Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ - 0trang

25



Với vị trí địa lý như trên, Hòa Bình có thị trường khá rộng lớn, đặc biệt

là thị trường Hà Nội và các tỉnh thuộc vùng đồng bằng sông Hồng; đây là

điều kiện thuận lợi để phát triển sản xuất hàng hóa, trao đổi cơng nghệ kĩ

thuật và kinh nghiệm trong quan lý kinh doanh, nhằm đẩy nhanh tiến trình

thực hiện cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa nơng nghiệp, nơng thơn của tỉnh

trong thời gian tới.

2.1.1.2. Địa hình, địa mạo

Điểm nổi bật của địa hình, địa mạo ở Hòa Bình là núi cao, chia cắt phức

tạp, độ dốc lớn, thấp dần từ Bắc xuống Nam và Tây sang Đông. Quá trình vận

động kiến tạo của địa chất qua nhiều thế kỷ đã tạo thành hai vùng địa hình rõ

rệt:

- Phía Tây Bắc (vùng cao): Bao gồm các dải đồi núi lớn, bị chia cắt

nhiều, độ cao trung bình so với mực nước biển từ 500-600m, một số đỉnh núi

cao trên 1.000m, nơi cao nhất là đỉnh Phú Canh cao 1.373m, núi Dục Nhan

(huyện Đà Bắc) cao 1.320 m, đỉnh núi Psi Lung (huyện Mai Châu) cao

1.287m. Độ dốc trung bình từ 30-350, có nơi dốc trên 400, địa hình hiểm trở,

đi lại khó khăn. Vùng này rất phù hợp với những cây trồng, vật ni có tính

chất bản địa, mang tính đặc sản và có giá trị dinh dượng cao như Trâu, bò thịt;

lợn, gà đặc sản, Tỏi tía, su su và các loại hoa cây cảnh.

- Phía Đơng Nam (vùng thấp): thuộc hệ thuỷ sông Đà, sông Bôi, sông

Bưởi, sông Bùi, gồm các huyện Kỳ Sơn, Tân Lạc, Kim Bôi, Lương Sơn, Yên

Thuỷ, Lạc Thuỷ, Lạc Sơn, thành phố Hồ Bình. Địa hình gồm các dải núi

thấp, ít bị chia cắt, độ dốc trung bình từ 20-250, độ cao trung bình so với mực

nước biển từ 100-200 m, đi lại thuận lợi. Vùng này phù hợp với những cây

trồng, vật ni có năng suất chất lượng cao như cam, bưởi, mía tím, các loại

rau xanh và chăn ni gia súc gia cầm. Dạng địa hình núi thấp, chia cắt phức

tạp do đứt, gãy, lún sụt của nếp võng sông Hồng ở khu vực trung tâm, độ cao

trung bình so với mặt biển khoảng 250 - 300m, trong đó ở Tân Lạc là 318 m,



26



Lạc Sơn, Kỳ Sơn 300 m, Kim Bôi 310 m, Lương Sơn 251 m. Dạng địa hình

đồi gò xen các cánh đồng, phân bố ở khu vực Đơng Nam của tỉnh, độ cao

trung bình 40 – 100 m, trong đó ở huyện Lạc Thủy 51 m, huyện Yên Thủy 42 m.

2.1.1.3. Khí hậu, thời tiết

Do nằm ở chí tuyến Bắc trong vành đai nhiệt đới Bắc bán cầu, nên khí

hậu của tỉnh Hòa Bình mang tính chất của khí hậu nhiệt đới gió mùa. Trong

năm có hai mùa rõ rệt, mùa nóng (mưa nhiều) từ cuối tháng 4 đến cuối tháng

10 và mùa lạnh (mưa ít) từ tháng 11 đến cuối tháng 3 năm sau.

Với đặc điểm khí hậu của tỉnh như trên, cho phép trên địa bàn tỉnh có thể

phát triển một nền nơng nghiệp đa dạng với các cây trồng, vật nuôi nhiệt đới,

á nhiệt đới và ở khu vực núi cao có thể phát triển cây trồng có nguồn gốc ơn

đới. Nền nhiệt đảm bảo cho phép gieo trồng nhiều vụ trong năm và đảm bảo

năng suất sinh học cao. Tuy nhiên, do có những biến động mạnh của thời tiết

như bão, dơng, gió Tây khơ nóng, nhiệt độ xuống thấp ở vùng cao..., do đó

cần phải lựa chọn hệ thống cây trồng, vật nuôi phù hợp với điều kiện thời tiết

của từng vùng để khai thác những lợi thế và hạn chế những rủi ro của thời tiết

gây ra đối với sản xuất nông nghiệp.

2.1.1.4. Nguồn nước

- Nguồn nước mặt: Nguồn nước mặt ở tỉnh Hòa Bình do lượng nước

mưa hàng năm đổ xuống và do ba hệ thống sơng chính (sơng Đà, sông Mã,

sông Đáy) với khoảng gần 400 sông lớn nhỏ chảy qua địa bàn tỉnh, hồ thủy

điện Hòa Bình, trên 300 hồ chứa thủy lợi và khoảng 1.300 ha ao hồ nhỏ cung

cấp.

- Nguồn nước ngầm: Theo kết quả điều tra sơ bộ về nguồn nước ngầm ở

Hòa Bình cho thấy nước ngầm trên địa bàn tỉnh khá dồi dào, nhưng phân bố

không đồng đều theo cấu thành tầng địa chất. Nhiều nơi chỉ cần khoan hoặc

đào giếng tới độ sâu 10 m, thậm chí chỉ cần đào sâu 5 – 6 m đã gặp nước

ngầm (tập trung nhiều ở các lưu vực sông và vùng ven hồ). Ở một số nơi tại



27



độ sâu 40 – 50 m, lượng nước ngầm đạt 150 – 200 m3/s. Nhìn chung, chất

lượng nước ngầm ở Hòa Bình phần lớn là nước ngọt, có khả năng khai thác

phục vụ sản xuất và đời sống, đặc biệt là với việc khai thác nguồn nước ngầm

để cấp nước sinh hoạt cho cư dân của tỉnh.

2.1.1.5. Tài nguyên đất

Theo kết quả điều tra và nghiên cứu, trên địa bàn tỉnh Hòa Bình có 7

nhóm đất chính sau:

- Nhóm đất phù sa: chiếm 2,93% diện tích tự nhiên.

- Nhóm đất lầy và than bùn: Chiếm 0,09% diện tích tự nhiên.

- Nhóm đất đen: Chiếm 1,04% diện tích tự nhiên.

- Nhóm đất đỏ vàng: Chiếm tới 79,55% diện tích tự nhiên.

- Nhóm đất mùn vàng đỏ trên núi: Chiếm 6,14% diện tích tự nhiên.

- Nhóm đất dốc tụ: Chiếm 2,15% diện tích tự nhiên;

- Nhóm đất xói mòn trơ sỏi đá: Chiếm 1,22% diện tích tự nhiên

Hòa Bình có diện tích đất tự nhiên 4,6 nghìn km2, trong đó chủ yếu là đất

lâm nghiệp chiếm 63% (rừng tự nhiên 1,8 nghìn km2, rừng trồng 1 nghìn km2).

Diện tích đất nơng nghiệp 65 nghìn ha, chỉ chiếm trên 14% diện tích tự nhiên,

phù hợp với nhiều loại cây trồng như: lúa nước, ngơ, khoai, sắn, đậu, lạc, mía

tím, mía đường, chè,... và nhiều loại cây ăn quả như nhãn, vải, dứa, cam,... Trong

đó mía tím, cam Cao Phong là những cây đặc sản có giá trị kinh tế cao.

Diện tích đất trồng cây hàng năm là 54 nghìn ha chiếm 12% diện tích đất

tự nhiên của tỉnh. Trên diện tích này, hàng năm gieo trồng 40 nghìn ha lúa

nước (vụ Xuân 16-17 nghìn ha, vụ mùa 23-24 nghìn ha) đảm bảo sản lượng

trên 20 vạn tấn; 36 nghìn ha ngơ (vụ xn 18-19 nghìn ha, vụ Mùa 14-15

nghìn ha, vụ Đơng 2-3 nghìn ha) đảm bảo sản lượng khoảng 15 vạn tấn; gieo

trồng 19-20 nghìn ha, sản lượng 20-22 vạn tấn khoai, sắn, dong riềng..; gieo

trồng 14-15 nghìn ha đạt sản lượng 60- 61 vạn tấn cây công nghiệp như mía,

lạc, đậu, vừng, bơng; gieo trồng 12- 13 nghìn ha, đạt sản lượng 23-24 vạn tấn

rau, đậu các loại.



28



Hoà Bình có lợi thế và tiềm năng phát triển chăn nuôi, đặc biệt là chăn

nuôi lợn, gà với số lượng lớn. Hàng năm duy trì chăn ni khoảng: 11 vạn

con trâu, 7 vạn con bò, 43 vạn con lợn (3 vạn lợn nái), 3 vạn con dê, 4 triệu

con gia cầm. Hình thành hơn 100 trang trại chăn ni gia súc, gia cẩm tập

trung dọc tuyến đường Hồ Chí Minh. Hàng năm, cung cấp 30 nghìn tấn thịt

hơi gia súc, 5 nghìn tấn thịt gia cầm và 23-24 triệu quả trứng.

2.1.1.6. Tài nguyên sinh vật

Do cấu trúc địa hình và khí hậu đa dạng, nên đã tạo ra sự đa dạng về tài

nguyên sinh vật nông nghiệp. Theo kết quả điều tra, hiện tại trên địa bàn tỉnh

đã tìm thấy khoảng 40 loại cây trồng có nguồn gốc nhiệt đới, á nhiệt đới, ôn

đới đã được đồng bào các dân tộc của tỉnh đưa vào sản xuất. Vật nuôi gồm

trâu, bò, gà, vịt, ngan, dê, ngựa, ong và các loại gia súc ni trong nhà.

2.1.1.7. Tài ngun khống sản.

Hòa Bình có nhiều loại khống sản, trong đó đã có một số loại được tổ

chức khai thác như than, Amiăng, đá vơi, sét, nước khống, ...

2.1.1.8. Tài ngun du lịch

- Tài ngun du lịch tự nhiên

Tỉnh Hòa Bình có tài ngun du lịch tự nhiên rất phong phú, đa dạng,

bao gồm các sơng, hồ; suối nước khống, các khu bảo tồn thiên nhiên

(KBTTN), vườn quốc gia (VQG).

Nguồn nước khoáng phong phú cũng là thế mạnh đối với việc phát triển

du lịch của Hồ Bình, trong đó đáng kể nhất là suối nước khống Kim Bơi

thuộc địa phận xã Hạ Bì, huyện Kim Bôi. Cho đến nay, đã phát hiện được

điểm nước khống phân bố quanh rìa khối granit Kim Bơi là Mớ Đá, Sào Báy

thuộc hai nhóm nước khống Bicacbonat, Sunfat canxi nguồn gốc hồ tan.

Các khu vực có tính đa dạng sinh học cao, có giá trị đối với phát triển du

lịch, đặc biệt là du lịch sinh thái là các KBTTN: Hang Kia - Pà Cò, KBTTN

Thượng Tiến, KBTTN Pù Lng (chung với Thanh Hố), KDTTN Phu Canh,



29



KDTTN Ngọc Sơn, VQG Cúc Phương (chung với Ninh Bình và Thanh Hố),

VQG Ba Vì (chung với Hà Nội) và khu bảo tồn đất ngập nước lòng hồ Hồ Bình.

- Tài ngun du lịch nhân văn

Hồ Bình là tỉnh có thế mạnh về tài nguyên du lịch nhân văn - bản sắc

văn hoá của các dân tộc. Hiện nay, trên địa bàn tỉnh Hòa Bình có 185 địa

điểm di tích được đưa vào hồ sơ nghiên cứu, quản lý, trong đó có 37 di tích đã

được Bộ Văn hố - Thơng tin (Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch) cơng nhận

và cấp bằng xếp hạng và 21 di tích cấp tỉnh.

Địa bàn tỉnh Hồ Bình là nơi cư trú của đồng bào nhiều dân tộc, trong đó

6 dân tộc đơng người nhất (Mường, Kinh, Thái, Tày, H‟Mông, Dao), khoảng

69,0% dân số của tỉnh là người dân tộc thiểu số. Đây là yếu tố tạo nên sự đa

dạng, nét độc đáo của văn hố các dân tộc ở Hồ Bình - sức hấp dẫn chủ yếu

đối với khách du lịch, đặc biệt là khách du lịch quốc tế. Nét độc đáo của văn

hố các dân tộc ít người ở Hồ Bình thể hiện qua hình thức quần cư và kiến

trúc nhà ở, lễ hội, ẩm thực, nghệ thuật múa hát, thi ca, trang phục, nghề thủ

công truyền thống...

Trên địa bàn tỉnh Hồ Bình hiện nay có một số bản làng khai thác phục

vụ du lịch như bản Giang Mỗ, huyện Cao Phong (dân tộc Mường), bản Văn,

bản Lác, bản Tòng, huyện Mai Châu (dân tộc Thái),...

2.1.2. Đặc điểm kinh tế- xã hội

2.1.2.1. Đặc điểm kinh tế

Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm của tỉnh (GRDP) bình quân hằng

năm giai đoạn 2011-2016 đạt 5,97%, trong đó, khu vực nơng, lâm nghiệp và

thuỷ sản tăng 3,89%; khu vực công nghiệp – xây dựng tăng 7,5%; khu vực

dịch vụ tăng 5,75%.



30



Bảng 2.1: Tốc độ tăng trƣởng tổng sản phẩm

trên địa bàn tỉnh Hòa Bình

Đơn vị: %

Chỉ tiêu

Tốc độ tăng trưởng

GRDP, trong đó:

- Nơng, lâm nghiệp, thủy

sản

- Cơng nghiệp, xây dựng

- Dịch vụ



Năm



Năm



Năm



Năm



Năm



Năm



Bình



2011



2012



2013



2014



2015



2016



qn



0,58



7,31



7,04



5,88



7,4



7,62



5,97



4,77



5,21



1,15



3,86



3,9



4,42



3,89



-4,24



9,45



10,63



8,27



10,31



10,58



7,5



5,2



4,36



6,68



5,28



6,24



6,72



5,75



Cơ cấu tổng sản phẩm trên địa bàn chuyển dịch theo hướng tăng tỷ

trọng công nghiệp, dịch vụ, giảm tỷ trọng nông nghiệp, đến năm 2016, tỷ

trọng ngành nông nghiệp trong GRDP chiếm 22,27%, công nghiệp - xây dựng

chiếm 45,75%, dịch vụ chiếm 31,98%. GRDP bình quân đầu người năm 2016

đạt 36,5 triệu đồng, bằng 86,9% GDP bình quân đầu người của cả nước.

Tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn của tỉnh Hòa Bình liên tục

tăng qua các năm trong giai đoạn 2011-2016, bình quân 14,1%/ năm.

Về cơ cấu thu cân đối ngân sách giai đoạn 2011-2016 (chưa bao gồm

nguồn thu từ hoạt động xuất, nhập khẩu) chủ yếu gồm nguồn thu nội địa như

thu từ doanh nghiệp và cá nhân sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ, các

khoản thu về nhà, đất, thu phí xăng, dầu, cụ thể: Thu từ Cơng ty Thủy điện

Hòa Bình chiếm 45% tổng thu cân đối, tốc độ tăng bình quân 16%/năm (tăng

chủ yếu do điều chỉnh giá tính thuế và thuế xuất); thu từ các khoản thuế, phí

chiếm 35%, tăng bình qn 9%/năm; thu tiền sử dụng đất chiếm 10%, tăng

bình quân 12%/năm; các khoản thu ngoài cân đối chiếm 10%. Cơ cấu nguồn



31



thu chưa bền vững, chưa có nguồn thu chủ lực, ổn định mà chủ yếu thu từ các

doanh nghiệp nhỏ và vừa; các doanh nghiệp có số thuế nộp ngân sách nhà

nước trên 10 tỷ đồng/năm còn ít; số thu ngân sách chưa tương ứng với tiềm

năng phát triển kinh tế của tỉnh. Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn mặc dù

tăng hàng năm nhưng chưa đáp ứng được chi ngân sách địa phương. Đến nay,

thu trong cân đối đáp ứng được 44,7% chi trong cân đối (27,65% tổng chi

ngân sách địa phương) và chưa đáp ứng được nhu cầu chi thường xuyên.

Hằng năm, Trung ương vẫn phải hỗ trợ thêm 70% chi ngân sách địa phương.

Bảng 2.2: Thu ngân sách nhà nƣớc trên địa bàn tỉnh Hòa Bình

Đơn vị: tỷ đồng



Chỉ tiêu

Tổng thu ngân sách nhà

nước trên địa bàn



Năm



Năm



Năm



Năm



Năm



Năm



2011



2012



2013



2014



2015



2016



1.692,7 1.846,8 2.116,0 2.214,0 2.531,0 2890,0



Những phương tiện đi lại trên những con đường bộ này cũng tương đối

an toàn so với các khu vực miền núi khác. Chính vì vậy, tỉnh Hồ Bình có các

chuyến xe khách thường xun phục vụ khách đi đến các tỉnh lân cận và Hà

Nội cũng như đón khách quay về tỉnh. Nhìn chung, đường giao thơng ở tỉnh

Hồ Bình đã từng bước được đầu tư nâng cấp, tạo điều kiện để thu hút đầu tư

vào nông nghiệp nhiều hơn.

+ Về đường thuỷ: Giao thơng đường thuỷ ở Hồ Bình có hai nhánh chính

là Sông Đà và Sông Bôi.

Sông Đà nằm trên địa bàn của tỉnh có 151 km nối liền giữa đồng bằng

Bắc Bộ với khu vực Tây Bắc. Vị trí trung tâm của tỉnh có đập Thuỷ điện Hồ

Bình. Phương tiện vận chuyển đường sơng có hai trạm trung chuyển là thượng



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×