Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 5. KẾT QUẢ NG-HIÊN CỨU

CHƯƠNG 5. KẾT QUẢ NG-HIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ - 0trang

Bảng 5.2. Tuổi chủ hộ

Tuổi chủ hộ

Tần số (hộ)

Tỷ trọng (%)

Dưới 36 tuổi

44

22%

36 - 40

24

12%

41 - 45

70

35%

46 – 50

29

14,5%

Trên 50 tuổi

33

16,5%

Tổng

200

100%

Nguồn: Số liệu khảo sát thực tế năm 2016

Học vấn của chủ hộ:

Từ kết quả bảng 5.3 cho thấy, học vấn chủ hộ ở khu vực nông thông trên địa

bàn tỉnh Kiên Giang còn thấp. Chủ hộ học dưới lớp 6 có 100 hộ, chiếm 50%; chủ hộ

học từ lớp 6 đến lớp 9 có 57 hộ chiếm 28,5%; chủ hộ học từ lớp 10 đến lớp 12 có 40

hộ, chiếm 20%; chỉ có 3 chủ hộ học trên lớp 12, chiếm tỷ lệ 1,5%. Chủ hộ ở nông thôn

Kiên Giang có học vấn thấp là do người dân ở vùng sâu, vùng xa còn khó khăn trong

việc học tập. Mặc khác, do thiên nhiên ưu đãi về tài nguyên, diện tích đất nơng nghiệp

nhiều và điều kiện sản xuất thuận lợi nên chủ hộ chưa quan tâm nhiều đến việc học tập

nâng cao trình độ.

Bảng 5.3. Học vấn chủ hộ

Học vấn chủ hộ

Tần số (hộ)

Tỷ trọng (%)

Dưới lớp 6

100

50%

6–9

57

28,5%

10 – 12

40

20%

Trên lớp 12

3

1,5%

Tổng

200

100%

Nguồn: Số liệu khảo sát thực tế năm 2016

Nghề nghiệp chủ hộ:

Qua thống kê cho thấy, trong 200 hộ được phỏng vấn có 138 hộ làm nghề nông

nghiệp, chiếm 69% và 62 hộ làm nghề phi nông nghiệp, chiếm 31%. Từ đó, có thế nói

người dân nơng thôn trên địa bàn tỉnh Kiên Giang chủ yếu sinh kế bằng nghề sản xuất

nông nghiệp bao gồm trồng lúa, ni tơm, đánh bắt, ni trồng thủy hải sản.

Hình 5.1. Nghề nghiệp chủ hộ

Nguồn: Số liệu khảo sát thực tế năm 2016

Quy mơ hộ gia đình:

39



Số liệu khảo sát cho thấy, số người trong gia đình đối với những hộ được điều

tra giao động từ 2 đến 8 người, trong đó phần lớn gia đình có từ 3 đến 5 nhân khẩu

chiếm 86,5%. Do chính sách dân số của Việt Nam, mỗi gia đình có từ 1 đến 2 con là

đủ. Mặt khác, nhận thức của người dân về kế hoạch hóa gia đình ngày càng nâng lên.

Chính vì thế, số thành viên trong các gia đình nơng thơn Việt Nam nói chung và trên

địa bàn tỉnh Kiên Giang nói riêng đã ít hơn so với trước đây.

Bảng 5.4. Quy mơ hộ gia đình

Số người trong hộ

Tần số (hộ)

Tỷ trọng (%)

2

13

6,5%

3

53

26,5%

4

86

43%

5

34

17%

6

10

5%

7

2

1%

8

2

1%

Tổng

200

100%

Nguồn: Số liệu khảo sát thực tế năm 2016

Tỷ lệ phụ thuộc:

Người phụ thuộc là những người trong gia đình mà khơng tạo ra thu nhập cho

gia đình. Tỷ lệ người phụ thuộc được tính bằng tổng số người phụ thuộc so với tổng số

thành viên trong hộ. Thực tế khảo sát 200 hộ gia đình nơng thơng tại tỉnh Kiên Giang

cho thấy, tỷ lệ người phụ thuộc cao nhất là 0,8. Trung bình tỷ lệ phụ thuộc là 37,6%

với độ lệch chuẩn 21,08%. Các gia đình khơng có người phụ thuộc là những gia đình

trẻ, chưa có con cái hoặc gia đình chủ hộ lớn tuổi, con cái của họ đều có việc làm hoặc

là lao động chính trong gia đình. Tỷ lệ người phụ thuộc của mẫu khảo sát tương đối

cao, điều này làm ảnh hưởng đến thu nhập của hộ gia đình.

Bảng 5.5. Tỷ lệ phụ thuộc

Biến



n



Tỷ lệ phụ thuộc



200



Trung



Độ lệch



Giá trị



Giá trị



bình

0,376



chuẩn

0,2108



nhỏ nhất

0



lớn nhất

0,8



Nguồn: Số liệu khảo sát thực tế năm 2016

5.1.2. Đặc điểm về tham gia học nghề

Quan sát học nghề theo giới tính chủ hộ của 200 hộ gia đình cho thấy, trong 100

hộ khơng tham gia học nghề có 41 chủ hộ là nam và 59 chủ hộ là nữ; trong 100 hộ có

40



tham gia học nghề thì có 73 chủ hộ là nam và 27 chủ hộ là nữ. Kết quả khảo sát cho

thấy, gia đình có chủ hộ là nam thì quan tâm đến học nghề nhiều hơn gia đình có chủ

hộ là nữ.

Bảng 5.6. Đặc điểm học nghề theo giới tính chủ hộ

Khơng học nghề

Có học nghề

Số lượng

%

Số lượng

%

Nam

41

41%

73

73%

Nữ

59

59%

27

27%

Tổng

100

100%

100

100%

Nguồn: Số liệu khảo sát thực tế năm 2016

Giới tính



Nếu xét theo nghề nghiệp chủ hộ, kế quả khảo sát bảng 5.8 cho biết, trong 100

hộ khơng tham gia học nghề, có 76 chủ hộ làm nghề nông nghiệp và 24 chủ hộ làm

nghề phi nơng nghiệp; trong 100 hộ có tham gia học nghề, có 61 chủ hộ làm nghề

nơng nghiệp và 38 hộ làm nghề phi nông nghiệp.

Bảng 5.7. Đặc điểm học nghề theo nghề nghiệp chủ hộ

Nghề nghiệp



Không học nghề

Số lượng

%



Có học nghề

Số lượng

%



chủ hộ

Nơng nghiệp

76

76%

62

Phi nơng nghiệp

24

24%

38

Tổng

100

100%

100

Nguồn: Số liệu khảo sát thực tế năm 2016



62%

38%

100%



Quan sát học nghề theo lĩnh vực nghề nhận thấy, trong 100 hộ có tham gia học

nghề có 13 hộ có người học nghề nơng nghiệp, 87 hộ có người học nghề phi nơng

nghiệp. Trong những năm qua, diễn biến thời tiết bất thường dẫn đến tình trạng thất

mùa diễn ra thường xuyên. Tại Kiên Giang, tình trạng xâm ngập mặn diễn ra ngày

càng trầm trọng, dẫn đến diện tích sản xuất nơng nghiệp bị thu hẹp, nơng dân ngày

càng khó khăn trong sản xuất. Chính vì thế, hộ gia đình nơng thơn muốn chuyển đổi

sang những ngành nghề phi nông nghiệp ngày càng nhiều. Do đó, hộ gia đình nơng

thơn quan tâm đầu tư cho các thành viên trong gia đình học tập những ngành nghề phi

nơng nghiệp để tìm cơng việc mới, cải thiện thu nhập gia đình.

Bảng 5.8. Học nghề theo lĩnh vực nghề

Lĩnh vực nghề học

Nông nghiệp

Phi nông nghiệp

Tổng



Tần số (hộ)

13

87

100

41



Tỷ trọng (%)

13%

87%

100%



Nguồn: Số liệu khảo sát thực tế năm 2016

Kết quả phỏng vấn 100 hộ có tham gia học nghề thì trong đó có 89 hộ gia đình

chỉ có 1 người học nghề, còn 11 hộ có 2 người học nghề. Điều này chứng tỏ, có nhiều

gia đình thấy được hiệu quả của việc đào tạo nghề nông thôn nên cho thành viên trong

cho nhiều thành viên trong gia đình tham gia học nghề.

Bảng 5.9. Số lượng người học nghề trong hộ

Số người học

Tần số (hộ)

Tỷ trọng (%)

1 người

89

89%

2 người

11

11%

Tổng

100

100%

Nguồn: Số liệu khảo sát thực tế năm 2016

5.1.3. Tiếp cận tín dụng chính thức

Tiếp cận tín dụng chính thức là tiếp cận tín dụng từ các ngân hàng (ngân hàng

chính sách xã hội, ngân hàng thương mại,…). Kết quả khảo sát cho thấy, trong 100 hộ

gia đình có tham gia học nghề thì có 17 hộ được tiếp cận tín dụng chính thức, 83 hộ

khơng được tiếp cận tín dụng chính thức. Hộ gia đình vay vốn chủ yếu để phục vụ chi

phí cho việc học nghề, đầu tư sản xuất. Nhìn chung, việc tiếp cận tín dụng của hộ gia

đình còn ít, chỉ có 26 hộ trong tổng số 200 hộ, chiếm 13%.

Bảng 5.10. Tiếp cận tín dụng của hộ gia đình

Khơng học nghề

Có học nghề

Số lượng

%

Số lượng

%

Được vay vốn

9

9%

17

17%

Không được vay vốn

91

91%

83

83%

Tổng

100

100%

100

100%

Nguồn: Số liệu khảo sát thực tế năm 2016

Tiếp cận tín dụng



5.1.4. Hỗ trợ việc làm

Hỗ trợ việc làm sau khi đào tạo nghề là việc làm cần thiết để lao động nông

thôn vận dụng các kiến thức nghề được học vào thực tiễn, cải thiện thu nhập cho hộ

gia đình. Kết quả khảo sát cho thấy, trong 100 hộ gia đình có tham gia học nghề thì có

31 hộ được hỗ trợ việc làm, 69 hộ khơng được tiếp cận tín dụng chính thức. Tỷ lệ

người được giới thiệu việc làm sau khi đào tạo chiếm 31%. Điều này cho thấy, công

tác hỗ trợ việc làm cho người lao động sau khi đào tạo nghề còn thấp.

Bảng 5.11. Hỗ trợ việc làm sau khi đào tạo nghề

Tiếp cận tín dụng



Khơng học nghề

42



Có học nghề



Số lượng

%

Số lượng

Được vay vốn

4

4%

31

Không được vay vốn

96

96%

69

Tổng

100

100%

100

Nguồn: Số liệu khảo sát thực tế năm 2016



%

31%

69%

100%



5.1.5. Thay đổi thu nhập

Thu nhập trung bình đầu người của hộ gia đình năm 2015 so với năm 2013 của

nhóm hộ có tham gia học nghề và khơng tham gia học nghề có sự khác biệt lớn. Trong

những hộ có tham gia học nghề thay đổi thu nhập bình quân đầu người là 336,42

(nghìn đồng), trong khi thay đổi thu nhập bình quân đầu người của những hộ khơng

tham gia học nghề chỉ là 286,15 (nghìn đồng). Việc thay đổi này cho thấy, có dấu hiệu

ảnh hưởng của học nghề đến thay đổi thu nhập của hộ gia đình nơng thơn.

Bảng 5.12. Thay đổi thu nhập của hộ gia đình theo học nghề



Học nghề



n



Khơng có học nghề

Có học nghề

Tổng



100



Trung



Thay đổi thu nhập

Độ lệch

Giá trị



bình

286,15



chuẩn

146,4635



Giá trị



nhỏ nhất

90



100

446,42

221,75491

200 375,285

207,4099

Nguồn: Số liệu khảo sát thực tế năm 2016



lớn nhất

850



100

90



1500

1500



5.2. TƯƠNG QUAN GIỮA CÁC BIẾN TRONG MƠ HÌNH

Kết quả phân tích tương quan bảng 5.14 cho thấy, các biến độc lập có mối quan

hệ với biến phụ thuộc. Cụ thể, các biến giới tính chủ hộ, tuổi chủ hộ, học vấn chủ hộ,

qui mô hộ, học nghề, số người học, lĩnh vực nghề học, tín dụng, hỗ trợ việc làm và khu

vực sinh sống có quan hệ cùng chiều với biến thay đổi thu nhập bình quân đầu người

của hộ; các biến nghề nghiệp và tỷ lệ phụ thuộc có quan hệ ngược chiều với thay đổi

thu nhập bình quân đầu người.

Xem xét mối quan hệ giữa các biến độc lập trong mơ hình, kết quả phân tích

tương quan cho thấy, các hệ số tương quan phần lớn có giá trị tuyệt đối đều bé hơn 0,5

nên khơng có dấu hiệu đa cộng tuyến. Riêng hệ số tương quan giữa biến học nghề và

số người học hệ số tương quan là 0,91, do đó sẽ kiểm tra hiện tượng đa cộng tuyến ở

phần phân tích hồi quy.

Bảng 5.13. Thay đổi thu nhập của hộ gia đình theo học nghề

Thay



Giới



Tuổi



Học



Nghề



Qui

43



Tỷ



Học



Lĩnh



Tín



Hỗ



Khu



đổi

nhu

nhập

Thay

đổi

nhu

nhập

Giới

tính

chủ

hộ

Tuổi

chủ

hộ

Học

vấn

Nghề

nghiệ

p chủ

hộ

Qui



hộ

Tỷ lệ

người

phụ

thuộc

Học

nghề

Lĩnh

vực

nghề

Tín

dụng

Hỗ

trợ

việc

làm

Khu

vực

sinh

sống



tính

chủ

hộ



chủ

hộ



vấn



nghiệ

p chủ

hộ





hộ



lệ

ngườ

i phụ nghề

thuộ

c



vực

nghề



dụng



trợ

việc

làm



vực

sinh

sống



1,00



0,30



1,00



0,40



0,15



1,00



0,25



0,21



0,21



1,00



-0,29



0,17



-0,13



-0,11



1,00



0,07



0,03



0,14



0,06



-0,05



1,00



-0,23



0,07



-0,07



0,03



0,02



0,41



1,00



0,43



0,32



0,28



0,12



-0,15



0,17



0,03



1,00



0,31



0,15



0,17



0,17



0,00



0,03



0,01



0,26



1,00



0,31



0,13



0,24



0,16



0,00



0,05



0,09



0,12



0,50



1,00



0,54



0,19



0,28



0,21



-0,15



0,09



1,22



0,36



0,04



0,10



1,00



0,18



0,12



0,10



0,07



-0,15



0,01



0,00



0,01



0,05



0,11



0,01



Nguồn: Số liệu khảo sát thực tế năm 2016

5.3. MƠ HÌNH HỒI QUY



44



1,00



Mục tiêu của đề tài là đánh giá tác động của đào tạo nghề đối với thu nhập của

hộ gia đình nơng thơn. Tác giả sử dụng mơ hình hồi quy đa biến phân tích các nhân tố

ảnh hưởng đến thu nhập trong đó có biến tác động chính là học nghề (hocnghe).

Phân tích hơi quy cho thấy, các biến tuổi chủ hộ, nghề nghiệp chủ hộ, tỷ lệ phụ

thuộc, học nghề, lĩnh vực nghề, tín dụng, hỗ trợ việc làm và khu vực sinh sống có mức

ý nghĩa thống kê. Các biến còn lại gồm giới tính chủ hộ, học vấn chủ hộ, qui mơ hộ, số

người tham gia học nghề có mức ý nghĩa lớn hơn 10% nên chưa có thể khẳng định có

tác động của chúng hay khơng đến thay đổi thu nhập của hộ gia đình.

Kiểm định phương sai thay đổi của mơ hình ta có, giá trị Chi2(1) = 93,64 và

(Prob>chi2) = 0,000 nhỏ hơn 1%, từ đó cho thấy mơ hình có hiện tượng phương sai

thay đổi. Thực hiện khắc phục phương sai thay đổi bằng cách sử dụng vòng lặp

robustess bằng phần mềm STATA 12.0, ta được kết quả ở bảng 5.15 dưới đây.

Bảng 5.14. Kết quả ước lượng mơ hình hồi quy đa biến

Biến độc lập

gioitinhch

tuoich

hocvanch

nghenghiepch

quimoho

tylephuthuoc

hocnghe

linhvucnghe

tindung

hotrovieclam

khuvucsinhsong

- kienhai

- goquao

-giongrieng

Hằng số

Hệ số xác định R2

điều chỉnh

Giá trị kiểm định F

Mức ý nghĩa



Hệ số

hồi quy

23,517

2,588

2,118

-72,431

9,379

-156,156

62,727

81,878

153,491

220,292

41,194

67,869

62,588

172,659



Độ lệch



Giá trị



chuẩn

kiểm định

21,713

1,08

1,390

1,86

3,049

0,69

25,861

-2,80

13,451

0,70

69,566

-2,24

22,068

2,84

106,560

0,77

54,717

2,48

41,009

5,37

26,078

30,610

27,845

73,322



0,5634



1,81

2,22

2,25

2,35



Mức ý



Hệ số VIF



nghĩa

0,280

0,064

0,488

0,006

0,487

0,026

0,005

0,443

0,014

0,000



1,20

1,31

1,20

1,08

1,32

1,29

1,41

1,44

1,52

1,34



0,072

0,028

0,026

0,020

Mean Vif



1,65

1,64

1,59



1,38



17,51

0,0000

Nguồn: Số liệu khảo sát thực tế năm 2016



Kết quả hồi quy OLS cho thấy, (Prob > F) = 0,000 < 1%, điều này cho biết mơ

hình hồi quy OLS này phù hợp. Hệ số R 2 điều chỉnh bằng 0,5634, nghĩa là các biến

45



độc lập trong mơ hình giải thích được 56,34% biến thiên của biến phụ thuộc thay đổi

thu nhập (thaydoithunhap), còn lại 43,66% được giải thích bởi các biến khác khơng có

trong mơ hình nghiên cứu.

Hệ số phóng đại phương sai VIF của các biến và giá trị trung bình của VIF đều

nhỏ hơn 10, cho thấy khơng có hiện tượng đa cộng tuyến xảy ra.

Mơ hình hồi quy có thể viết lại như sau:

thaydoithunhap = 172,659+ 2,588*tuoich-72,431*nghenghiepch

-156,156*tylephuthuoc+ 62,727*hocnghe+ 153,491*tindung

+ 220,292*hotrovieclam+ 41,194*kienhai+67,869*goquao +62,588*giongrieng+ei

5.4. THẢO LUẬN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Tuổi chủ hộ (tuoich), biến này được định nghĩa bằng số năm đi học của chủ hộ.

Hệ số hồi quy (+) 2,588 với mức ý nghĩa 0,064, cho biết tuổi chủ hộ có ảnh hưởng

cùng chiều với thay đổi thu nhập bình qn đầu người của hộ nơng dân. Hay nói cách

khác, trong điều kiện các yếu tố khác không đổi, nếu tuổi của chủ hộ tăng lên 1 tuổi thì

thay đổi thu nhập bình quân đầu người của hộ gia đình sẽ giảm 2,588 nghìn đồng. Kết

quả này giống với kỳ vọng ban đầu của mơ hình. Điều này cho thấy, chủ hộ có tuổi đời

càng cao quan tâm nhiều hơn với việc tham gia học nghề.

Nghề nghiệp chủ hộ (nghenghiepch), biến này mang giá trị 1 nếu chủ hộ làm

nghề nông nghiệp và mang giá trị 0 nếu chủ hộ làm nghề phi nông nghiệp. Hệ số hồi

quy của biến này là (-) 72,431 với mức ý nghĩa 0,006, cho thấy nghề nghiệp chủ hộ có

ảnh hưởng ngược chiều với thay đổi thu nhập bình quân đầu người của hộ nơng dân.

Hay nói cách khác, trong điều kiện các yếu tố khác không đổi, nếu nghề nghiệp chính

của chủ hộ là nơng nghiệp sẽ làm thay đổi thu nhập bình quân đầu người của hộ giảm

72,431 nghìn đồng . Kết quả phù hợp với các nghiên cứu trước đây, những chủ hộ làm

nghề phi nông nghiệp sẽ có thay đổi thu nhập trung bình đầu người của hộ sẽ cao hơn

so với những hộ có chủ hộ làm nghề nông nghiệp.

Tỷ lệ phụ thuộc (tylephuthuoc), biến này được đo lường bằng tỷ lệ giữa số

người phụ thuộc (không tạo ra thu nhập) so với tổng số thành viên trong hộ. là (-)

156,156 với mức ý nghĩa 0,026, cho thấy tỷ lệ phụ thuộc có ảnh hưởng ngược chiều

với thay đổi thu nhập bình quân đầu người của hộ nông dân. Nghĩa là, trong điều kiện

các yếu tố khác không đổi, nếu tỷ lệ phụ thuộc tăng lên 1% sẽ làm thay đổi thu nhập

46



bình quân đầu người của hộ giảm 156,156 nghìn đồng . Kết quả giống với các nghiên

cứu trước đây, tỷ lệ phụ thuộc càng cao thì số người lao động trong hộ càng ít, dẫn tới

thu nhập bình quân đầu người sẽ thấp.

Học nghề (hocnghe), biến này nhận giá trị 1 nếu hộ có người tham gia học

nghề và nhận giá trị 0 nếu hộ khơng có người tham gia học nghề. Hệ số hồi quy (+)

62,727 với mức ý nghĩa 0,005, cho biết học nghề có ảnh hưởng cùng chiều với thay

đổi thu nhập bình qn đầu người của hộ nơng dân. Có nghĩa là, trong điều kiện các

yếu tố khác khơng đổi, nếu hộ có người tham gia học nghề thì thay đổi thu nhập bình

quân đầu người của hộ gia đình sẽ tăng 62,727 nghìn đồng. Kết quả cho thấy, học nghề

có ảnh hưởng đến thu nhập bình qn đầu người của hộ gia đình. Những hộ có người

tham gia học nghề sẽ có thay đổi thu nhập bình qn đầu người cao hơn so với những

hộ khơng có người tham gia học nghề. Điều này chứng tỏ, việc đào tạo nghề cho lao

động nông thôn là cần thiết, nhằm giải quyết việc làm, nâng cao thu nhập cho hộ gia

đình.

Tiếp cận tín dụng chính thức (tindung), biến này nhận giá trị 1 nếu hộ có vay

vốn tín dụng chính thức và nhận giá trị 0 nếu hộ khơng có vay vốn tín dụng chính

thức. Hệ số hồi quy (+) 153,491 với mức ý nghĩa 0,014, cho biết tiếp cận tín dụng

chính thức có ảnh hưởng cùng chiều với thay đổi thu nhập bình qn đầu người của hộ

nơng dân. Điều này cho thấy, trong điều kiện các yếu tố khác khơng đổi, nếu hộ có vay

vốn tín dụng thì thay đổi thu nhập bình quân đầu người của hộ gia đình sẽ tăng

153,491 nghìn đồng. Kết quả này giống với kỳ vọng ban đầu của mơ hình. Tiếp cận

được tín dụng chính thức để chi phí cho việc học nghề hoặc đầu tư cho sản xuất, kinh

doanh, nghề nghiệp sẽ làm tăng thu nhập của hộ.

Hỗ trợ việc làm (hotrovieclam), biến này nhận giá trị 1 nếu hộ được hỗ trợ

việc làm và nhận giá trị 0 nếu hộ không được hỗ trợ việc làm. Hệ số hồi quy (+)

220,292 với mức ý nghĩa 0,000, cho biết hỗ trợ việc làm có ảnh hưởng cùng chiều với

thay đổi thu nhập bình qn đầu người của hộ nơng dân. Điều này cho thấy, trong điều

kiện các yếu tố khác không đổi, nếu hộ có hỗ trợ việc làm thì thay đổi thu nhập bình

quân đầu người của hộ gia đình sẽ tăng 220,292 nghìn đồng. Kết quả này giống với kỳ

vọng ban đầu của mơ hình. Nhìn chung, sau khi được đào tạo nghề đa số người lao

động muốn tìm việc làm mới để cải thiện thu nhập. Việc hỗ trợ tìm kiếm việc làm phù

47



hợp với ngành nghề được đào tạo giúp hộ gia đình giảm chi phí tìm việc, mặt khác có

thu nhập ổn định, cải thiện được cuộc sống.

Khu vực sinh sống (khuvucsinhsong), biến này nhận giá trị 1 nếu hộ sinh sống

tại An Biên, nhận giá trị 2 nếu hộ sinh sống tại Kiên Hải, nhận giá trị 3 nếu hộ sinh

sống tại Gò Quao và nhận giá trị 4 nếu hộ sinh sống tại Giồng Riềng. Hệ số hồi quy

của các biến khu vực sinh sống tại Kiên Hải là 41,194, Gò Quao là 67,869, Giồng

62,588. Các biến này đều có ý nghĩa thống kê với mức ý nghĩa 5%. Nghĩa là, các khu

vực sinh sống khác nhau có mức thay đổi thu nhập bình quân đầu người cũng khác

nhau. Chọn An Biên làm biến cơ sở, kết quả mơ hình cho thấy, nếu các yếu tố khác

không thay đổi, hộ dân sinh sống tại huyện Kiên Hải có thay đổi thu nhập cao hơn hộ

dân sinh sống tại huyện An Biên 41,194 nghìn đồng; hộ dân sinh sống tại huyện Gò

Quao có thay đổi thu nhập cao hơn hộ dân sinh sống tại huyện An Biên 67,869 nghìn

đồng; hộ dân sinh sống tại huyện Giồng Riềng có thay đổi thu nhập cao hơn hộ dân

sinh sống tại huyện An Biên 62,588 nghìn đồng. Thay đổi thu nhập bình qn đầu

người của các huyện còn lại cao hơn An Biên là do trong những năm gần đây xâm

nhập mặn làm cho diện tích sản xuất nơng nghiệp tại huyện An Biên giảm nhan; tình

trạng mất mùa, giá cả đầu ra không ổn định đã ảnh hưởng đến thu nhập và đời sống

của các hộ gia đình nơng thơn nơi đây.

Các biến còn lại bao gồm giới tính chủ hộ, học vấn chủ hộ, qui mơ hộ, số

người đi học nghề, lĩnh vực nghề được học có mức ý nghĩa đều lớn hơn 10%, do đó

chưa cho thấy có sự ảnh hưởng đến thay đổi thu nhập của hộ gia đình. Kết quả trên

cho thấy, việc đào tạo nghề, tiếp cận tín dụng và giải quyết việc làm mới là những yếu

tố ảnh hưởng chính đến thay đổi thu nhập của hộ gia đình.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 5

Chương 5 trình bày các kết quả nghiên cứu định lượng phân tích tác động của

đào tạo nghề đến thu nhập của hộ gia đình nơng thơn trên địa bàn tỉnh Kiên Giang

thơng qua việc phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến thay đổi thu nhập bình quân đầu

người của hộ gia đình. Nghiên cứu được thực hiện trên 200 hộ gia đình tại 4 địa

phương An Biên, Kiên Hải, Gò Quao và Giồng Riềng, với tỷ lệ hộ có tham gia đào tạo

nghề chiếm 50%. Kết quả phân tích hồi quy cho thấy có 7 biến ảnh hưởng đến thay đổi

thu nhập bình quân đầu người của hộ gia đình bao gồm tuổi chủ hộ, nghề nghiệp chủ

48



hộ, tỷ lệ phụ thuộc, học nghề, tiếp cận tín dụng chính thức, hỗ trợ việc làm và khu vực

sinh sống, trong đó các biến học nghề, tiếp cận tín dụng chính thức và hỗ trợ việc làm

ảnh hưởng mạnh đến thay đổi thu nhập bình quân đầu người trong hộ.



CHƯƠNG 6. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH

6.1. KẾT LUẬN

Vấn đề tác động của đào tạo nghề đến thu nhập của hộ gia đình nơng thơn được

các tác giả trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu. Sự chênh lệch thu nhập của

những hộ gia đình có người tham gia học nghề so với những hộ gia đình khơng có

người tham gia học nghề cho biết ảnh hưởng của đào tạo nghề đối với thu nhập của hộ.

Trong vấ đề học nghề cần quan tâm thêm số lượng người trong hộ được học, lĩnh vực

nghề nghiệp mà các thành viên trong hộ chọn học. Tuy nhiên, cần phải xem xét đến

các yếu tố khác ngoài học nghề như chủ hộ (giới tính, tuổi, trình độ học vấn, nghề

nghiệp), đặc trưng của hộ (qui mô hộ, tỷ lệ người phụ thuộc, khu vực sinh sống).

Ngoài ra, vấn đề tiếp cận các nguồn vốn tín dụng và chính sách hỗ trợ, giới thiệu việc

làm cũng ảnh hưởng đến thu nhập của hộ gia đình nơng thơn.

Đề tài đã sử dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện, chọn ra 200 hộ gia đình ở

4 địa bàn An Biên, Kiên Hải, Gò Quao, Giồng Riềng để thu thập số liệu phân tích. Tại

mỗi địa bàn, tác giả chọn ra 50 hộ, trong đó gồm 25 hộ có người tham gia học nghề và

25 hộ khơng có người tham gia học nghề trong giai đoạn 2013 – 2015.

Tác giả sử dụng mơ hình hồi quy đa biến theo phương pháp OLS, phân tích các

nhân tố ảnh hưởng đến thay đổi thu nhập bình quân đầu người của hộ gia đình. Giả

thiết ban đầu có 11 biến độc lập ảnh hưởng đến biến phụ thuộc bao gồm giới tính chủ

hộ, tuổi chủ hộ, nghề nghiệp chủ hộ, qui mô hộ, tỷ lệ phụ thuộc, học nghề, số người

học, lĩnh vực nghề học, tiếp cận tín dụng chính thức, hỗ trợ việc làm và khu vực sinh

sống. Qua các bước kiểm định mơ hình cho thấy khơng có hiện tượng đa cộng tuyến

nhưng lại có hiện tượng phương sai thay đổi. Khắc phục hiện tượng phương sai thay

49



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 5. KẾT QUẢ NG-HIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×