành phố trực thuộc

tỉnh, 45 thị xã và trên 500 thị trấn. Bên cạnh những đơ thị có bề dày lịch sử tiếp tục

được mở mang, nâng cấp, còn xuất hiện ngày càng nhiều các khu đơ thị mới tập trung,

trong đó hệ thống các thị trấn, thị tứ ngày càng tỏa rộng, tác động mạnh mẽ tới khu

vực nơng thơn.

Chính vì thế, sự phát triển của các thành phố ở Việt Nam đang gặp khó khăn do

sự quá tải về lao động, dân cư, còn thiếu thốn về hệ thống hạ tầng kỹ thuật và dịch vụ

xã hội - nhà ở, điện, nước sạch, giao thông, bệnh viện và trường học chưa được xây

dựng tương xứng để đáp ứng được nhu cầu của cư dân. Bên cạnh đó, q trình đơ thị

hóa nhanh đã gây ra làn sóng di chuyển vào các đơ thị để tìm việc làm của số lao động

nông thôn bị thu hồi đất sản xuất nông nghiệp, làm cho các đô thị,bản thân đã chưa đủ

đáp ứng nhu cầu việc làm, cơ sở hạ tầng và dịch vụ xã hội, lại ngày càng trở nên chật

chội, đơng đúc. Bên cạnh đó số nơng dân còn lại ở các vùng thơn q khơng còn đất

sản xuất, chuyển đổi nghề không được, đời sống của họ lâm vào cảnh khó khăn, thất

nghiệp

Về diện tích đất nông nghiệp, đất ở bị thu hồi để phát triển các khu cơng nghiệp,

đơ thị và các cơng trình cơng cộng

Theo số liệu điều tra của BNNPTNT năm 2010 tại 16 tỉnh trọng điểm về thu hồi

đất, diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi chiếm khoảng 89% và diện tích đất thổ cư

chiếm 11%. Đồng bằng sơng Hồng là vùng có diện tích đất bị thu hồi lớn nhất, chiếm

4,4% tổng diện tích 5 đất nơng nghiệp của cả nước, tỷ lệ này ở Đông Nam Bộ là 2,1%,

ở nhiều vùng khác là dưới 0,5%. Những địa phương có diện tích đất thu hồi lớn là Tiền

Giang (20.308ha), Đồng Nai (19.752ha), Bình Dương (16.627ha), Quảng Nam

(11.812ha), Cà Mau (13.242ha), Hà Nội (7.776ha), Hà Tĩnh (6.391ha), Vĩnh Phúc

(5.573ha)



Bảng 1.2. Diện tích đất nơng nghiệp bị thu hồi ở một số địa phương trên cả

nước

(Tính đến tháng 6/2009)



Nhìn bảng số liệu trên ta thấy Bắc Ninh là tỉnh có tỷ lệ đất nông nghiệp bị thu hồi

cao nhất, chiếm 70,11% tổng diện tích đất nơng nghiệp, các tỉnh, thành như Hà Nội,

Vĩnh Phúc, Hà Nam, Hưng Yên có tỷ lệ đất nông nghiệp bị thu hồi tương đối cao,

khoảng trên dưới 30%; còn ở một số tỉnh như Kiên Giang, Đồng Tháp, có tỷ lệ đất

nơng nghiệp thu hồi thấp, lần lượt chiếm chỉ khoảng 7,4% và 8,02% tổng diện tích đất

nơng nghiệp. Ở nhiều nơi, mặc dù diện tích đất nông nghiệp bị thu hồi chiếm tỷ lệ nhỏ

trong tổng diện tích tự nhiên nhưng hầu hết đất nơng nghiệp bị thu hồi tập trung ở một

số huyện, xã có mật độ dân số cao, diện tích đất nơng nghiệp bình qn đầu người

thấp, có nhiều xã có diện tích đất nơng nghiệp bị thu hồi chiếm 70-80% diện tích đất

canh tác, có nhiều xã chiếm tới 100%, điển hình ở các huyện nằm trong khu vực Hà

Nội mở rộng và các xã, huyện được quy hoạch xây dựng các khu công nghiệp, khu đô

thị.

2.3.2. Một số bất cập trong chuyển đổi nghề nghiệp cho nông dân bị thu hồi đất

a- Về phía các cơ quan chức năng

- Thứ nhất, việc bồi thường cho người dân có đất bị thu hồi được thực hiện theo

nguyên tắc bồi thường bằng đất có cùng mục đích sử dụng (thu hồi đất nơng nghiệp thì

bồi thường bằng đất nơng nghiệp, thu hồi đất ở thì bồi thường bằng đất ở). Song do

quỹ đất rất hạn chế nên đa số các trường hợp được bồi thường bằng tiền. Đối với đất



nông nghiệp là đối tượng chủ yếu của công tác thu hồi (chiếm 89% diện tích đất thu

hồi giai đoạn 2001 - 2007), thực tế thị trường giao dịch về chuyển quyền sử dụng đất

giữa những người sản xuất nông nghiệp với nhau là rất ít, nên việc thực hiện quy

định: giá đất để tính bồi thường phải sát với giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất

thực tế trên thị trường là rất khó khăn và chưa được thực hiện thống nhất.

- Thứ hai, kế hoạch thu hồi đất để phát triển khu công nghiệp của các cơ quan

chức năng dường như không gắn với kế hoạch đào tạo nghề và giải quyết việc làm cho

người bị mất đất; chính sách và biện pháp giải quyết việc làm cho người lao động bị

thu hồi đất chưa được cụ thể hoá bằng các biện pháp khả thi, đồng thời việc triển khai

thực hiện còn nhiều vướng mắc; năng lực của bộ máy chính quyền trong giải quyết

việc làm nói chung vừa yếu, vừa thiếu, khơng có sự phối hợp, phân cơng hợp lý giữa

các cơ quan; chưa thiết lập được hệ thống thông tin đủ độ tin cậy, hiệu quả, dễ dàng

tiếp cận giữa người lao động với các cơ quan chức năng liên quan, các doanh nghiệp/

các đơn vị sản xuất kinh doanh và ngược lại.

- Thứ ba, một số trung tâm đào tạo nghề cho nơng dân thì chỉ biết đào tạo còn

khơng biết nhu cầu thị trường sức lao động ra sao, khơng biết sau đào tạo người nơng

dân có được nhận vào các cơ sở sản xuất hay không. Hạn chế của các cơ sở đào tạo

nghề đã làm cho số lượng và đặc biệt là chất lượng đào tạo chưa cao, chưa đáp ứng

được yêu cầu của bên tuyển dụng lao động hoặc của bản thân người lao động để tạo

dựng cơ hội việc làm mới.

- Thứ tư, đối với các hộ nông dân mất đất nông nghiệp phải chuyển sang các

ngành nghề phi nông nghiệp, công tác chuẩn bị như tuyên truyền, vận động, làm công

tác tư tưởng, giải quyết việc làm, đào tạo nghề mới chưa được đầu tư thoả đáng nên

kết quả còn nhiều hạn chế.

- Thứ năm, kết cấu hạ tầng nơng thơn còn chưa đồng đều đã tác động tiêu cực

đến nhiều mặt sản xuất và kinh doanh dịch vụ của hộ nơng dân nói chung và nơng dân

mất đất nói riêng.

b-Về phía các doanh nghiệp:

Công tác đào tạo nghề của doanh nghiệp nhận đất không được quan tâm nên kết

quả tạo việc làm cho người nơng dân mất đất đạt được thấp. Khơng ít doanh nghiệp

chưa thực sự quan tâm đến trách nhiệm hỗ trợ giải quyết việc làm cho người lao động

có đất đai bị thu hồi để xây dựng khu công nghiệp, quy định tuổi tuyển dụng quá thấp

(18-23 tuổi), không tổ chức đào tạo nghề tại doanh nghiệp. Nhiều doanh nghiệp chỉ

tiếp nhận người lao động bị thu hồi đất vào làm việc mang tính hình thức để thể hiện

rằng họ cũng thực hiện đúng các cam kết về tuyển dụng lao động địa phương, nhưng

sau đó, bằng cách này hay cách khác, họ đã dần dần sa thải lực lượng lao động này.



c-Về phía người lao động

Trong nhiều trường hợp, bản thân người lao động không đáp ứng được yêu cầu

của thị trường lao động, thụ động, ỷ vào chính sách hỗ trợ của Nhà nước, vào tiền đền

bù mà khơng cố gắng vượt qua khó khăn tìm kiếm việc làm. Khả năng có được việc

làm mới của nơng dân là rất thấp, do trình độ chun mơn và khả năng thích ứng với

điều kiện mới của họ khơng cao. Bên cạnh đó, việc thay đổi tư duy và phong cách làm

việc cho phù hợp với tác phong công nghiệp của họ còn chậm. Đây chính là những lực

cản lớn đối với người nông dân mất đất trong việc kiến tạo việc làm mới cho bản thân.

Một nguyên nhân nữa dẫn đến việc nông dân lâm vào cảnh thất nghiệp nhiều hơn

khi bị thu hồi đất là do họ không biết sử dụng có hiệu quả nguồn tiền đền bù của Nhà

nước. Nhìn chung, ở một mức độ nhất định, Nhà nước đã có chính sách đền bù tương

đối thoả đáng theo giá đất thị trường. Do vậy, sau khi nhận tiền đền bù giải toả, nhiều

hộ nơng dân có một khoản tiền khá lớn. Một số hộ có kinh nghiệm kinh doanh, phát

triển ngành nghề phi nông nghiệp đã sử dụng nguồn vốn đó cho mở rộng sản xuất,

kinh doanh dịch vụ nên thu nhập và đời sống tăng cao so với trước khi thu hồi đất.

Song, đại bộ phận các hộ còn lại khơng biết cách sử dụng nguồn vốn đó để phát triển

sản xuất các ngành nghề phi nông nghiệp. Nhiều hộ nông dân chưa định hướng được

ngành nghề hợp lý, phù hợp với bản thân và gia đình để ổn định cuộc sống. Chỉ có một

số ít hộ dân dùng tiền đền bù để đi học nghề với hy vọng sẽ tìm được việc làm trong

khu công nghiệp hoặc các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở địa phương. Thực tế ở khắp các

tỉnh cho thấy, không ít hộ đầu tư vào mua sắm đồ dùng đắt tiền, xây dựng, sửa sang

nhà cửa, ăn tiêu hoang phí khơng có kế hoạch; nhiều nơng dân, đặc biệt là tầng lớp

thanh niên ở các vùng đó thì sa vào các tệ nạn xã hội như cờ bạc, nghiện hút. Nhìn bề

ngồi, có vẻ như đời sống của các hộ dân được đền bù đất được cải thiện rõ rệt; tuy

nhiên, đằng sau sự thay đổi đó tiềm ẩn một nguy cơ rất lớn; đó là khơng nghề nghiệp,

khơng có thu nhập ổn định.



CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ CÁC GIẢI PHÁP LIÊN QUAN

Bên trên là những vấn đề cấp bách đặt ra do tình trạng di dân tự do vào thành thị

để kiếm việc làm. Vậy, giải pháp cho vấn đề nhằm tăng cường quản lý tình trạng di

dân ngoại tỉnh đến các thành phố được đặt ra như thế nào? Về quan điểm chúng ta phải

thấy rằng, di dân ngoại tỉnh vào thành phố lớn là một xu thế tất yếu. Hiện tượng di dân

xuất phát từ sự chênh lệch mức sống giữa nơng thơn và thành thị. Ngồi những ngun

nhân kinh tế, còn có những ngun nhân kinh tế khác mà chúng ta đã thấy ở trên. Vì

vậy, các nhà nghiên cứu, các nhà quản lý cần phải nắm bắt tính quy luật nội tại của

hiện tượng di dân để vận dụng vào việc quy hoạch các chính sách, các biện pháp điều

tiết nó vì mục tiêu phát triển. Quan điểm ở đây là khơng để q trình di cư (mà đặc

biệt là di cư mạng tính chất thời vụ) trở thành một quá trình tự phát, nhưng đồng thời

cũng khơng nên duy ý chí, quản lý q trình này bằng mệnh lệnh hành chính một cách

cứng nhắc. Chúng ta khơng thể cưỡng chế nó bằng các biện pháp hành chính, nhưng

cũng khơng khuyến khích hiện tượng này hoặc từ chối nó một cách bng xi, tự

phát. Vần đề quản lý và điều tiết di hiện tượng di cư liên quan tới nhiều ngành, nhiều

lĩnh vực và các cấp quản lý. Do đó các giải pháp phải có tính đồng bộ cao. Các giải

pháp quản lý và điều tiết tình trạng di cư phải mang tính hiệu quả cao cả về mặt kinh tế

và xã hội, cả về trước mắt cũng như lâu dài. Ở đây, chúng ta có thể đề cập đến những

nhóm giải pháp cơ bản sau:

- Thứ nhất, là nhóm giải pháp nhằm phát huy những ảnh hưởng tích cực của

di dân. Vấn đề này cần đặt ra một cách cơ bản và là trách nhiệm của các cấp

chính quyền trung ương và địa phương, bao gồm những vấn đề sau:

+ Cần phải có chiến lược quy hoạch mở rộng các thành phố lớn, phát triển các khu

đơ thị vệ tinh, thơng qua đó để giảm áp lực cho sự gia tăng dân số quá mức ở trong

khu vực nội thành, đồng thời tạo thế phát triển về kinh tế và xã hội cho thành phố đó

trong tương lai.

+ Chủ động thu hút và quản lý luồng di dân vào các ngành nghề phù hợp. Di dân

ngoại tỉnh vào các đô thị lớn là một xu hướng tất yếu trong quá trình phát triển của đất

nước. Do vậy cần có những biện pháp chủ động nhằm tổ chức thu hút lực lượng lao

động theo nhu cầu của thị trường thay vì hạn chế bằng các rào cản hành chính. Việc

phát triển các loại hình dịch vụ có tổ chức thơng qua các trung tâm giới thiệu việc làm,

các trung tâm tư vấn, các lại hình doanh nghiệp…sẽ tạo điều kiện thu hút và quản lý

có hiệu quả hơn tình trạng di cư tránh được tình trạng tự phát như hiện nay.

+ Hồn thiện chính sách quản lý nhân khẩu, hộ khẩu. Trước kia, trong cơ chế tập

trung bao cấp, việc nhập khẩu vào những thành phố lớn, đơ thị lớn được quản lí chặt



chẽ khơng chỉ vì lý do an ninh mà còn vì lý do kinh tế như chế độ phân phối lương

thực- thực phẩm…Nay chuyển sang cơ chế thị trường nên việc lưu chuyển lao động

cũng linh hoạt và đa dạng hơn. Nhu cầu về các loại lao động đa dạng hơn. Do đó, việc

quản lý nhân khẩu hộ khẩu khơng phải chỉ là việc thực hiện các thủ tục hành chính, mà

còn lưu ý đến các yếu tố kinh tế xã hội khác: đó là nhu cầu có việc làm và đảm bảo đời

sống-quyền cơ bản của người dân.

- Thứ hai, là nhóm giải pháp nhằm hạn chế những mặt tiêu cực của tình

trạng di cư. Ở đây có thể nêu lên những giải pháp cụ thể sau:

+ Cần phải có quy hoạch nơi ở và nơi giao dịch việc làm cho người di dân theo

mùa vụ. Đối với người di cư mùa vụ là việc ở thành phố thì vấn đề thơng tin việc làm

đóng một vai trò quan trọng. Tuy nhiên vấn đề nhà ở là một vấn đề khó khăn đối với

họ. Do vậy, việc hỗ trợ về chỗ ở cho người di cư, ví dụ như: dịch vụ cho thuê phòng

trọ giá rẻ, quy hoạch khu trọ cho người di dân và là nơi giao dịch việc làm là một việc

làm thiết thực cho người di dân, đồng thời đem lại hiệu quả tốt hơn cho nhà quản lý.

+ Xây dựng và phát triển các chính sách xã hội. Việc xây dựng các chính sách xã

hội và đưa chúng vào thực tế đối với người lao động đang là một yêu cầu thiết yếu

hiện nay. Các chính sách đó bao gồm một loạt các vấn đề như: Hỗ trợ việc làm, trợ cấp

thất nghiệp, xóa đói giảm nghèo, bảo hiểm y tế…Việc thực hiện các chính sách này

cũng rất cần thiết đối với người di dân tự do, nó giúp người lao động có điều kiện

thực hiện các quyền cơ bản của công dân, tạo điều kiện tốt cho họ tham gia vào thị

trường lao động.

+ Giáo dục, tuyên truyền nhằm nâng cao ý thức cộng đồng, xây dựng nếp sống

văn minh đô thị cho người di cư. Một vấn đề bức xúc trong hoạt đọng của người dân

di cư theo mùa vụ là ý thức cộng đồng cũng như những hành động tự phát của họ làm

mất mỹ quan đơ thị còn kém. Vì vậy, cần có các chương trình tuyên truyền nếp sống

văn minh qua các phương tiện thơng tin đại chúng. Bên cạnh đó cũng cần có những

chế tài, những hình thức xử phạt hành chính để nhắc nhở họ, qua đó để xây dựng nếp

sống văn minh đô thị ngày một tốt hơn.

+ Thành lập các trung tâm hỗ trợ việc làm cho người di dân. Đây là một giải pháp

nhằm tạo điều kiện giúp người di dân tìm kiếm việc làm, đồng thời nhằm tăng cường

quản lý người dân di cư. Đây có thể là những tổ chức tư vấn việc làm nhằm hướng họ

vào những ngành nghề phù hợp với năng lực của họ. Đồng thời, từng bước hình thành

nên thị trường lao động có thể quản lý được giúp cho nhà quản lý thực hiện tốt chức

năng của mình.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Ở nước ta ngày càng có xu hướng gia tăng và có tính phổ biến rộng khắp trên các vùng nông thôn trong cả nước: Theo kết quả của các cuộc Tổng điều tra dân số năm 1999 và năm 2009, thì qui mô di cư trong nước năm1999 là 4,5 triệu người (chiếm khoảng 6,5% dâ

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×