Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT

CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Tải bản đầy đủ - 0trang

sản phẩm vật chất hay tinh thần nào đó, đáp ứng được những nhu cầu của xã hội. Nghề

bao gồm nhiều chuyên môn, chuyên môn là một lĩnh vực lao động sản xuất hẹp mà ở

đó, con người bằng năng lực thể chất và tinh thần của mình làm ra những giá trị vật

chất như: thực phẩm, lương thực, công cụ lao động… hoặc giá trị tinh thần như: sách

báo, phim ảnh, âm nhạc, tranh vẽ … với tư cách là những phương tiện sinh tồn và phát

triển xã hội.

Đào tạo được hiểu là q trình hoạt dộng có mục đích, có tổ chức, nhằm hình

thành và phát triển có hệ thống các tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ, … để hoàn thiện

nhân cách cho mỗi cá nhân, tạo tiền đề cho họ có thể vào đời hành nghề một cách có

năng suất và hiệu quả.

Đào tạo được thực hiện bởi các loại hình tổ chức chuyên ngành nhằm thay đổi

hành vi và thái độ làm việc của con người, tạo cho họ khả năng đáp ứng tiêu chuẩn và

hiệu quả công việc chuyên môn.

Luật giáo dục nghề nghiệp số 74/2014/QH2013 ngày 27/11/2014 cho rằng đào

tạo nghề nghiệp là hoạt động dạy và học, nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ

nghề nghiệp cần thiết cho người học để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm

sau khi hồn thành khóa học hoặc để nâng cao trình độ nghề nghiệp.

Luật dạy nghề năm 2006, định nghĩa: “Dạy nghề là hoạt động dạy và học nhằm

trang bị kiến thực, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học nghề để có

thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hồn thành khóa học”. Có thể thấy,

về cơ bản đào tạo nghề và dạy nghề khơng có sự khác biệt về nội dung.

Đào tạo nghề phục vụ cho mục tiêu kinh tế xã hội, trước hết là phương hướng

phân công lao động mới, tạo cơ hội cho mọi người đều được học tập nghề nghiệp để

dễ dàng tìm kiếm việc làm hoặc học lên trình độ cao hơn.

2.1.3. Lao động và lao động nơng thơn

Theo C. Mác-Ph.Angghen (1993) thì lao động “trước hết là quá trình diễn ra

giữa con người và tự nhiên, một q trình trong đó, bằng hoạt động của chính mình,

con người làm trung gian, điều tiết và kiểm tra sự trao đổi chất giữa họ và tự nhiên”.

Nông thôn là vùng khác với thành thị ở chỗ ở đó có một cộng đồng chủ yếu là

nơng dân sống và làm việc, có mật độ dân cư thấp, cơ cấu hạ tầng kém phát triển hơn,

có trình độ tiếp cận thị trường và sản xuất hàng hóa thấp hơn.

13



Lao động nơng thơn là những người thuộc lực lượng lao động và tham gia hoạt

động trong hệ thống các ngành kinh tế nông thôn như trồng trọt, chăn nuôi, lâm

nghiệp, ngư nghiệp, diêm nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ trong nơng thơn.

2.2. VAI TRỊ CỦA ĐÀO TẠO NGHỀ ĐỐI VỚI THU NHẬP CỦA NGƯỜI DÂN

Vai trò của đào tạo nghề đối với đảm bảo an sinh xã hội xuất phát từ khía cạnh

lợi ích cá nhân của con người. Như vậy, đầu tư cho đào tạo nghề chính là sự đầu tư cho

từng cá nhân, dưới giác độ xã hội tạo ra chất lượng nguồn nhân lực với các tầng khác

nhau (trình độ cao, trình độ phổ quát, đại trà) và do đó, mạng lại khơng chỉ lợi ích kinh

tế quốc dân mà còn thực hiện đảm bảo an sinh xã hội quốc gia. Có thể thấy, đào tạo

nghề thực chất là trang bị cho mỗi cá nhân một trình độ và kỹ năng nhất định, qua đó

mang lại cho họ việc làm và thu nhập. Người có chun mơn kỹ thuật cao, có kỹ năng

nghề tốt, cơ hội tìm được làm tốt hơn và ít có nguy cơ thất nghiệp: tỷ lệ thất nghiệp

của những người qua đào tạo nghề thấp hơn nhiều so với lao động phổ thơng, thậm chí

còn thấp hơn cả tỷ lệ thất nghiệp của những người tốt nghiệp đại học. Đây chính là

động lực để người lao động đầu tư vào đào tạo nghề.

Trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020 đã

nêu rõ: “Đến năm 2020, chỉ số phát triển con người (HDI) đạt nhóm trung bình cao

của thế giới…lao động qua đào tạo đạt trên 70%, đào tạo nghề chiếm 55% tổng lao

động xã hội; tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân 1,5 – 2%/năm; phúc lợi xã hội, an sinh xã

hội được đảm bảo…thu hẹp khoảng cách thu nhập giữa các vùng và các nhóm dân

cư…”. Đây là một định hướng rất rõ ràng về phát triển kinh tế - xã hội đất nước, trong

đó khẳng định vai trò của đào tạo nghề đối với việc đảm bảo an sinh xã hội. Mục tiêu

tăng tỷ lệ lao động qua đào tạo và đào tạo nghề là tiền đề, là điều kiện và cơ hội để

người lao động có được cơng ăn, việc làm tư tế, có thu nhập ổn định. Khi người lao

động có kỹ năng nghề thì họ có cơ hội tốt hơn tham gia vào thị trường lao động và như

vậy, làm tăng tỷ lệ người lao động có việc làm; điều này đồng nghĩa với tỷ lệ thất

nghiệp, tỷ lệ nghèo của lực lượng lao động giảm xuống. Đào tạo nghề giúp cho những

đối tượng yếu thế trong xã hội, nhất là những người nghèo, đặc biệt là người nghèo ở

nơng thơn có được kỹ năng nghề nghiệp cần thiết, từ đó vươn lên thốt khỏi cảnh

nghèo một cách bền vững. Xét từ khía cạnh này, mục tiêu giảm được tỷ lệ hộ nghèo



14



bình quân 1,5 – 2%/năm mà Chiến lược đưa ra sẽ là kết quả của nhiều nhân tố, trong

đó có nhân tố có ý nghĩa là đào tạo nghề.

Trong bối cảnh kinh tế thi trường, thu nhập cao hỉ có thể có được một cách bền

vững, người lao động được trang bị những kỹ năng nghề nghiệp và kỹ năng thích ứng

(kỹ năng mềm) cần thiết. Nhà nước, với tư cách là người quản lý xã hội, cần phải làm

cho nhiều người, nhất là lao động nông thôn, lao động nghèo tiếp cận được với các

dịch vụ đào tạo nghề, khi đó “mặt bằng” thu nhập của người dân được nâng lên và

người dân có thể tham gia vào q trình phân phối tốt hơn. Qua đó, Nhà nước và xã

hội cần có điều kiện thực hiện “mở rộng các hình thức trợ giúp và cứu trợ xã hội, nhất

là đối với các đối tượng khó khăn” góp phần đảm bảo an sinh xã hội của quốc gia.

Có thể thấy rằng, hiện nay nhu cầu học nghề của lao động nông thôn là rất lớn,

khát khao đơn giản của họ là được học một nghề phù hợp để có việc làm, tăng thu

nhập. Nhưng phải xác định rằng, muốn nâng cao hiệu quả đào tạo nghề thì các cơ sở

đào tạo khơng cách nào khác là phải chú trọng đến chất lượng đào tạo, phải gắn với

địa chỉ đầu ra cho sản phẩm, có như vậy mới thu hút được nhiều lao động nông thôn

tham gia học nghề. Mặt khác, để đề án đào tạo nghề cho lao động nông thôn thực sự đi

vào cuộc sống, đảm bảo được tính hiệu quả và bền vững lâu dài, Chính quyền các cấp,

các ban nghành cần cần vào cuộc quyết liệt hơn trong việc lãnh đạo, chỉ đạo, tuyên

truyền, quy hoạch, định hướng nghề đào tạo phù hợp với đặc thù phát triển sản xuất,

điều kiện kinh tế của địa phương. Song song đó, cần có cơ chế chính sách riêng cho

những người sau học nghề để duy trì, phát triển nghề đã được học.

Qua việc tổ chức dạy nghề cho lao động nông thơn sẽ góp phần nâng cao tỷ lệ

lao động qua đào tạo, tỷ lệ sử dụng nguồn nhân lực ở nông thôn, đáp ứng được yêu cầu

chuyển đổi nghề nghiệp, cơ cấu kinh tế, phù hợp với phát triển kinh tế - xã hội của địa

phương. Ta thấy đào tạo nghề đã giúp người dân có cơ hội học nghề, chuyển đổi nghề,

làm ổn định để nâng cao thu nhập, qua đó giúp họ ổn định và nâng cao chất lượng

cuộc sống.

2.2. CÁC LÝ THUYẾT LIÊN QUAN

2.2.1. Lý thuyết về vốn con người

Theo Becker (1967), học được xem là một quyết định đầu tư tối ưu hóa. Giáo

dục sẽ làm tăng năng suất của cá nhân, và cơng nhân có tay nghề cao hơn sẽ được trả

15



lương theo giá trị biên của nó. Nhận định này được Becker (1967) nghiên cứu ở 21

quốc gia OECD từ năm 1991 đến 2005, từ kết quả hồi quy ông nhận định thu nhập

tăng lê rõ ở Ireland, Bồ Đào Nha và Canada trong những năm 2000.

Mincer (1974) cho rằng, cũng giống như vốn hữu hình, muốn có thì con người

phải đầu tư để tích lũy thơng qua giáo dục rèn luyện trong lao động và thuộc về mỗi

người, và nó đem lại cho người sở hữu nó khoản thu nhập. Mức vốn con người được

tích lũy nhiều hay ít tương ứng với năng lực, lượng kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm

mà mỗi người nhận được từ quá trình học tập, đào tạo và lao động. Chúng thường

được biểu hiện qua số năm đi học và số năm từng trải trên thị trường lao động.

Becker (1993), khẳng định khơng có đầu tư nào mang lại lợi nhuận lớn hơ như

đầu tư vào con người, đặc biệt là đầu tư cho giáo dục và đào tạo. Vốn con người là sự

tích lũy đầu tư trước đó vào giáo dục, đào tạo, sức khỏe và những nhân tố khác để làm

tăng năng suất lao động. Bất kỳ hoạt động nào làm tăng năng suất lao động đều được

xem là đầu tư vào vốn con người. Đầu tư vào vốn con người không chỉ chi những chi

phí cho giáo dục và đào tạo chính thức mà còn cả về sức khỏe, cho di cư, tìm việc và

chăm sóc trẻ trước khi đi học. Về mặt lợi ích cá nhân, người có trình độ học vấn và

nghề nghiệp cao hơn có thu nhập cao hơn; người có kinh nghiệm, thâm niên cơng tác

cao hơn có mức thu nhập cao hơn; người có trình độ học vấn và nghề nghiệp cao hơn

ít bị thất nghiệp hơn.

Borjas (2005) cho rằng, người lao động quyết định học ngành nghề gì và đến

mức nào giống như đưa ra quyết định đầu tư gắn với giả thuyết cơ bản trong kinh tế

học – mọi người đều tối đa hóa lợi ích. Quyết định đầu tư vào giáo dục cũng giống

như quyết định đầu tư vào vốn hữu hình, khi đó người ta phải xem xét dòng thu nhập

quy về giá trị hiện tại ròng giữa các phương án khác nhau, đi học ngành nghề nào đó

hay khơng đi và giữa các ngành nghề với nhau. Phương án đi học ngành nghề nào sẽ

được lựa chọn khi nó đem tới dòng thu nhập cao nhất có thể.

2.2.2. Mơ hình quyết định đi học

Nguyễn Bác Ngọc (2008) cho rằng, khi tham gia học tập, chúng ta phải trả mức

phí trước mắt và thu lợi từ các dòng thu nhập cao hơn trong tương lai. Giả định xuất

phát từ so sánh giữa kiếm tiền hiện tại với kiếm tiền được trong tương lai. Giả sử bạn



16



đang gửi một khoản tiền “P” trong ngân hàng và nhận được mức lãi suất “r” nào đó,

đến năm thứ n thì giá trị tương lai “V” của khoản tiền nay trong một năm sẽ là

V = P*(1+r)n hay P(V) = V/(1+r)n

Với một người đi học trong vòng 4 năm (giả định người đi học ở tuổi 18 và học

xong ở tuổi 22) để lấy một tấm bằng đại học, anh ta phải bỏ ra chi phí cho 4 năm học

lần lượng là C0, C1, C2, C3 và mức thu nhập dự kiến trong tương lai là và số năm làm

việc trước khi về hưu là “T” thì chúng ta có thể tính được giá trị hiện tại của tấm bằng

là:

Như vậy, về mặt lý thuyết người đó chỉ nên đi học khi giá trị hiện tại P(v) > 0



Hình 2.1. Quyết định đi học

Nguồn: Harvey B.King – kinhtehoc.com, 2006

Đường (1): Thể hiện dòng thu nhập khi tốt nghiệp đại học (giả định rằng sinh

viên tốt nghiệp đại học phải mất một vài năm mới có thể đuổi kịp kinh nghiệm làm

việc của những người chỉ tốt nghiệp trung học đã đi làm trước đó).

Đường (2): thể hiện dòng thu nhập khi tốt nghiệp phổ thông trung học.

Vùng (I): chi phí cho sách vỡ, đồ dùng học tập, học phí và những khoảng chi

phí khác khơng phải là chi phí sinh hoạt.

Vùng (II): phần thu nhập bị mắt nhìn thấy (do không đi làm và dành thời gian đi

học), đây chính là chi phí cơ hội của thời gian bỏ ra đi học.

Vùng (III): thu nhập có được với tấm bằn đại học hoặc bằng nghề sau khi đã

qua đào tạo.

Người đó nên đi học khi giá trị hiện tại của vùng (III) lớn hơn giả định hiện tại

của tổng vùng (I) và vùng (II).

17



Như vậy, giáo dục làm tăng thu nhập cho người lao động và giúp người lao

động cải thiện cơ hội nghề nghiệp theo 3 hướng:

Một là, tích lũy vốn con người với kiến thức, kỹ năng và phẩm chất từ môi

trường giáo dục mang lại.

Hai là, chứng thực năng lực của người lao động ở một trình độ nhất định cũng

như khả năng tay nghề được trang bị từ trường học.

Ba là, tích lũy thơng tin (vốn kiến thức) giúp họ có thể tìm được cơng việc phù

hợp hơn.

Như vậy, động lực người lao động quyết định đi học hay tham gia ngành nghề

gì đều mở ra cơ hội nghề nghiệp, tìm kiếm việc làm và khả năng tạo ra thu nhập cao

hơn người có trình độ học vấn thấp. Ngoài ra, học nghề giúp cho lao động có điều kiện

để chuyển đổi nghề nghiệp, sẵn sàng rời bỏ khu vực nông nghiệp (khi nông nghiệp

không còn là nguồn thu nhập chính hoặc những hộ bị giải tỏa, thu hồi đất) để tìm kiếm

việc làm với một cơng việc mới, đó là điều kiện thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu lao động

khu vực nông thôn.

2.2.3. Lý thuyết chuyển dịch cơ cấu lao động

Reardon (1997) đưa ra các nhân tố “đẩy” bao gồm tăng trưởng dân số, tăng sự

khan hiếm của đất có thể sản xuất, giảm khả năng tiếp cận với đất phì nhiêu, giảm độ

mà mỡ và năng suất của đất, giảm các nguồn lực tự nhiên cơ bản, giảm doanh thu đối

với nông nghiệp, tăng nhu cầu tiền trong cuộc sống, các sự kiện và các cú sốc xảy ra,

thiếu khả năng tiếp cận đối với các thị trường đầu vào cho sản xuất nơng nghiệp, thiếu

vắng các thị trường tài chính nơng thơn. Hơn nữa, ông cũng gợi ý các nhân tố “kéo”

bao gồm doanh thu cao hơn của lao động phi nông nghiệp, doanh thu cao hơn khi đầu

tư vào lĩnh vực phi nông nghiệp, rủi ro thấp hơn của khu vực phi nông nghiệp so với

các khu vực nông nghiệp, tạo ra tiền mặt để đáp ứng các nhu cầu chi tiêu của gia đình

và nhiều cơ hội đầu tư. Tóm lại, nhân tố “kéo” đưa ra những sự hấp dẫn của khu vực

phi nông nghiệp đối với người nông dân. Nhân tố này liên quan đến áp lực hoặc các

hạn chế của các khu vực nông nghiệp buộc nông dân tìm kiếm thu nhập khác nếu họ

muốn cải thiện các điều kiện sống của mình.

Quan hệ “kéo” và “đẩy” đưa ra một khung khổ tương đối toàn diện cho việc xác

định sự tham gia của hộ nông dân vào các hoạt động phi nông nghiệp. Tuy nhiên, công

18



cụ này chỉ phân tích cung lao động của hộ. Về mặt thực tiễn, hai hộ gia đình có các

điều kiện giống nhau nhưng ở hai vùng địa lý khác nhau, đặc điểm cá nhân hộ gia đình

khác nhau sẽ có mức độ tham gia khác nhau. Nói cách khác, các đặc điểm cá nhân, đặc

điểm vùng cũng ảnh hưởng đến sự tham gia hoạt động phi nông nghiệp của hộ nông

dân. Thêm vào đó, còn có những yếu tố của chính bản thân người lao động. Điều này

giải thích tại sao hai người có cùng điều kiện như nhau nhưng lại chọn cách phản ứng

khác nhau khi tham gia vào hoạt động phi nơng nghiệp.

Nguyễn Mạnh Hải và Trần Tồn Thắng (2009), q trình chuyển dịch cơ cấu

lao động nơng thơn có tác động từ hai yếu tố khách quan và chủ quan. Về mặt khách

quan, môi trường kinh tế thuận lợi cho q trình chuyển dịch từ nơng nghiệp sang các

ngành nghề phi nông nghiệp khác là điều kiện cực kỳ quan trong. Các điều kiện chủ

quan của người lao động cũng là yếu tố tác động đến quá trình này, từng cá nhân người

ở nơng thơn có khả năng chuyển dịch lao động cao thì kéo theo cơ cấu lao động chung

cũng biến đổi theo. Trong đó các yếu tố về trình độ học vấn, tuổi tác, giới tính, thu

nhập, đặc điểm cá nhân của hộ…có tác động đến quyết định chuyển đổi nghề nghiệp

từ lĩnh vực nông nghiệp sang lĩnh vực phi nơng nghiệp.

Các yếu tố trên có ý nghĩa rất quan trọng khi chúng ta xem xét các yếu tố ảnh

hưởng đến việc chuyển dịch ơ cấu lao động việc làm ở nông thôn, cũng như khi đưa ra

các giải pháp để khuyến khích chuyển dịch cơ cấu lao động, việc làm do bản chất hoạt

động này là khác nhau.

2.3. CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

Theo Becker (1967), học được xem là một quyết định đầu tư tối ưu hóa. Giáo

dục sẽ làm tăng năng suất của các cá nhân và cơng nhân có tay nghề cao hơn sẽ được

trả lương cao hơn, nếu thị trường lao động là hoàn hảo và lao động được trả lương theo

giá trị biên của nó, nhận định này được Becker nghiên cứu ở 21 quốc gia OECD trong

những năm từ 1991 đến 2005, qua kết quả chạy hồi quy, ông nhận định IRR (suất sinh

lợi) tăng lên rõ rệt ở Ireland, Bồ Đào Nha và Canađa.

Theo Mincer (1974), thực hiện một phép hồi qui bình phương tối thiểu, trong đó

sử dụng logarit tự nhiên của thu nhập làm biến phụ thuộc và số năm đi học cũng như

số năm kinh nghiệm và bình phương của nó làm các biến độc lập. Hệ số ước lượng

cho số năm đi học cho ta biết phần trăm gia tăng của tiền lương khi thời gian đi học

19



tăng thêm một năm. Thông qua giả định rằng các cá nhân không khác nhau về năng

lực bẩm sinh, hệ số ước lượng cho số năm đi học có thể được lý giải là suất sinh lợi

của việc đi học.

Nguyễn Quang Tuyến và Lê Văn Thăm (2014) nghiên cứu về “Đánh giá hiệu

quả đào tạo nghề cho lao động nơng thơn ở huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long” với mục

tiêu đánh giá thực trạng đào tạo nghề; yếu tố tác động hiệu quả đào tạo nghề; hiệu quả

đào tạo nghề; và giải pháp nâng cao hiệu quả đào tạo nghề cho lao động nông thôn.

Nghiên cứu được thực hiện ở bốn xã của huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long. Nghiên

cứu được thực hiện với phương pháp phỏng vấn bán cấu trúc, cấu trúc và thảo luận

nhóm. Kết quả nghiên cứu cho thấy bốn nhóm nhân tố ảnh hưởng hiệu quả đào tạo

nghề là: học nghề và phát triển nghề; giáo viên và học viên; trang thiết bị dạy nghề; kỹ

năng dạy nghề và học nghề. Hiệu quả đào tạo nghề lao động nơng thơn huyện Tam

Bình cho thấy học viên có việc làm sau học nghề chiếm 87,1%. Các yếu tố tác động

hiệu quả đào tạo nghề gồm: chính sách, giáo viên, chương trình dạy nghề, học viên và

cơ sở vật chất. Bên cạnh đó, có bốn nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả đào tạo nghề

lao động nơng thơn huyện Tam Bình.

Huỳnh Thị Ái Nhi (2015) nghiên cứu “Phân tích tác động của đào tạo nghề đối

với người nông dân tại thành phố Tây Ninh”. Mục tiêu của nghiên cứu này nhằm đánh

giá sự tác động của chính sách đào tạo nghề đến người nơng dân tại 03 xã nơng thơn

Bình Minh, Thạnh Tân, Tân Bình,thuộc Thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh bằng

phương pháp định tính. Đề tài thực hiện điều tra trực tiếp 5 là cán bộ phòng Lao động

thương binh-xã hội, Hội nông dân thành phố, 3 là cán bộ công tác tại Hội nông dân

của 3 xã nông thôn; 10 người nông dân đã tham gia học nghề. Sử dụng thông tin điều

tra đó để phân tích các mục tiêu đề ra. Kết quả nghiên cứu cho thấy, thu nhập; chất

lượng cuộc sống của người lao động sau khi tham gia học nghề có nhiều thay đổi. Các

yếu tố từ phía người nơng dân như trình độ học vấn, thu nhập, sự am hiểu Đề án 1956

và nhận thức lợi ích từ học nghề có ảnh hưởng đến học nghề của người lao động. Các

yếu tố như chương trình, nội dung dạy nghề; tuyên truyền, định hướng nghề; đội ngũ

cán bộ quản lý, giảng viên;điều tra nhu cầu học nghề; cơ sở vật chất cũng có tác động

đến học nghề của người nông dân tại Thành phố Tây Ninh.



20



Trần Vĩnh Phú (2015) nghiên cứu về “Đánh giá tác động của đào tạo nguồn

nhân lực đến thu nhập của hộ gia đình trên địa bàn huyện Thạnh Phú, tỉnh Bến Tre”.

Nghiên cứu đã thực hiện khảo sát 180 hộ gia đình, trong đó 90 hộ tham gia đào tạo

nghề và 90 khơng tham gia đào tạo nghề. Kết quả khảo sát thu thập số liệu thống kê và

phân tích mở rộng sử dụng phương pháp hồi quy tối thiểu (OLS), kết hợp với phương

pháp đánh giá tác động kết nối điểm xu hướng (Propensity score matching) cho thấy

bằng chứng về sự khác biệt trong nhập của hộ gia đình có tham gia và khơng có tham

gia chương trình đào tạo nghề. Nghiên cứu đi sâu vào phân tích sự tăng thu nhập giữa

người được đào nghề và người không được đào tạo nghề, để có sự so sánh, đánh giá sự

chênh lệch trong thu nhập do tác động bởi yếu tố đào tạo mang lại, trong đó có những

ngành nghề đào tạo mang lại sự tăng thu nhập đáng kể, ngoài ra có những ngành đào

tạo khơng mang lại hiệu quả.

Nguyễn Quang Tuyến và Lê Hoàng Phúc (2016) nghiên cứu về “Thực trạng lao

động nông thôn, ảnh hưởng của đào tạo nghề, việc làm và thu nhập của lao động tỉnh

Vĩnh Long” nhằm tìm hiểu: (1) Thực trạng lao động, đào tạo nghề, việc làm và thu

nhập, (2) Ảnh hưởng của đào tạo ngh,(3) Thuận lợi, khó khăn, cơ hội và thách thức

của đào tạo nghề và tìm kiếm việc làm, (4) Giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo

nghề, tạo việc làm và nâng cao thu nhập. Nghiên cứu được thực hiện thơng qua thảo

luận nhóm và phỏng vấn 180 hộ. Phân tích số liệu bằng thống kê mơ tả, phân tích bảng

chéo, hồi quy tương quan và ma trận SWOT. Kết quả nghiên cứu cho thấy: (1) Vĩnh

Long có lao động nơng thơn dồi dào, trình độ học vấn có hạn; nhận thức của lao động

học nghề tốt, có nhu cầu học nghề. Tuy nhiên, khả năng gắn kết giữa cơ sở dạy nghề,

doanh nghiệp và người học còn hạn chế; (2) Các nhân tố như số lần học nghề, thời

gian học, đa dạng nghề và liên kết sau đào tạo ảnh hưởng đến thu nhập nông hộ, (3)

Đào tạo nghề còn gặp khó khăn như trang thiết bị khơng đủ, lao động khơng có thời

gian học.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2

Chương 2 trình bày cơ sở lý thuyết nghiên cứu của đề tài. Nêu ra các khái niệm

về đào tạo nghề, thu nhập của hộ gia đình nơng thơn. Trình bày các lý thuyết liên quan

bao gồm lý thuyết về vốn con người, mơ hình đi học và lý thuyết về chuyển dịch cơ

21



cấu lao động. Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến đề tài gồm các nghiên cứu

trong và ngồi nước. Trên cơ sở đó, tác giả đề tài đề xuất mơ hình nghiên cứu phù hợp

cho thực tế địa bàn Kiên Giang nhằm đánh giá tác động của đào tạo nghề đối với thu

nhập của hộ gia đình nông thôn.



CHƯƠNG 3. TỔNG QUAN ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU

3.1. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN TỈNH KIÊN GIANG

Kiên Giang là tỉnh thuộc vùng đồng bằng sơng Cửu Long, nằm ở phía Tây Nam

của Việt Nam, kết nối với các nước Đông Nam Á (ASEAN), đặc biệt là Campuchia và

Thái Lan bằng đường bộ, đường biển và đường hàng không. Tỉnh Kiên Giang có diện

tích tự nhiên 6.346 km2, dân số 1.736.915 người, mật độ 267 người/km 2. Phía Đơng

Bắc, giáp các tỉnh An Giang, Thành phố Cần Thơ và tỉnh Hậu Giang; phía Nam, giáp

các tỉnh Cà Mau và Bạc Liêu; phía Tây Nam, giáp vịnh Thái Lan với hơn 200 km bờ

biển và các đảo; phía Bắc, giáp Campuchia, với đường biên giới dài 56,8 km.

Kiên Giang có 4 vùng đất đai chính là vùng phù sa ngọt thuộc tây sơng Hậu,

vùng phèn ngập lũ thuộc tứ giác Long Xuyên, vùng nhiễm mặn thuộc bán đảo Cà Mau

và vùng đồi núi, hải đảo ở hai huyện Phú Quốc và Kiên Hải. Trong đó, Đất nơng

nghiệp chiếm 64,2% diện tích tự nhiên, đất rừng chiếm 122,8 nghìn ha, đất chuyên

dùng 35,4 nghìn ha, đất ở 10,1 nghìn ha.

Nền nơng nghiệp của Kiên Giang là nông nghiệp trồng lúa nước. Đất canh tác

không tập trung nhưng phần lớn phân bố ở ven các trung tâm huyện. Xen kẽ với việc

trồng lúa nước là các loại hoa màu và một số cây có giá trị cơng nghiệp cao như dừa,

khóm...



22



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×