Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Ảnh hưởng của thu hồi đất đến hoạt động kinh tế của nông hộ được thể hiện trên Bảng 3.11.

Ảnh hưởng của thu hồi đất đến hoạt động kinh tế của nông hộ được thể hiện trên Bảng 3.11.

Tải bản đầy đủ - 0trang

69



nơng nghiệp, vì vậy khi thu hồi đất đã ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động

kinh tế của nông hộ.

Bảng 3.11. Tình hình sử dụng đất nơng nghiệp của các hộ sau thu hồi đất

Chỉ tiêu



Trước thu hồi đất Sau thu hồi đất

Diện tích Tỷ Diện tích Tỷ trọng



(ha)

1. Đất nông nghiệp

36,15

2. Đất phi nông nghiệp 0,52

36,67

Tổng



trọng

98,58

%

1,42

100,00



(ha)

21,37

0,34

21,71



±∆



So sánh

Tỷ lệ giảm



%

98,45 -14,78

1,55

-0,18

100,00 -14,96



(%)

-40,89

-35,48

-40,81



Nguồn: Khảo sát và tính tốn tổng hợp



Tổng diện tích đất của các hộ gia đình trước khi thu hồi là 36,67ha,

trong đó: diện tích đất nơng nghiệp là 36,15ha, chiếm tỷ trọng 98,58%; đất

phi nơng nghiệp vớí 0.52ha, chiếm tỷ trọng 1,42%. Tổng diện tích đất nơng

nghiệp bị thu hồi là 14,78ha (chiếm 40,88% diện tích đất nơng nghiệp). Diện tích

đất của các hộ nơng dân sau khi thu hồi còn 21,71ha, trong đó diện tích đất nơng

nghiệp còn lại sau thu hồi đất là 21,34ha. Với tỷ lệ đất nông nghiệp bị thu hồi lớn

đã gây ảnh hưởng không nhỏ đến cuộc sống của người dân bị thu hồi đất.

Diện tích đất nơng nghiệp và phi nơng nghiệp của các hộ điều tra bị thu

hồi cũng tương đối lớn. Tuy nhiên, việc quản lý và sử dụng hợp lý có hiệu

quả nguồn tài nguyên đất đai là rất cần thiết và đang trở thành một vấn đề cấp

bách trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội của địa phương hiện nay.

3.3.2. Ảnh hưởng thu hồi đất đến việc làm của nơng hộ

Tình hình thay đổi việc làm của nông hộ trước và sau thu hồi đất được

nêu trên bảng dưới đây.

Qua số liệu Bảng 3.12 cho thấy, trước thu hồi đất số lao động nông

nghiệp (nông dân) chiếm tỷ lệ cao nhất là 68,16% số lao động được khảo sát.

số lao động phi nông nghiệp chiếm tỷ lệ lần lượt thấp hơn: đi học 2,45%, làm

thuê mướn 3,27%, giáo viên 1,63%, viên chức nhà nước 1,22%, đặc biệt số

lao động làm công nhân chiếm 4,08% tong tổng số 245 lao động được khảo



70



sát. Số lao động hoạt động trong các ngành nghề khác như: nhân viên văn

phòng, kinh doanh dịch vụ, nghỉ hưu, hay hoạt động trong các nghề khác,...

đều chiếm tỷ lệ thấp trong tổng số lao động. Qua phân tích trên cho thấy,

trước khi thu hồi đất thì nơng nghiệp đã giải quyết việc làm cho nhiều lao

động ở xã. Điều này cũng dễ hiểu vì trước khi xây dụng KCN Lương Sơn,

kinh tế nơng nghiệp đóng vai trò chủ đạo trên địa bàn xã Hòa Sơn.

Bảng 3.12. Tình hình việc làm của hộ gia đình sau thu hồi đất

Nghề nghiệp

1. Nơng dân

2. Cơng nhân

3. Giáo viên



Trƣớc thu hồi đất

Số lao động

Tỷ lệ

(Ngƣời)

(%)

167

68,16

10

4,08

4

1,63



Sau thu hồi đất

Số lao động

Tỷ lệ

(Ngƣời)

(%)

95

38,78

51

20,82

4

1,63



4. Viên chức nhà nước



3



1,22



3



1,22



5. Buôn bán



15



6,12



32



13,06



6. Nhân viên văn phòng



5



2,04



6



2,45



7. Đi học

8. Làm thuê, mướn



6

8



2,45

3,27



6

15



2,45

6,12



9. Nội trợ



6



2,45



6



2,45



10. Nghỉ hưu



4



1,63



4



1,63



11. Kinh doanh dịch vụ

12. Nghề khác

Tổng cộng



8

9

245



3,27

16

6,53

3,67

7

2,86

100

245

100

Nguồn: Khảo sát và tính tốn tổng hợp



Sau khi thu hồi đất, cơ cấu lao động của số hộ bị thu hồi đất có nhiều

biến động. Nguyên nhân là do phần lớn diện tích đất nơng nghiệp bị thu hồi

nên số lao động trong lĩnh vực này phải chuyển sang nhiều ngành nghề khác

như: làm công nhân, bảo vệ, buôn bán nhỏ,... số lao động trong lĩnh vực nông

nghiệp chỉ còn 38,78% số lao động được khảo sát, tức là đã giảm 43,11% so

với trước khi thu hồi đất. Số lao động còn hoạt động trong lĩnh vực nơng

nghiệp sau thu hồi đất chủ yếu là hoạt động trong lĩnh vực chăn ni, trồng



71



cây lâu năm. Còn số lao động trong các ngành nghề phi nơng nghiệp đều có

sự gia tăng với tỷ lệ khác nhau, trong đó cao nhất là số lao động công nhân

chiếm 20,82% tăng 410% so với trước khi thu hồi đất, số lao động trong buôn

bán là 13,06%, tăng 113,33% so với trước thu hồi đất; kinh doanh dịch vụ

chiếm 6,53% tăng 100% so với trước khi thu hồi đất. Các ngành nghề giáo

viên, viên chức nhà nước, đi học, nội trợ, nghỉ hưu không thay đổi.

Một điểm đáng chú ý trong việc chuyển đổi nghề nghiệp của lao động

sau khi thu hồi đất là, số lao động hoạt động trong buôn bán, vào làm cơng

nhân trong khu cơng nghiệp có tăng lên góp phần cải thiện thu nhập, ổn định

cuộc sống của các hộ sau thu hồi đất. Tuy nhiên, số lao động làm th, làm

mướn cũng tăng là dấu hiệu khơng tốt, vì đa số số lao động này là những

nông dân bị mất đất sản xuất, không đáp ứng được yêu cầu tuyển dụng vào

làm trong các khu cơng nghiệp, từ đó buộc họ phải chuyển đổi cơ cấu việc

làm để có thu nhập cho gia đình nhưng đa phần là cơng việc khơng ổn định,

mang tính thời vụ, thu nhập bấp bênh.

Qua phân tích cơ cấu việc làm của các nhóm hộ trước và sau thu hồi đất

cho thấy, do nhiều yếu tố khác nhau như: trình độ học vấn, vốn, nhận thức,...

mà sự thay đổi cơ cấu lao động chuyển biến theo hướng tích cực hay tiêu cực,

là cơ sở đảm bảo cho họ cải thiện thu nhập, thích nghi và ổn định cuộc sống

của họ sau khi thu hồi đất.

Một điểm đáng chú ý là mặc dù người dân bị thiệt thòi rất lớn trong

việc mất đất sản xuất nông nghiệp để phục vụ cho việc xây khu công nghiệp,

nhưng khi khu cơng nghiệp hình thành thì việc chú trọng thu hút lực lượng

lao động từ những gia đình có đất bị thu hồi rất ít được sự quan tâm của chính

quyền địa phương và chủ đầu tư. Qua khảo sát, chỉ có khoảng 16 lao động,

trong tổng số lao động được khảo sát, thuộc diện có đất bị thu hồi đang làm

việc trong khu công nghiệp Lương Sơn và theo các hộ được phỏng vấn thì

cơng việc mà con em họ đang làm trong khu công nghiệp do họ tự chủ động

tìm kiếm chứ khơng được sự giúp đỡ của chính quyền địa phương.



72



3.3.3. Ảnh hưởng đến điều kiện sống của nông hộ sau thu hồi đất

3.3.3.1. Điều kiện nhà ở của nơng hộ

Q trình thu hồi đất để xây dựng các khu công nghiệp, khu đô thị làm

cho chất lượng cuộc sống của người dân có sự thay đổi. Điều này thể hiện rõ

ở một số chỉ báo về kiểu loại nhà ở, tỉ lệ có những tài sản sinh hoạt và chất

lượng các hoạt động giáo dục và việc chăm sóc sức khỏe. Chất lượng nhà ở

được thể hiện cụ thể qua kiến trúc của nhà trệt hay tầng, nền nhà, ...

Tổng hợp tình hình nhà ở của các hộ điều tra được nêu trên bảng 3.13.

Sau khi thu hồi đất, đa số hộ được phỏng vấn và họ trả lời đều có sử

dụng tiền từ nguồn đền bù đất vào mục đích xây dựng hoặc sửa chữa nhà ở;

82,61% hộ điều tra đầu tư xây nhà mái đúc và nền nhà được lót bằng gạch

bơng, hơn nữa còn có một số hộ xây mới nhà lầu 2 tầng chiếm 5,43% trong

tổng số hộ điều tra, đây là những hộ có số tiền đền bù khá lớn và hiện nay

đang sống gần các khu công nghiệp, đời sống các hộ này tương đối ổn định.

Bảng 3.13. Tình hình nhà ở của ngƣời dân sau khi bị thu hồi đất

TT

A

1

2

3

B

1

2

3

C

1

2

3



Chỉ tiêu

Mái nhà

Ngói

Tơn/thiết

Đúc

Nền nhà

Gạch

Xi măng

Đất

Tầng

Triệt

1 lầu

2 lầu

Tổng hộ điều tra



Số hộ

15

1

76

86

6

0

16

71

5

92



Tỷ lệ (%)

100

16,30

1,09

82,61

100

93,48

6,52

0,00

100

17,39

77,17

5,43

100



Nguồn: Khảo sát và tính tốn tổng hợp



73



3.3.3.2. Tài sản vật chất và đồ dùng sinh hoạt chủ yếu của nông hộ

Với số tiền đền bù sau thu hồi đất, người dân có điều kiện mua sắm

những đồ dùng sinh hoạt cho gia đình mình, từ đó giúp nâng cao đời sống vật

chất và tinh thần của người dân so với trước khi thu hồi đất.

Khi nhu cầu của cuộc sống đòi hỏi ngày càng cao thì người dân khơng

chỉ trang bị những phương tiện sinh hoạt căn bản để phục vụ cho đời sống

hằng ngày mà còn mua sắm những đồ dùng sinh hoạt có tính năng hiện đại

như máy giặt, máy vi tính hay có hộ còn mua cả xe hơi, ....

Bảng 3.14. Tình hình tài sản vật chất chủ yếu của các hộ điều tra

Trƣớc thu hồi đất

Loại tài sản



Sau thu hồi đất



So sánh

Tỷ lệ

±∆ tăng

(%)

1

1,09



Số hộ



Tỷ lệ %



Số hộ



Tỷ lệ %



l. Tivi



91



98,91



92



100



2. Tủ lạnh



28



30,43



76



82,61



48



52,17



3. Bếp gas



80



86,96



92



100



12



13,04



4. Điện thoại



79



85,87



92



100



13



14,13



5. Máy giặt



14



15,22



45



48,91



31



33,70



6. Máy điều hòa



5



5,43



25



27,17



20



21,74



7. Máy vi tính



8



8,70



39



42,39



31



33,70



8. Xe máy



90



97,83



92



100



2



2,17



9 . Xe ơtơ



0



0,00



3



3,26



3



3,26



Nguồn: Khảo sát và tính tốn tổng hợp

Đa số hộ đều có số trang thiết bị đồ dùng sinh hoạt gia đình tăng so với

trước khi thu hồi đất, trong đó tỷ lệ gia tăng nhiều nhất là tủ lạnh 52,17%,

máy vi tính và máy giặt là 33,70%, tiếp đến là máy điều hòa 21,74%. Sau thu

hồi đất, tỷ lệ hộ gia đình có tivi, bếp gas, xe máy và điện thoại là 100%. Số hộ

trang bị xe ô tô để chở hàng và lái taxi có 03 hộ gia đình chiếm tỷ lệ 3,26%.



74



Nhưng nhìn chung đời sống của các hộ điều tra đã được trang bị tương đối

đầy đủ những vật dụng cần thiết, đảm bảo cuộc sống của gia đình và tiện nghi

trong sinh hoạt.

3.3.4. Ảnh hưởng đến giáo dục - y tế - giao thông và môi trường

Khi nhu cầu của cuộc sống đòi hỏi ngày càng cao thì người dân khơng

chỉ trang bị những phương tiện sinh hoạt căn bản để phục vụ cho đời sống

hằng ngày mà còn quan tâm tới các vấn đề giáo dục, y tế, giao thông và môi trường.

* Về giáo dục

Qua phỏng vấn về trình độ văn hóa, trình độ chun môn của chủ hộ

được khảo sát, cho thấy về sự quan tâm đến sự nghiệp giáo dục của những hộ

bị thu hồi đất.

Bảng 3.15. Ý kiến ngƣời dân về giáo dục, y tế, giao thông và môi trƣờng

sau khi thu hồi đất

Tốt hơn

Số

Tỷ lệ

lƣợng

%

31

33,70



Xấu hơn

Số

Tỷ lệ

lƣợng

%

0

0,00



Không thay đổi

Số

Tỷ lệ

lƣợng

%

61

66,30



Chỉ tiêu



ĐVT



Giáo dục



Hộ



Y tế



Hộ



23



25,00



0



0,00



69



75,00



Giao thơng



Hộ



63



68,48



0



0,00



29



31,52



Mơi trường



Hộ



0



0,00



67



72,83



25



27,17



Tổng hộ

điều tra



Hộ



92



100



92



100



92



100



Nguồn: Khảo sát và tính tốn tổng hợp

Trong những năm qua, chính quyền địa phương rất quan tâm trong việc

đầu tư cho lĩnh vực giáo dục, đặc biệt trong vùng bị ảnh hưởng của dự án. Khi

hỏi về chất lượng giáo dục cả điều kiện cơ sở vật chất và chất lượng dạy học

của địa phương điều tra thì có 31 hộ trả lời là tốt hơn, chiếm tỷ lệ 33,70%, 0

hộ trả lời là xấu hơn và có 61 hộ trả lời là khơng có sự thay đổi chiếm tỷ lệ

66,30%. Điều này phản ánh đúng cơng tác giáo dục của địa phương vì hàng



75



năm địa phương đều có trường mới được xây dựng, chất lượng giáo viên ngày

càng được nâng cao bằng việc cử đi học thêm những lớp bồi dưỡng chuyên

môn, nâng cao trình độ, cập nhập những phương pháp giảng dạy mới. Về nội

dung đào tạo cũng gần ngày càng được hoàn thiện, cơ sở hạ tầng và trang

thiết bị cũng được nâng cấp qua từng thời kỳ.

Qua phân tích về tình độ học vấn chủ hộ và những đánh giá của hộ sau

khi thu hồi đất cho thấy, sự quan tâm của gia đình và xã hội đối với lĩnh vực

giáo dục, đặc biệt là đối với những hộ không còn đất sản xuất nơng nghiệp.

Do đời sống kinh tế ngày càng phát triển và nhu cầu để thích ứng với sự phát

triển của xã hội nên đa số hộ gia đình khi được phỏng vấn đều trả lời: thế hệ

của họ trước đây thì việc học hành rất khó khăn và hạn chế, nhưng hiện nay

trong thời kỳ mới khi mà đất đai khơng còn nhiều thì việc học hành có ý

nghĩa rất lớn trong cuộc sống, theo họ chỉ có học hành tốt thì mới có cơ hội

tìm được cơng việc tốt với thu nhập ổn định, vì vậy họ cố gắng tạo mọi điều

kiện tốt nhất để con em được đến trường, dù cuộc sống của gia đình có khó

khăn như thế nào đi chăng nữa.

* Về y tế và chăm sóc sức khỏe

Khi hỏi về việc chăm sóc sức khỏe của người dân ở địa phương trong

số 92 hộ được điều tra thì có 23 hộ trả lời là tốt hơn, chiếm tỷ lệ 25,00%; 69

hộ trả lời khơng có sự thay đổi nào so với trước kia, chiếm tỷ lệ 75,00%. Điều

này cho thấy những năm gần đây ngành y tế chưa đầu tư đúng mức cho việc

chăm sóc sức khỏe của người dân, Cơ sở hạ tầng và thiết bị chữa bệnh còn

yếu kém, nhiều người có bệnh nặng thường khơng đến bệnh viện huyện mà

đa phần đều khám và chữa bệnh ở tỉnh. Tuy nhiên, ngành y tế huyện cũng có

những cố gằng nhất định phần nào làm cho sức khỏe của bà con bị thu hồi đất

tốt hơn. Hệ thống y tế dự phòng ở xã hoạt động tích cực, thường xun tổ

chức phun thuốc khử trùng khi có các ổ dịch trên địa bàn xã.



76



* Về giao thông

Hiện nay, mạng lưới giao thơng trên địa bàn huyện Lương Sơn nói

chung và tại xã Hòa Sơn nói riêng rất phát triển. Đa số các tuyến đường đều

được nhựa hóa đến từng thơn đã tạo điều kiện thuận lợi cho cho sự phát triển

kinh tế trên địa bàn xã và sự đi lại của người dân. Khoảng cách bình quân từ

nhà đến chợ của các hộ dân bị thu hồi đất rất gần (2,26 km), tạo điều kiện

thuận lợi cho sinh hoạt và bn bán của người dân. Còn việc đi đến trung tâm

huyện Lương Sơn cũng rất thuận lợi cho người dân do việc đi lại dễ dàng và

khoảng cách ngắn (khoảng cách bình quân là 3,5 km).

Do tất cả các tuyến đường đều được trải nhựa rộng rải, thuận tiện cho

việc đi lại, làm việc, học hành của bà con. Khi hỏi về chất lương giao thông

hiện tại so với trước khi bị thu hồi đất thì có tới 63 hộ trong tổng số 92 điều

tra trả lời là tốt hơn, chiếm tỷ lệ 68,48% và không hộ nào trả lời xấu hơn, số

hộ còn lại trả lời là khơng có sự thay đổi so với trước kia là 31,52%, hầu hết

những hộ này được hỗ trợ mua đất giãn dân tại xã, do đó đường xá khơng có

sự thay đổi nhiều. Như vậy do được sống trong các khu dân cư nên các hộ bị

thu hồi đất có thể đi lại dễ dàng hơn trước nhờ có cơ sở hạ tầng khá phát triển.

Tuy nhiên, với tốc độ phát triển mạnh như hiện nay, các phương tiện

giao thông chở hàng hóa, vật liệu xây dựng sẽ nhiều hơn, vì vậy, nhiều tuyến

đường sẽ xuống cấp trong tương nếu địa phương khơng có phương án đầu tư

đúng mức và đồng đều.

* Về môi trƣờng

Khi hỏi về môi trường, về không gian sống so với trước khi bị thu hồi

đất thì khơng có hộ gia đình nào trả lời tốt hơn, trong khi đó có tới 67 hộ trả

lời xấu hơn trước kia chiếm tỷ lệ 72,83%, số hộ còn lại trả lời khơng có sự

thay đổi chiếm tỷ lệ 27,17%. Điều này cho thấy người dân chưa thích ứng

được với mơi trường đơ thị, Trước kia, khi còn đất riêng nhà nào cũng có

khoảng khơng gian quanh nhà rất lớn, thoải mái trong sinh hoạt lẫn sinh sống,



77



nay bị thu hồi đất hoàn toàn người dân phải sống trong các khu dân cư đơng

đúc do vậy khơng còn khoảng khơng gian thoải mái như trước nữa mà thay

vào đó là cảnh sống nhà cạnh nhà rất chật chội trong sinh hoạt. Hơn nữa,

trong tương lai sẽ có nhiều khu cơng nghiệp được xây dựng ở nơi đây, nếu

các doanh nghiệp này khơng có biện pháp xử lý chất thảy hiệu quả thì một

viễn cảnh người dân sống trong cảnh ơ nhiễm như hiện nay ở các thành phố

lớn là khó tránh khỏi

Ngồi ra, khi các khu cơng nghiệp mọc lên sẽ có rất nhiều người từ các

tỉnh thành khác về tìm kiếm việc làm và sinh sống nên lượng người sẽ đông

lên dẫn đến lượng giác thải sinh hoạt ra môi trường sẽ rất lớn. Nếu địa

phương khơng có phương án xử lý hiệu quả sẽ gây ô nhiễm tại các khu dân cư

trên địa bàn là rất cao.

3.3.5. Ảnh hưởng đến việc sử dụng điện – nước sinh hoạt

* Vấn đề về điện

Theo ý kiến của hộ được phỏng vấn, có 32,61% số hộ đánh giá về vấn

đề điện sinh hoạt có sự cải thiện tốt hơn so với trước khi thu hồi đất. Có

67,39% số hộ được phỏng vấn đánh giá khơng có sự thay đổi và khơng có hộ

nào cho rằng chất lượng cung cấp điện bị xấu đi. Để đảm bảo cho các dây

chuyền trong các nhà máy hoạt động không bị gián đoạn nên điện lưới tại các

khu cơng nghiệp ít khi bị cắt và được nâng cấp lên, do đó điện sinh hoạt của

người dân gần khu công nghiệp được cải thiện đáng kể.

Qua khảo sát cho thấy có đa số hộ được phỏng vấn trả lời hiện họ đang

dùng điện từ điện lưới quốc gia và đều có đồng hồ riêng, khơng có hộ gia

đình phải câu nhờ điện của hộ khác. Khơng có trường hợp nào được phỏng

vấn trả lời là gia đình khơng có điện.

Việc được cung cấp đầy đủ điện, nước sinh hoạt không những đảm bảo

nâng cao chất lượng sống mà còn giúp người dân có nhiều thong tin, nắm bắt

tốt hơn các chủ trương, chính sách Nhà nước.



78



Bảng 3.16. Ý kiến ngƣời dân về sử dụng điện, nƣớc sinh hoạt

Tốt hơn

Số

Tỷ lệ

lƣợng

%

30

32,61



Xấu hơn

Số

Tỷ lệ

lƣợng

%

0

0,00



Không thay đổi

Số

Tỷ lệ

lƣợng

%

62

67,39



Chỉ tiêu



ĐVT



Điện



Hộ



Nước



Hộ



0



0,00



19



20,65



73



79,35



Tổng hộ

điều tra



Hộ



92



100



92



100



92



100



Nguồn: Khảo sát và tính tốn tổng hợp

* Vấn đề nước sinh hoạt

Tình hình sử dụng nước hiện nay trên địa bàn nghiên cứu nói riêng và

địa bàn xã nói chung là đa số người dân đều sử dụng nước sinh hoạt là từ

nguồn nước giếng khoan và giếng đào.

Qua khảo sát, 100% số hộ cho biết hiện nay đang sử dụng nước cho ăn

uống, sinh hoạt đều từ nước ngầm, một số hộ có qua hệ thống lọc nước, đa số

là sử dụng nước ngầm trực tiếp.

Theo đánh giá của các hộ được khảo sát, nguồn nước sinh hoạt khơng

có sự thay đổi so với trước khi thu hồi đất chiếm tỷ lệ 79,35%. Khơng có hộ

gia đình nào đánh giá vấn đề nước sinh hoạt hiện nay tốt hơn trước khi thu

hồi đất và có 20,65% hộ đánh giá là nước sinh hoạt đang dần xấu đi. Nguyên

nhân là do trước đây chưa có khu cơng nghiệp nguồn nước tại địa phương

còn chưa bị ơ nhiễm, hiện nay các khu công nghiệp được xây dựng nên nước

sinh hoạt được sử dụng nhiều hơn dẫn đến nguồn nước ngầm đang dần cạn

kiệt, người dân phải mất một khoản tiền nữa để thuê thợ khoan sâu hơn nhằm

tìm kiếm mạch nước ngầm mới.

Ngồi ra, KCN Lương Sơn có đầu tư hệ thống nước máy đi qua địa bàn

xã Hòa Sơn để cấp nước cho KCN và phục vụ nhu cầu dân sinh.

3.3.6. Vấn đề thơng tin, giải trí

Hiện nay, trong thời đại công nghệ thông tin phát triển rất mạnh mẽ, sự

tiếp cận với các nguồn thông tin và vấn đề giải trí của người dân rất phong

phú và đa dạng như thông qua: báo, đài,..



79



Bảng 3.17. Tiếp cận thông tin, giải trí của hộ sau khi thu hồi đất

Chỉ tiêu



Số lƣợng (hộ)



I. Hình thức tiếp cận thơng tín

1. Nghe đài phát thanh

a. Thường xuyên

b. Thỉnh thoảng

c. Không

2. Xem truyền hình

a. Thường xun

b. Thỉnh thoảng

c. Khơng

3. Đọc sách báo

a. Thường xun

b. Thỉnh thoảng

c. Khơng

4. Họp chính quyền

a. Thường xun

b. Thỉnh thoảng

c. Khơng

5. Nghe nói lại

a. Thường xun

b. Thỉnh thoảng

c. Khơng

II. Mức độ đánh giá về điều kiện vui chơi giải trí

1. Xấu hơn

2. Khơng thay đổi

3. Tốt hơn



Tỷ lệ (%)



10

53

29



10,87

57,61

31,52



90

2

0



97,83

2,17

0,00



23

43

26



25,00

46,74

28,26



12

26

54



13,04

28,26

58,70



29

61

2



31,52

66,30

2,17



11

53

28



11,96

57,61

30,43



Nguồn: Khảo sát và tính tốn tổng hợp

Qua khảo sát, thì xem truyền hình để cập nhật tin tức và giải trí được

các hộ gia đình sử dụng phổ biến nhất, có 92 hộ được phỏng vấn trả lời là

thường xuyên xem truyền hình. Còn việc thường xun nghe đài phát thanh

hoặc vấn đề đọc báo ít được quan tâm hơn với tỷ lệ lần lượt là 10,87% và

25,00%, nguyên nhân theo các hộ là do đài phát thanh chỉ có cụm loa ở ngay

UBND xã còn hoạt động, các cụm loa khác khơng có hoặc đã hư hỏng; còn

việc đọc báo thì tốn kém. Vì vậy, theo họ, để nắm bắt thơng tin và giải trí thì

việc xem truyền hình là rất phù hợp với người dân. Ngoài ra, những khu vui

chơi giải trí trên địa bàn huyện như: nhà văn hóa, nhà thiếu nhi huyện, cơng



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Ảnh hưởng của thu hồi đất đến hoạt động kinh tế của nông hộ được thể hiện trên Bảng 3.11.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×