Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Tính mới của ý tưởng xây dựng đề án

Tính mới của ý tưởng xây dựng đề án

Tải bản đầy đủ - 0trang

lượng và kiểm định chất lượng trong cơ sở GD&ĐT” . Bằng việc phân tích các khái

niệm, nội dung có liên quan đến mơi trường văn hóa nhà trường, tác giả Nguyễn Thị Mỹ

Lộc đã đóng góp một nội dung quan trọng vào lý luận TQM. Ngồi ra còn nhiều bài viết,

cơng trình nghiên cứu của các nhà khoa học khác như: Đặng Xuân Hải, Trần Khánh Đức,

Nguyễn Phương Nga, Phạm Thành Nghị… cũng đã đề cập đến quản lý chất lượng nói

chung, TQM nói riêng.

Có thể thấy, lĩnh vực quản lý chất lượng giáo dục nói chung, quản lý chất lượng đào

tạo của các trường Đại học Việt Nam nói riêng đã có nhiều nghiên cứu từ các hướng tiếp

cận khác nhau. Trong đó vấn đề quản lý chất lượng đào tạo theo tiếp cận TQM khá được

chú ý. Mặc dù đây còn là hướng tiếp cận mới mẻ và nhiều thách thức, song với việc có

ngày càng nhiều cơng trình nghiên cứu đã làm vững chắc thêm cơ sở lý luận để các

trường Đại học nghiên cứu tìm kiếm các biện pháp triển khai phù hợp với điều kiện cụ

thể của từng trường.

Qua các nghiên cứu trong, tác giả nhận thấy quản lý chất lượng giáo dục theo triết

lý TQM là định hướng phát triển chất lượng đầy tiềm năng trong việc thực hiện mục tiêu

nâng cao chất lượng giáo dục. Đặc biệt là giáo dục Đại học, nơi đào tạo nguồn nhân lực

chất lượng cao cho đất nước thì đây thực sự là hướng đi cần thiết. Việc nhận diện đúng và

đáp ứng tối đa mọi nhu cầu của khách hàng, cải tiến liên tục quản lý chất lượng đào tạo

hay đòi hỏi sự tham gia của mọi thành viên trở thành chìa khóa thành cơng cho các

trường. Nhận thấy sự cần thiết đó, tác giả đã tiến hành nghiên cứu biện pháp quản lý chất

lượng đào tạo ở trường ĐH ĐDND với mong muốn góp phần nâng cao chất lượng đào

tạo của nhà trường trong giai đoạn hiện nay.

4. Kết quả và tác động của đề án

4.1. Những kết quả đã đạt được

- Nhà trường đã chú trọng đến công tác định hướng chất lượng cho các thành viên

trong nhà trường, vì vậy phần lớn CBQL, GV và CBNV có nhận thức rõ về vai trò, tầm

quan trọng của chất lượng đào tạo, quản lý chất lượng đào tạo cũng như các vấn đề liên

quan đến việc thỏa mãn nhu cầu khách hàng và cải tiến liên tục chất lượng.

- Lãnh đạo nhà trường tâm huyết đối với hoạt động quản lý chất lượng đào tạo,

thực hiện đầy đủ các cam kết về chất lượng, thực hiện tốt công tác chỉ đạo việc thực hiện

các kế hoạch quản lý chất lượng đào tạo.

- Hệ thống thông tin phản hồi của khách hàng đã được nhà trường thiết lập để thu

thập các góp ý của khách hàng làm cơ sở cho việc cải tiến chất lượng.

- Hoạt động đào tạo và bồi dưỡng cho CBQL, GV và CBNV được thực hiện hiệu

quả nhằm nâng cao năng lực thực hiện công việc cho các thành viên.

- Công tác kiểm tra đánh giá việc thực hiện kế hoạch chất lượng được thực hiện

đúng các nguyên tắc, quy định, vì thế kết quả kiểm tra đánh giá có giá trị cao và được sử

dụng thích hợp trong việc cải tiến chất lượng.

- Nhà trường đã chú trọng đến việc thực hiện cải tiến liên tục chất lượng đào tạo để

không ngừng nâng cao chất lượng của nhà trường và đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách

hàng (Sinh viên, doanh nghiệp…).

Ths. Nguyễn Anh Tiến



- Lãnh đạo nhà trường đã xây dựng và vận hành ổn định thống nhất hệ thống đảm

bảo chất lượng, làm nền tảng quan trọng cho việc áp dụng mơ hình TQM.

- Mơi trường văn hóa chất lượng đang được lãnh đạo nhà trường quan tâm xây

dựng trong nhà trường.

- Nhà trường đã xây dựng được một hệ thống thông tin truyền thông hiệu quả,

thống nhất.

4.2. Những mặt hạn chế

- Thiếu những biện pháp tác động mang tính hệ thống đến nhận thức của đội ngũ

CBQL, GV, CBNV và SV về chất lượng đào tạo, quản lý chất lượng đào tạo, các định

hướng chiến lược của nhà trường.

- Hiệu quả khảo sát nhu cầu khách hàng chưa cao do các kênh kênh khảo sát nhu

cầu của khách hàng chưa đa dạng và quy trình khảo sát ý kiến khách hàng chưa chặt chẽ.

- Hiệu quả của mô hình làm việc đội, nhóm chưa được khai thác tốt, còn thiếu các

chính sách khuyến khích các CBQL, GV và CBNV tham gia mơ hình làm việc này.

- Cơng tác đánh giá hiệu quả cải tiến chưa chặt chẽ vì vậy, hoạt động theo dõi, đo

đạc, phân tích kết quả trước và sau cải tiến chưa được quan tâm đúng mức.

- Hoạt động thống kê hàng ngày các dữ liệu về hoạt động đào tạo chưa khai thác

tối đa hiệu quả các cơng cụ thống kê.

- Văn hóa chất lượng đã được hình thành nhưng chưa thực sự vững chắc.

4.3. Nguyên nhân và những vấn đề đặt ra cần giải quyết

- Nguyên nhân những kết quả đạt được

Quản lý chất lượng đào tạo là một nhiệm vụ quan trọng bậc nhất, đồng thời cũng

là nhiệm vụ hết sức khó khăn của một trường Đại học để đưa chất lượng đào tạo của nhà

trường tiếp cận được các chuẩn mực chất lượng trong và ngồi nước. Khơng thể phủ

nhận, những kết quả đã đạt được của trường ĐH ĐDND là to lớn, thể hiện sự nỗ lực rất

lớn của thành viên trong nhà trường. Những thuận lợi chính trong q trình quản lý chất

lượng đào tạo của trường Đại học Điều dưỡng Nam Định có thể kể đến như:

+ Nhà trường có đội ngũ lãnh đạo tâm huyết, hiểu biết sâu sắc về chất lượng và

luôn đặt chất lượng đào tạo lên hàng đầu, vì thế quá trình quản lý chất lượng đào tạo luôn

nhận được sự chỉ đạo xuyên suốt và quyết liệt của Ban giám hiệu nhà trường.

+ Trường Đại học Điều dưỡng Nam Định là một trường Đại học công lập, đang

từng bước thực hiện tự chủ trong vấn đề tài chính và nhân sự vì thế có nhiều thuận lợi

trong quá trình quản lý chất lượng đào tạo.

+ Có sự hợp tác tích cực của đa số CBQL, GV, CBNV và SV trong quá trình quản

lý chất lượng đào tạo từ việc cung cấp thông tin phản hồi, hợp tác trong việc cải tiến,

trong hoạt động kiểm tra đánh giá...

- Nguyên nhân các hạn chế:

Bên cạnh những thuận lợi nêu trên, trường Đại học Điều dưỡng Nam Định cũng

gặp phải một số khó khăn trong q trình triển khai quản lý chất lượng đào tạo theo tiếp

cận TQM. Nguyên nhân của những hạn chế đó là:



Ths. Nguyễn Anh Tiến



+ Lãnh đạo trường còn thiếu biện pháp giám sát hoạt động định hướng chất lượng,

định hướng chiến lược của CBQL tới đội ngũ CBQL, GV, CBNV trong đơn vị.

+ Công tác quản lý hoạt động khảo sát ý kiến khách hàng chưa được thực hiện

chặt chẽ.

+ Nhận thức về việc đánh giá hiệu quả cải tiến chưa đầy đủ do đó quy định về vấn

đề này vẫn còn thiếu.

+ Nhận thức và năng lực tổ chức mơ hình làm việc đội, nhóm chưa cao, do đó cách

thức thực hiện mơ hình này trên thực tế chưa mang lại hiệu quả tương xứng.

+ Thiếu các biện pháp mang tính hệ thống trong triển khai xây dựng và phát triển

văn hóa chất lượng trong nhà trường.

- Những vấn đề đặt ra cần giải quyết

Tổng hợp từ những đánh giá về thực trạng quản lý chất lượng đào tạo và mức độ

đáp ứng các yêu cầu và điều kiện triển khai TQM trong quản lý chất lượng đào tạo ở

trường Đại học Điều dưỡng Nam Định, tác giả nhận thấy các vấn đề đặt ra cần giải quyết

trong thời gian tiếp theo là:

- Nghiên cứu và triển khai các hình thức và nội dung truyền thơng mang tính hệ

thống đến đội ngũ CBNV và GV, SV về các vấn đề liên quan đến chất lượng đào tạo,

quản lý chất lượng đào tạo theo mơ hình TQM.

- Cơng khai chính sách chất lượng, tầm nhìn, sứ mạng của nhà trường lên các

trang thông tin nội bộ để mọi thành viên trong nhà trường có thể tiếp cận.

- Rà sốt, hồn thiện quy trình tổ chức lấy ý kiến phản hồi của các đối tượng

khách hàng, bổ sung thêm yêu cầu giải trình việc sử dụng các ý kiến đóng góp của các

đối tượng khách hàng vào quá trình cải tiến chất lượng.

- Nghiên cứu cách thức, nội dung và các yêu cầu cần thiết khi xây dựng mơ hình

đội, nhóm làm việc để triển khai thành cơng mơ hình này.

- Đẩy mạnh việc phân tích và đánh giá hiệu quả cải tiến, bổ sung vào quy trình

thực hiện các dự án cải tiến.

- Khai thác tốt hơn các công cụ thống kê để làm cơ sở cho việc theo dõi, kiểm

soát, cải tiến quá trình đào tạo của nhà trường.

5. Dự kiến về cách thức đánh giá kết quả

Để nghiên cứu, tác giả sử dụng hai phương pháp tiếp cận: Tiếp cận hệ thống và

tiếp cận quá trình.

Đọc, tra cứu các tài liệu, cơng trình khoa học, sách, báo có liên quan đến đề tài;

phân tích, tổng hợp, trích dẫn và khái quát hóa các vấn đề có liên quan đến TQM, quản lý

chất lượng đào tạo theo tiếp cận TQM tại trường Đại học Điều dưỡng Nam Định.

+ Phương pháp phỏng vấn sâu: Thực hiện đối với lãnh đạo nhà trường, chủ nhiệm

bộ môn, trưởng bộ phận, GV, CBNV và SV để thu thập ý kiến góp ý về hoạt động quản

lý chất lượng đào tạo trong nhà trường.

+ Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: Tác giả khảo sát 4 đối tượng: CBQL, GV,

CBNV và SV để thu thập thông tin về thực trạng quản lý chất lượng đào tạo của nhà

trường.

Ths. Nguyễn Anh Tiến



+ Phương pháp quan sát, nghiên cứu hồ sơ, tổng kết kinh nghiệm nhằm thu thập

những thơng tin cần thiết phục vụ cho đề án;

Ngồi ra, tác giả sẽ sử dụng phương pháp thống kê toán học trong xử lý số liệu

khảo sát thực tiễn và tổng hợp ý kiến đánh giá về các đề xuất của đề án. Cụ thể như sau:

5.1. Hoạch định chất lượng

Hoạch định chất lượng là giai đoạn đầu tiên trong quá trình quản lý chất lượng đào

tạo, bao gồm hoạt động xác định mục tiêu, các phương tiện nguồn lực và biện pháp nhằm

thực hiện được mục tiêu chất lượng đã đề ra. Với vị trí như vậy, giai đoạn hoạch định chất

lượng sẽ giúp định hướng phát triển chất lượng cho toàn bộ nhà trường, đồng thời khai thác

hiệu quả hơn các nguồn lực và tiềm năng trong dài hạn góp phần làm giảm chi phí cho chất

lượng.

Nội dung của giai đoạn hoạch định chất lượng đào tạo theo tiếp cận TQM ở trường

Đại học bao gồm những hoạt động sau:

- Xác định những mục tiêu chất lượng tổng quát và chính sách chất lượng

Điều quan trọng trước tiên đối với mỗi trường Đại học là phải có một chủ trương rõ

ràng về chất lượng. Đó chính là việc thiết lập chính sách chất lượng, hay còn gọi là tuyên

ngôn về sự cam kết cung cấp một nền giáo dục Đại học có chất lượng. Chính sách chất

lượng phải phù hợp với mục tiêu của nhà trường, bao gồm việc cam kết đáp ứng các yêu

cầu và cải tiến liên tục hiệu lực của hệ thống quản lý chất lượng. Lãnh đạo nhà trường cần

truyền đạt chính sách chất lượng đến các thành viên trong nhà trường để họ thấu hiểu và

hướng các hoạt động tác nghiệp của mình đến mục tiêu chất lượng chung của nhà trường.

Cùng với việc xây dựng chính sách chất lượng, lãnh đạo của nhà trường cũng phải thiết lập

mục tiêu chất lượng tại các cấp và bộ phận chức năng liên quan, trong đó mục tiêu chất

lượng phải đảm bảo đo được và nhất quán với chính sách chất lượng.

- Xây dựng tầm nhìn, sứ mạng, hệ thống giá trị cốt lõi và chia sẻ tới mọi thành viên

trong nhà trường để họ nhận thức đầy đủ và thấu hiểu được

Dựa trên mục tiêu chung, các trường Đại học phải xây dựng được tầm nhìn, sứ

mạng và hệ thống giá trị cốt lõi tương ứng. Việc xác định rõ sứ mạng, tầm nhìn, chọn lọc

những giá trị cốt lõi sẽ làm cơ sở cho các nhà trường tổ chức và quản lý mọi hoạt động;

hoạch định chiến lược phát triển một cách khoa học và tạo động lực cho mọi hoạt động

của nhà trường trong xu thế phát triển. Đồng thời, việc tuyên bố và chia sẻ sứ mạng, tầm

nhìn, giá trị của các trường Đại học sẽ là kim chỉ nam, giúp các thành viên hiểu rõ hơn

định hướng chiến lược của nhà trường và chính điều đó sẽ tạo ra sự liên kết và sự thống

nhất trong hành động của các thành viên.

Việc truyền tải tầm nhìn, sứ mạng, giá trị đến các đối tượng liên quan trong và

ngoài nhà trường có thể được thực hiện bằng nhiều con đường khác nhau: Đăng tải lên

website chính thức của nhà trường, chia sẻ của lãnh đạo qua các buổi gặp mặt, đối thoại,

treo áp-phích lớn ở các vị trí trung tâm của nhà trường để mọi người dễ dàng tiếp cận…

- Nghiên cứu xác định các đối tượng khách hàng của nhà trường

Trong các trường Đại học, khách hàng được hiểu theo nghĩa rộng nhất là những

người sử dụng sản phẩm giáo dục. Như vậy, có khách hàng bên ngồi và khách hàng bên

Ths. Nguyễn Anh Tiến



trong. Khách hàng bên ngoài gồm: Người học, nhà tuyển dụng lao động, chính phủ, các

bộ, ngành, địa phương, các tổ chức tài trợ…. Khách hàng bên trong chính là CB QL, GV

và CBNV của nhà trường.

- Xác định nhu cầu và đặc điểm nhu cầu của các loại khách hàng

Các đối tượng khách hàng khác nhau có nhu cầu chất lượng cũng khác nhau. Vấn

đề đặt ra là cần thiết xác định nhu cầu và đặc điểm nhu cầu của từng loại khách

hàng để thiết kế và tổ chức quá trình đào tạo đáp ứng được nhu cầu đa dạng của họ.

Với xu hướng lấy người học làm trung tâm, vai trò và vị trí của người học ngày

càng trở nên quan trọng, do đó nhà trường cần làm rõ nhu cầu, mong đợi và mức độ hài

lòng của người học về hoạt động đào tạo và tìm cách thỏa mãn tối đa nhu cầu của họ.

Muốn làm được điều đó, nhà trường cần xây dựng quy chế, quy định liên quan đến việc

xác định nhu cầu của người học để thống nhất việc thực hiện trong tồn trường. Các kênh

thơng tin cần được thiết kế sao cho mỗi SV đều có thể bày tỏ nguyện vọng của mình một

cách dễ dàng nhất. Các trường Đại học có thể thu thập ý kiến SV từ nhiều nguồn khác

nhau: Email, hòm ý kiến, kết quả đánh giá môn học, kết quả đánh giá GV, kết quả đánh giá

cuối học kỳ/năm học, diễn đàn SV, hội thảo, đối thoại…Việc triển khai thu thập ý kiến SV

phải được tiến hành xun suốt q trình đào tạo. Ngồi ra, các trường Đại học cũng cần

làm tốt công tác truyền thông để định hướng cho người học, giúp họ hiểu rõ mục đích, ý

nghĩa và tự nguyện, trung thực, tích cực trong việc cung cấp thông tin phản hồi. Thông tin

phản hồi từ người học về hoạt động đào tạo phải được xử lý khách quan, trung thực và

được sử dụng vào việc cải tiến, nâng cao quản lý chất lượng đào tạo.

Nhà tuyển dụng là khách hàng bên ngoài thứ hai của trường Đại học. Đây là đối

tượng sử dụng sản phẩm đào tạo của nhà trường, chính là SV tốt nghiệp, những người đã

được nhà trường trang bị các kiến thức, kỹ năng, thái độ để thực hành nghề nghiệp. Để xác

định được nhu cầu của các đơn vị sử dụng lao động về sản phẩm đào tạo, trường Đại học

cần tiến hành thu thập các thông tin về: Nhu cầu lao động ở các ngành nghề, các yêu cầu về

kiến thức, kỹ năng, thái độ cần có của người tốt nghiệp, các phản hồi của nhà tuyển dụng

về mức độ đáp ứng năng lực của SV tốt nghiệp của trường…Để có được nguồn thơng tin

chính xác đó từ các nhà tuyển dụng, các trường Đại học cần xây dựng quy định cụ thể về

tần suất, thời gian, bộ phận thực hiện, bộ phận xử lý, cách thức thực hiện để thống nhất

trong toàn trường. Kết quả khảo sát cần được gửi đến ban lãnh đạo nhà trường để xem xét,

điều chỉnh (nếu cần thiết) trong xây dựng và phát triển chương trình đào tạo, trong hoạt

động giảng dạy của GV, trong hoạt động học tập của SV…Việc đáp ứng nhu cầu của nhà

tuyển dụng chính là một trong những thước đo quan trọng trong việc đào tạo đáp ứng nhu

cầu xã hội của nhà trường.

Chính phủ, các bộ ngành, địa phương… là nhóm khách hàng bên ngồi thứ ba của

nhà trường. Nhu cầu của nhóm khách hàng này là phát triển nguồn nhân lực cho các ngành

nghề trọng điểm và các ngành nghề đặc biệt nhằm đảm bảo sự phát triển lâu dài cho đất

nước. Để xác định nhu cầu của nhóm khách hàng này, nhà trường cần nghiên cứu kỹ các

chủ trương, chính sách liên quan đến lĩnh vực đào tạo của nhà trường và nhu cầu lao động



Ths. Nguyễn Anh Tiến



của địa phương để có những điều chỉnh phù hợp với tình hình thực tế nhằm mang lại hiệu

quả đào tạo.

Đội ngũ CBQL, GV, NV chính là các khách hàng bên trong của các trường Đại học.

Đây là các đối tượng ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng đào tạo trong nhà trường, bởi họ

là những người tham gia vào việc vận hành hoạt động của nhà trường, trực tiếp duy trì và

cải tiến chất lượng đào tạo. Để xác định nhu cầu của nhóm khách hàng này, bên cạnh việc

khảo sát khách hàng nội bộ định kỳ, các trường cũng cần mở rộng nguồn xác định nhu cầu

từ: họp giao ban cấp trường, họp giao ban cấp phòng, họp tổ bộ mơn, hội nghị, hội thảo,

các buổi đối thoại giữa lãnh đạo nhà trường với tồn thể CBNV, GV…Các kênh thơng tin

này sẽ giúp lãnh đạo nhà trường xác định được nhu cầu của đội ngũ về công tác huấn

luyện, bồi dưỡng, về chế độ đãi ngộ, về môi trường sư phạm… Xác định được nhu cầu,

tâm tư, nguyện vọng của đội ngũ, tìm cách đáp ứng tối đa các nhu cầu đó để họ tận tâm,

cống hiến trí tuệ, nhiệt huyết của mình cho sự nghiệp GD&ĐT của nhà trường là nhiệm vụ

quan trọng hàng đầu để duy trì và nâng cao chất lượng đào tạo ở các trường Đại học.

- Xây dựng kế hoạch chất lượng đào tạo cho từng năm học/giai đoạn

Xây dựng kế hoạch chất lượng đào tạo cho từng năm học/giai đoạn là nội dung cuối

cùng của khâu hoạch định chất lượng nhưng hết sức quan trọng đối với các trường Đại

học, bởi đó là sự cụ thế hố các vấn đề chiến lược thành những kế hoạch cụ thể, khả thi

trong điều kiện thực tế của từng nhà trường.

Dựa vào kết quả thực hiện các nội dung đã xác định ở trên, nhà trường phải lập ra

được kế hoạch chất lượng cụ thể cho từng năm hoặc cho từng giai đoạn. Kế hoạch chất

lượng phải phù hợp với mục tiêu chất lượng, chính sách chất lượng và các định hướng

chiến lược của nhà trường thể hiện qua tầm nhìn, sứ mạng, giá trị của nhà trường. Trên cơ

sở phân tích bối cảnh chung, kế hoạch phải chỉ ra được mục tiêu chất lượng cụ thể trong

năm/giai đoạn cho toàn trường cũng như cho các đơn vị đào tạo. Kế hoạch phải cụ thể hóa

các mục tiêu chất lượng thành các chỉ tiêu chất lượng, chỉ tiêu quá trình và mức độ hài lòng

của khách hàng của các đơn vị đào tạo. Trọng tâm của kế hoạch chất lượng, các trường

phải xây dựng các dự án chất lượng, dự án cải tiến chất lượng, các q trình chính yếu ảnh

hưởng đến hoạt động quản lý chất lượng đào tạo.

Tóm lại, xây dựng kế hoạch chất lượng là giai đoạn đầu tiên nhưng hết sức

quan trọng của quá trình quản lý chất lượng đào tạo của một trường Đại học, nó giúp

tạo lập các yếu tố nền tảng cho quá trình quản lý chất lượng, đồng thời định hướng quá

trình phát triển của toàn bộ nhà trường. Kết quả của giai đoạn này là cơ sở để tiến

hành hoạt động tổ chức quản lý chất lượng đào tạo.

5.2. Tổ chức thực hiện kế hoạch chất lượng

Tổ chức thực hiện chiến lược là khâu phân phối, sắp xếp các nguồn lực để tạo ra một

cơ cấu tổ chức thích hợp đảm bảo thực hiện tốt các mục tiêu đề ra. Để biến các kế hoạch

chất lượng thành hiện thực, các trường Đại học cần:

- Xây dựng cơ cấu tổ chức và cơ chế quản lý thích hợp để thúc đẩy mơ hình đội,

nhóm làm việc trong q trình đào tạo



Ths. Nguyễn Anh Tiến



Trên quan điểm TQM, chất lượng hoạt động của một trường Đại học là kết quả của

một quy trình phức tạp do nhiều người tham gia và nhiều nhân tố tác động. Do đó, nhiệm

vụ của các nhà quản lý là xây dựng cơ chế quản lý và cơ chế phối hợp giữa các thành viên

trong nhà trường, để hình thành các đội nhóm làm việc hiệu quả nhằm thúc đẩy sự hợp tác

giữa các cá nhân từ đó nâng cao chất lượng quá trình đào tạo.

Mỗi nhà trường cần chú trọng xây dựng cơ cấu tổ chức dịch chuyển từ kiểu quản

lý truyền thống sang cơ cấu tổ chức theo đội, theo mạng, tổ chức hàng ngang thật sự linh

hoạt để sao cho mỗi thành viên trong từng vị trí thực sự là một chun gia trong cơng

việc của mình. Các nhà quản lý cần nhận thức sâu sắc rằng những người ở gần các quá

trình nhất sẽ hiểu rõ hơn các q trình đó và do vậy có khả năng cải thiện chất lượng

hồn thành cơng việc hơn những người khác. Muốn vậy, các trường Đại học cần có sự

cam kết ủng hộ vấn đề này từ cấp quản lý cao nhất, đặc biệt cần xây dựng được cơ chế

hợp tác rõ ràng và cởi mở.

- Tổ chức các hoạt động huấn luyện, bồi dưỡng để giúp các thành viên trong nhà

trường có kỹ năng làm việc hiệu quả

Mục đích của hoạt động huấn luyện, bồi dưỡng đội ngũ là để các thành viên trong

nhà trường hiểu được chính xác những mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể cần thiết phải thực

hiện trong khoa, phòng mình, đồng thời cung cấp những kiến thức, kinh nghiệm cần thiết

đối với việc thực hiện kế hoạch. Ngoài ra, việc thường xuyên tổ chức huấn luyện, bồi

dưỡng cho CBNV trong trường cũng là cách để giáo dục về nhận thức, kỹ năng cho họ

nhằm ngăn chặn sai sót q trình thực hiện cơng việc. Đối với GV, việc bồi dưỡng thêm

trình độ chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm sẽ giúp họ cập nhật thêm những kiến thức

mới, đồng thời trau dồi nghiệp vụ để họ thực hiện giảng dạy sáng tạo và hiệu quả hơn.

Việc xây dựng kế hoạch huấn luyện, bồi dưỡng cho CBQL, GV, NV cần được xây

dựng không chỉ dựa trên mục tiêu chất lượng và tầm nhìn của nhà trường mà còn phải

thực sự xuất phát từ nhu cầu và thực tế năng lực của chính họ. Trong q trình triển khai,

ngồi việc đào tạo nội bộ, nhà trường cần kết hợp với các tổ chức bên ngoài để tận dụng

các nguồn lực khác vào việc huấn luyện, bồi dưỡng. Kết quả của quá trình huấn luyện,

bồi dưỡng cần phải được đánh giá khách quan và có các hoạt động thưởng-phạt để khích

lệ đội ngũ.

- Tổ chức lao động khoa học để phát huy tối đa năng lực của các thành viên

trong nhà trường

Quản lý chất lượng đào tạo đòi hỏi khả năng tổ chức lao động khoa học của người

quản lý nhằm phát huy tối đa năng lực của các thành viên nhằm thỏa mãn tối đa nhu cầu

của các đối tượng khách hàng trong và ngoài nhà trường. Nội dung của tổ chức lao động

khoa học trong trường Đại học được cụ thể hóa như sau:

+ Thực hiện phân công lao động hợp lý: Để thực hiện phân công lao động hợp lý,

các nhà quản lý cần xác định được những yêu cầu của từng vị trí cơng việc và tuyển

dụng, bố trí CBQL, GV, CBNV có trình độ chun mơn phù hợp với yêu cầu của công

việc. Đồng thời, cần sử dụng hợp lý những người đã được đào tạo, bồi dưỡng tiếp những



Ths. Nguyễn Anh Tiến



người có khả năng phát triển, luân chuyển và đào tạo lại những người không phù hợp với

cơng việc.

+ Bố trí nơi làm việc cho GV, CBNV đảm bảo các u cầu về khơng gian làm

việc, phòng ốc, chỗ nghỉ ngơi cũng như trang bị đầy đủ các loại thiết bị, dụng cụ làm việc

và giảng dạy cần thiết theo yêu cầu của công việc, đúng nơi và đúng lúc cần thiết.

+ Cải thiện điều kiện làm việc sao cho phù hợp với các quy định hiện hành của nhà

nước, của ngành về lao động và điều kiện thực tế của nhà trường. Việc cải thiện các điều

kiện làm việc như điều kiện tâm sinh lý lao động, điều kiện tâm lý xã hội, chế độ làm việc

nghỉ ngơi… sẽ tác động lớn tới sức khỏe, khả năng làm việc của các thành viên trong nhà

trường, từ đó ảnh hưởng tới năng suất và chất lượng cơng việc.

+ Cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho đội ngũ thông qua cải thiện chế độ

lương thưởng, phúc lợi xã hội, điều kiện làm việc và chăm lo đời sống tính thần cho

CBNV, GV. Đặc biệt, các trường Đại học cần đẩy mạnh hoạt động của các tổ chức chính

trị-xã hội như chi bộ đảng, cơng đồn, đoàn thành niên trong việc tổ chức các hoạt động

phong trào, công tác thăm hỏi, động viên CBNV, GV...để thực sự lôi cuốn được các thành

viên tham gia vào thực hiện mục tiêu chất lượng chung.

+ Củng cố kỷ luật lao động và tổ chức công tác thi đua, khen thưởng: Các nhà

quản lý cần duy trì các biện pháp quản lý thích hợp nhằm tăng cường kỷ luật lao động và

nâng cao tinh thần trách nhiệm của các thành viên đối với cơng việc mình làm nhằm đảm

bảo u cầu chất lượng công việc. Các biện pháp xử lý vi phạm kỷ luật cần được thực

hiện nghiêm túc, khách quan, công bằng và nhân văn. Đồng thời, các nhà quản lý cần

phát động và duy trì các hình thức thi đua giữa các cá nhân và tập thể trong nhà trường

nhằm nâng cao năng suất, chất lượng công việc và tiết kiệm các nguồn lực vật chất cho

nhà trường.

Điều quan trọng là các nhà quản lý cần cụ thể hóa, chính thức hóa các nội dung

trên bằng văn bản và phổ biến tới toàn thể CBQL, GV, CBNV. Tuy nhiên, các nhà quản

lý cần lưu ý, việc xây dựng các văn bản về quy chế tổ chức và hoạt động của nhà trường

phải phù hợp, thống nhất với các quy định của nhà nước.

5.3. Chỉ đạo việc thực hiện kế hoạch chất lượng

Đây là khâu tác động, ảnh hưởng tới hành vi, thái độ của những người khác nhằm

đạt được các mục tiêu chất lượng đã đề ra. Để thực hiện tốt kế hoạch chất lượng, các nhà

quản lý ở các trường ĐH cần:

- Thực hiện quyền chỉ huy và hướng dẫn triển khai các nhiệm vụ

Các nhà quản lý cần thực hiện đúng trách nhiệm và quyền hạn của mình để giao

nhiệm vụ cụ thể cho các cá nhân, đơn vị theo đúng kế hoạch và nhiệm vụ công tác. quản

lý chất lượng đào tạo theo tiếp cận TQM đòi hỏi các nhà quản lý các trường ĐH phải thực

hiện việc ủy quyền hợp lý, trong đó lưu ý đến việc ủy quyền phải rõ ràng, khả thi và phải

được thực hiện thông qua các quyết định. Lãnh đạo cũng cần chia sẻ thông tin, cung cấp

cho những người cấp dưới kỹ năng, nguồn lực, thẩm quyền, động cơ để họ thực hiện

phần việc được giao, đồng thời đòi hỏi ở họ trách nhiệm giải trình đối với những quyết

định, hành động và kết quả công việc của họ.

Ths. Nguyễn Anh Tiến



- Thường xuyên đôn đốc, động viên tới các thành viên trong nhà trường thực hiện

tốt các mục tiêu chất lượng

Một trong những đặc điểm quan trọng của mơ hình TQM là có sự tham gia của mọi

cấp, mọi bộ phận, mọi nhân viên vào việc thực hiện mục tiêu chung của tổ chức. Do vậy,

lãnh đạo các trường Đại học phải làm tốt công tác đôn đốc, động viên, khuyến khích để

các thành viên trong trường có trách nhiệm thực hiện các kế hoạch, nhận thức một cách

đầy đủ mục tiêu và các định hướng phát triển chất lượng của nhà trường và sự cần thiết

của chúng. Lãnh đạo cũng cần giải thích chính xác những nhiệm vụ kế hoạch chất lượng

cụ thể cần thiết phải thực hiện để mọi người thống nhất trong nhận thức và hành động.

Ngồi ra, lãnh đạo nhà trường còn cần hỗ trợ, theo dõi tiến độ thực hiện nhiệm vụ của các

đơn vị để nắm được tình hình triển khai kế hoạch, khắc phục những sai sót, điều chỉnh

cơng việc để đảm bảo hoạt động được liên tục và có sự hợp tác giữa các đơn vị.

- Giám sát và điều chỉnh quá trình thực hiện kế hoạch chất lượng

Trong quá trình chỉ đạo thực hiện kế hoạch chất lượng, các nhà quản lý cần lưu ý

đến công tác giám sát và điều chỉnh. Đây là thành tố quan trọng của công tác chỉ đạo.

Việc giám sát và điều chỉnh cần được thực hiện dựa trên quá trình thu thập và xử lý thông

tin từ hệ thống các dữ liệu thống kế hằng ngày và hệ thống các chỉ tiêu đo lường mục tiêu

của nhà trường. Người quản lý phải thật sự cân nhắc trong quyết định điều chỉnh, bởi nó

có thể tác động lớn đến việc kết quả thực hiện.

Như vậy, chỉ đạo chính là hoạt động điều hành và hướng dẫn các hoạt động nhằm

đạt được các mục tiêu đã đề ra một cách hiệu quả và chất lượng, đồng thời là cơ sở để các

nhà trường phát huy tối đa các nguồn lực. Hay nói cách khác, chỉ đạo là sự thể hiện nghệ

thuật lôi cuốn sự tham của các thành viên vào thực hiện mục tiêu chung của nhà trường

của các nhà quản lý.

5.4. Kiểm tra, đánh giá việc thực hiện kế hoạch chất lượng

Kiểm tra chất lượng đào tạo là hoạt động theo dõi, thu thập, phát hiện và đánh giá

những trục trặc được tiến hành trong mọi khâu xuyên suốt quá trình đào tạo. Mục đích

của hoạt động kiểm tra nhằm phát hiện những sai sót ở mọi khâu, mọi cơng đoạn, mọi

q trình nhằm tìm kiếm nguyên nhân và đưa ra biện pháp ngăn chặn kịp thời.

Trường ĐH với “sản phẩm đào tạo” đặc thù là SV tốt nghiệp, là nhân cách con

người vì thế khơng cho phép có “sản phẩm” lỗi, “sản phẩm” hỏng. Điều này càng đòi hỏi

các nhà trường cần thực hiện nghiêm túc công tác kiểm tra đánh giá chất lượng. Để thực

hiện việc kiểm tra đánh giá hiệu quả, các trường ĐH cần hiểu rõ:

- Nguyên tắc kiểm tra - đánh giá

+ Tính qui chuẩn: kiểm tra đánh giá dù theo bất kỳ hình thức nào cũng đều nhằm

mục tiêu phát triển hoạt động dạy và học, đồng thời phải đảm bảo lợi ích cho người được

kiểm tra đánh giá. Vì vậy, hoạt động kiểm tra - đánh giá cần tuân theo những chuẩn mực

nhất định. Những chuẩn này được ghi rõ trong các quy định kiểm tra - đánh giá và được

công bố công khai đối với các thành viên trong trường. Những qui định này phải đầy đủ,

chi tiết, rõ ràng từ mục tiêu, hình thức, tần suất kiểm tra - đánh giá …

+ Tính khách quan là yêu cầu đương nhiên của mọi hình thức kiểm tra - đánh giá.

Ths. Nguyễn Anh Tiến



kiểm tra - đánh giá khách quan mới có thể kích thích, tạo động lực người được kiểm tra

đánh - giá và cho những kết quả đáng tin cậy làm cơ sở cho các quyết định quản lý khác.

+ Tính phát triển: Kiểm tra phải chỉ ra những kết quả đáng tin cậy khẳng định hiện

trạng của đối tượng so với mục tiêu, tìm ra ngun nhân của các sai lệch và có biện pháp

khắc phục. Hoạt động kiểm tra - đánh giá phải mang tính phát triển, nghĩa là khơng chỉ

giúp người được kiểm tra - đánh giá nhận ra hiện trạng cái mình đạt mà còn có niềm tin,

động lực để phấn đấu khắc phục những điểm chưa phù hợp để đạt tới trình độ cao hơn.

+ Tính tồn diện: Tính toàn diện được hiểu là nội dung của việc kiểm tra - đánh

giá phải đáp ứng tồn bộ mục đích của đánh giá, các tiêu chuẩn, tiêu chí đánh giá. Tính

tồn diện trong kiểm tra - đánh giá nhằm phản ánh tính tồn diện của hoạt động đào tạo

của nhà trường, đồng thời định hướng để mọi hoạt động đào tạo phải được tiến hành một

cách tồn diện.

- Q trình Kiểm tra - Đánh giá:

+ Chuẩn bị kiểm tra: Muốn kiểm tra - đánh giá trước hết phải xây dựng được hệ

thống các tiêu chuẩn đánh giá, bởi đó là cơ sở để biết được mức độ đạt được của kết quả

thực tế của nhà trường. Các tiêu chuẩn đánh giá có thể là các quy định của các bộ, ngành

có liên quan đưa ra, cũng có thể do nhà trường tự xây dựng. Đối với các tiêu chuẩn đánh

giá do nhà trường tự xây dựng cần căn cứ vào kế hoạch chất lượng đã xây dựng từ đầu

năm học, các quy trình, quy định của nhà trường. Đồng thời, để kiểm tra - đánh giá hiệu

quả, nhà trường phải xây dựng kế hoạch kiểm tra, xác định rõ lực lượng kiểm tra và

phương pháp đo đạc.

+ Tiến hành kiểm tra: Đây là bước đo đạc kết quả thực tế thực hiện của các đơn vị

trong nhà trường. Việc thu thập, xử lý, phân tích kết quả thực tế phải được tiến hành

khách quan, trung thực, chính xác bởi đó là yếu tố quyết định hiệu quả của công tác kiểm

tra - đánh giá. Trong quá trình tiến hành kiểm tra - đánh giá, lực lượng kiểm tra phải kết

hợp nhiều kênh thơng tin khác nhau, trong đó có hệ thống dữ liệu thống kê hằng ngày và

tổng hợp kết quả thực hiện các chỉ tiêu chất lượng.

+ So sánh kết quả thực tế với chuẩn: Sau khi đo đạc kết quả thực hiện trong thực

tế, nhiệm vụ của lực lượng kiểm tra còn phải so sánh kết quả thực tế với tiêu chuẩn đánh

giá đã xác định ban đầu nhằm xác định những điểm những chỉ tiêu không đạt, những sai

lệch so với chuẩn. Đồng thời, lực lượng kiểm tra cần phân tích ngun nhân của các sai

lệch đó nhằm xác định xem vấn đề thuộc về kế hoạch hay việc thực hiện kế hoạch. Nếu chỉ

tiêu chất lượng của nhà trường không đạt do kế hoạch chưa phù hợp thì điều quan trọng là

cần phát hiện nguyên nhân dẫn đến các kế hoạch không đầy đủ và tiến hành cải tiến chất

lượng của hoạt động hoạch định.

+ Ra quyết định điều chỉnh: Mục đích cuối cùng của hoạt động kiểm tra - đánh giá

là tìm ra những điểm mạnh để phát huy, những điểm còn yếu để uốn nắn và xử lý nhằm

giúp nhà trường đạt được các mục tiêu đã đề ra. Vì thế, sau quá trình đo đạc thực tế, đối

chiếu tiêu chuẩn, nhà trường cần ra các quyết định điều chỉnh. Tùy vào nguyên nhân của

điểm không phù hợp, để xác định biện pháp điều chỉnh nhưng cần lưu ý phân biệt rõ ràng

giữa việc loại trừ hậu quả và loại trừ nguyên nhân của hậu quả.

Ths. Nguyễn Anh Tiến



Muốn công tác quản lý chất lượng đào tạo thực hiện theo TQM, các trường Đại

học phải xác định việc tiến hành các hoạt động điều chỉnh và cải tiến liên tục các kết quả

thực hiện phải là mục tiêu thường trực, trong đó phải đi đầu trong công tác cải tiến

phương pháp đào tạo, nâng cao chất lượng bài giảng, đổi mới trong phương pháp quản lý.

Để thực hiện điều chỉnh và cải tiến chất lượng, các bước công việc cần thực hiện là:

Xác định rõ những đòi hỏi cụ thể về cải tiến chất lượng, từ đó xây dựng các dự án cải tiến

chất lượng; Cung cấp các nguồn lực cần thiết cho quá trình cải tiến và động viên, bồi

dưỡng, khuyến khích q trình thực hiện hoạt động cải tiến.

- Các loại Kiểm tra-Đánh giá

Có thể phân chia hoạt động kiểm tra - đánh giá trong các trường Đại học thành hai

loại: kiểm tra quá trình và kiểm tra cuối cùng:

Kiểm tra quá trình được thực hiện thường xuyên trong quá trình đào tạo giúp nhà

trường phát hiện kịp thời những sai sót trong quá trình thực hiện. Các hoạt động kiểm tra

quá trình thường được thực hiện trong nhà trường là: Kiểm tra mức độ tuân thủ các quy

trình của bộ phận đảm bảo chất lượng, kiểm tra chuyên môn của chủ nhiệm bộ mơn,

kiểm tra tình hình giảng dạy của GV thông qua đánh giá của SV…

Kiểm tra cuối cùng được thực hiện vào cuối học kỳ/năm học nhằm xác định hoạt

động đảm bảo chất lượng nào có hiệu quả, những vấn đề cần hồn thiện về mặt chính

sách và kế hoạch chất lượng cho năm tới.

Dù là kiểm tra quá trình hay kiểm tra cuối cùng, nhà trường cũng cần thực hiện

nghiêm túc các nguyên tắc và quy trình kiểm tra - đánh giá để hoạt động kiểm tra chất lượng

phát huy tốt tác dụng của nó. Đặc biệt, nhà trường cần tập trung thực hiện trước tiên vào

kiểm tra quá trình nhằm xác định những nguyên nhân làm chệch hướng các chỉ tiêu chất

lượng, đề xuất cách xóa bỏ nguyên nhân và phòng ngừa sự tái diễn.

6. Kế hoạch thực hiện

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý chất lượng đào tạo trong trường Đại học theo tiếp

cận TQM:

+ Tổng quan nghiên cứu

+ Các khái niệm cơ bản

+ Quản lý chất lượng đào tạo theo tiếp cận TQM

- Phân tích, đánh giá thực trạng quản lý chất lượng đào tạo ở trường Đại học Điều dưỡng

Nam Định theo tiếp cận TQM :

+ Khái quát hoạt động khảo sát

+ Thực trạng quản lý chất lượng đào tạo ở trường ĐH ĐDND theo tiếp cận TQM

+ Đánh giá chung về công tác quản lý chất lượng đào tạo ở trường ĐH ĐDND theo tiếp cận

TQM

- Đề xuất biện pháp quản lý chất lượng đào tạo ở trường Đại học Điều dưỡng Nam Định

theo tiếp cận TQM:

+ Nguyên tắc đề xuất biện pháp quản lý chất lượng đào tạo theo tiếp cận TQM

+ Biện pháp quản lý chất lượng đào tạo ở trường ĐH ĐDND theo tiếp cận TQM

+ Mối quan hệ giữa các biện pháp quản lý được đề xuất

Ths. Nguyễn Anh Tiến



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tính mới của ý tưởng xây dựng đề án

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×