Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Ba là, Căn cứ vào tình hình thực tế để điều chỉnh giá đất phù hợp. Đền bù cả những tổn hại hữu hình và vô hình một cách hợp lý cho người lao động khi họ bị thu hồi đất để đảm bảo ổn định cuộc sống cho người dân.

Ba là, Căn cứ vào tình hình thực tế để điều chỉnh giá đất phù hợp. Đền bù cả những tổn hại hữu hình và vô hình một cách hợp lý cho người lao động khi họ bị thu hồi đất để đảm bảo ổn định cuộc sống cho người dân.

Tải bản đầy đủ - 0trang

36



nghiệp, nông thôn sang CN và dịch vụ, đảm bảo đời sống cho người dân các

vùng này, đảm bảo an ninh, trật tự an toàn xã hội.

1.2.3. Tổng quan các cơng trình nghiên cứu

Theo nghiên cứu của Cao Thị Thu Yến (2003) về tái định cư trong dự án

thủy điện Sơn La thì những hộ dân sau khi bị thu hồi đất và tái định cư thì thu

nhập của tất cả các hộ dân giảm sau tái định cư. Đồng thời người dân khơng có

điều kiện tiếp cận các trung tâm y tế, thiếu nguồn nước sạch có nguy cơ nhiễm

bệnh cao.

Theo nghiên cứu của Nguyễn Phúc Thọ (2006) ở Quế Võ, Bắc Ninh, sau

tái định cư, các hộ dân bị di dời có nhiều thời gian rảnh hơn, hơn 50% quỹ thời

gian làm việc, đặc biệt là lực lượng lao động trẻ (tuổi trung bình 26 tuổi)

Theo nghiên cứu của Phạm Quang Tín (2007) về thực trạng việc làm của

người lao động trong các hộ dân diện thu hồi đất tỉnh Quảng Nam thì chính sách

hỗ trợ đền bù đối với người bị thu hồi đất chưa thỏa đáng nên đời sống của các

hộ dân có rất nhiều thay đổi, nhiều hộ rơi vào tình trạng đời sống khó khăn

chiếm 56,82% trong tổng số hộ bị thu hồi đất sản xuất so với trước khi bị thu

hồi đất sản xuất. Ngoài ra số người lao động thất nghiệp sau thu hồi đất chiếm

tỷ lệ 12,6%-do đó ảnh hưởng đến thu nhập của người dân.

Theo nghiên cứu của Lê Văn Thành và cộng sự (2008) về thực trạng đời

sống kinh tế xã hội các hộ gia đình sau tái định cư ở Thành phố Hồ Chí Minh:

vấn đề và giải pháp thì đa số hộ dân bị thu hồi đất có thu nhập thấp hơn lúc

trước khi tái định cư. Sự giảm sút về thu nhập cho thấy những khó khăn mà

người dân phải chịu trong công ăn việc làm, chỉ có 12,7% người chuyển đổi

việc làm sau thu hồi đất. Tuy tỷ lệ người dân thay đổi việc làm ít nhưng thu

nhập của họ kiếm được từ công việc làm ăn đã bị giảm sút do những khó khăn

vì di chuyển chỗ ở, hoặc do những phí tổn phải đi làm xa. Những khó khăn

trong thu nhập của người dân nên được coi là một trong những chỉ báo về sự



37



không ổn định của đời sống người dân sau tái định cư để có những chính sách

hỗ trợ tích cực hơn đối với họ.

Theo nghiên cứu của Thái Thanh Phong (2009) thì tiền đền bù đất và đất

thổ cư tái định cư là tải sản quan trọng mà các hộ dân bị di dời đã sử dụng cho

đầu tư phục hồi sinh kế. số tài sản này ảnh hưởng trực tiếp đến tổng mức thu

nhập của hộ gia đình sau thu hồi đất. Hầu hết tiền đền bù của hộ chỉ đủ cho việc

xây nhà tái định cư, thậm chí một số hộ còn bị thâm hụt. Do đó, các hộ dân đã

phải bán bớt đất tái định cư để có thêm tiền bù vào việc xây dựng nhà mới và

đầu tư cho việc tạo dựng các sinh kế mới. Qua nghiên cứu, có một số yếu tố có

mối quan hệ đồng biến với thu nhập của hộ gia đình như: Trình độ học vấn của

chủ hộ; số lao động trong hộ. Các yếu tố có mối quan hệ nghịch biến với thu

nhập của hộ gia đình như: tỷ lệ số người phụ thuộc trong hộ gia đình; diện tích

đất bị thu hồi.

Qua kết quả của nhiều nhà nghiên cứu cho thấy rằng người dân sau khi bị

thu hồi đất và được tái định cư đã bị mất đi nguồn thu nhập từ nông nghiệp, thu

nhập của họ bị suy giảm và khó có khả năng phục hồi. Đồng thời việc tiếp cận

nước sạch và các dịch vụ công như y tế, giáo dục còn nhiều hạn chế. Do vậy,

nếu khơng có những biện pháp hỗ trợ từ Chính phủ thì người dân có nguy cơ bị

khánh kiệt và đời sống sẽ gặp rất nhiều khó khăn.

Bên cạnh các nghiên cứu đã được thực hiện, đề tài này nhằm giúp hiểu

thêm về các yếu tố ảnh hưởng đến việc cải thiện thu nhập của hộ gia đình

nơng dân sau thu hồi đất, những thuận lợi và khó khăn mà các hộ dân này gặp

phải sau khi bị thu hồi đất



38



Chƣơng 2

ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đặc điểm cơ bản của huyện Lƣơng Sơn, tỉnh Hòa Bình

2.1.1. Giới thiệu chung về Khu cơng nghiệp Lương Sơn

Khu công nghiệp Lương Sơn được thành lập theo quyết định số 78/QĐUBND ngày 21/01/2011 của UBND tỉnh Hòa Bình. Hạ tầng kỹ thuật đã được

đầu tư cơ bản đồng bộ, gồm: Hệ thống đường giao thông nội bộ đạt tiêu chuẩn

tải trọng H30, cùng hệ thống thoát nước mưa, nước thải đảm bảo chất lượng

tiêu chuẩn Việt Nam; Nước sạch được cung cấp từ nguồn nước mặt Sông Đà

và nguồn nước ngầm tại khu công nghiệp; Nhà máy xử lý nước thải tập trung

trong khu công nghiệp công suất 3.000m3/ngày đêm. Hạ tầng lưới điện

35/22Kv được kết nối với Trạm biến áp 110Kv nằm trong khu công nghiệp.

Đã quy hoạch dành quỹ đất cho xây dựng hạ xã hội, gồm Khu hành chính

dịch vụ, thiết chế văn hóa, nhà ở cho công nhân,…

* Thông tin chung:

- Website:

- Chủ đầu tư KCN:

- Lĩnh vực ưu tiên:



http://www.luongsonip.com

Công ty Cổ phần Bất động sản An Thịnh Hồ Bình

Các ngành sản xuất ít gây ô nhiễm môi trường, sản

xuất chế biến nông lâm sản, vật liệu xây dựng, sản xuất

và lắp ráp cơ khí, điện tử, chế biến hàng tiêu dùng và

xuất khẩu,…



Công ty TNHH Minh Trung, Công ty TNHH Seyoung INC

- Doanh nghiệp tiêu (Hàn Quốc/Korea), Công ty TNHH Dongah ElecommViệt

Nam (Hàn Quốc/Korea), Công ty CP Composite, Công ty

biểu:

CP Techno, Cty TNHH Almine VN,..



* Vị trí:

- Mơ tả:

- Khoảng cách đến TP



Nằm dọc theo quốc lộ 6, cạnh địa phận Hà Nội,

cách trung tâm Hà Nội 36km, cách TP Hòa Bình

36km.

Cách Thành phố Hòa Bình 36km, cách trung tâm



39



lớn:

- Cảng biển gần nhất:

- Sân bay gần nhất:

- Ga đường sắt gần nhất:

* Cơ sở hạ tầng:



Hà Nội 40km

Cách Cảng Hải Phòng 120 km

Cách sân bay Quốc tế Nội Bài 65 km

N/A



Hệ thống giao thơng nội bộ giai đoạn 1 tương đối

hồn thiện.

Trạm 110kV trong Khu công nghiệp, điện từ nhà

- Điện:

máy thủy điện Sông Đà qua trạm biến áp 110/220

(2x25) MVA được cấp tới chân hàng rào nhà máy.

Cấp nước sạch từ Nhà máy nước sông Đà và hệ

- Nước:

thống nước ngầm trong KCN với công suất 6.000

m3/ngày đêm

Mạng viễn thông 1000 số, Internet cung cấp bởi

- Thông tin liên lạc:

VNPT, EVN, Vietel

Rác thải được thu gom tập kết và vận chuyển đến

- Xử lý rác thải:

khu vực xử lý tập trung theo quy định

Khu xử lý nước thải tập trung với lưu lượng 3.000

- Xử lý nước thải:

m3/ngày đêm

Có 3 Ngân hàng cách KCN khoảng 3-5km: NH Đầu

- Tài chính:

tư & Phát triển Hòa Bình chi nhánh Lương Sơn; NH

cơng thương Láng Hòa Lạc; NH NN & PT Nơng thơn

- Trường đào tạo:

N/A

- Nhà ở cho người lao động: Đang lập dự án xây dựng nhà ở cho công nhân

KCN nằm cận vùng tam giác tăng trưởng kinh tế

- Tiện tích khác:

của đồng bằng Bắc Bộ, có nguồn nhân lực dồi dào

* Diện tích:

- Đường giao thơng:



- Diện tích quy hoạch chi tiết:

- Diện tích sẵn sàng cho thuê:

- Bản đồ quy hoạch:

* Chi phí:

- Giá th chưa có hạ tầng:

- Giá thuê đã có hạ tầng:

- Giá điện:



82,90 ha

20 ha

N/A

N/A USD/m2

80 USD/m2

Theo giá của EVN



40



- Giá nước:

- Giá nhân cơng:

- Phí xử lý chất thải rắn:

- Phí xử lý nước thải:

- Phí quản lý:

- Chi phí khác:

* Hiện trạng:

- Năm đi vào hoạt động:

- Tỷ lệ lấp đầy:

- Các ưu đãi về đầu tư:

* Thông tin khác:

- Điểm mạnh:

- Điểm yếu:

- Cơ hội:

- Thách thức:



Theo quy định hiện hành của UBND tỉnh

Giá tham khảo: 100 - 350USD/người/tháng

Theo quy định của UBND tỉnh và của Ban

quản lý KCN

0.28usd/m3

0.3usd/m2/năm

N/A

2007

N/A

Theo quy định của Chính phủ và địa phương



Nằm dọc theo QL 6 kết nối Hà Nội - Hòa Bình. Cơ sở hạ

tầng KCN được đầu tư xây dựng đồng bộ, hiện đại.Trình

độ quản lý cao, gần Hà Nội. Dịch vụ Hỗ trợ đầu tư tốt

Chi phí vận hành cao

Phù hợp với nhiều loại hình đầu tư.

Chính sách thu hút lao động, đặc biệt là lao động có trình

độ cao.



2.1.2. Đặc điểm về tự nhiên

2.1.2.1. Vị trí địa lý

Huyện Lương Sơn nằm ở phía Đơng Bắc tỉnh Hòa Bình, cửa ngõ phía

Tây Hà Nội, phía Bắc giáp huyện Quốc Oai và Thạch Thất, phía Đơng giáp

huyện Mỹ Đức, Chương Mỹ (Hà Nội), phía Nam giáp huyện Kim Bơi, phía

Tây giáp huyện Kỳ Sơn (tỉnh Hòa Bình). Trung tâm huyện là thị trấn Lương

Sơn, cách trung tâm thủ đô Hà Nội khoảng 40km.

Trên địa bàn Lương Sơn có đường Quốc lộ 6 (QL6) chạy qua theo

hướng Đông - Tây, cắt ngang qua huyện từ khu Năm Lu đến Dốc Kẽm, đi

qua thị trấn trung tâm huyện, nối Hà Nội với Thành phố Hồ Bình, đi lên các



41



tỉnh phía Tây bắc; Quốc lộ 21A (nay là đường Hồ Chí Minh) chạy qua rìa

một số xã phía Đơng Nam huyện.

Xét về mặt vị trí, Lương Sơn được gọi là cửa ngõ phía Tây của Thủ đơ

Hà Nội, là điểm cầu nối, giao thoa giữa Hồ Bình với các tỉnh vùng Tây Bắc

và Thành phố Hà Nội, lan toả ra toàn vùng Hà Nội rồi tới các tỉnh đồng bằng

sơng Hồng. Vị trí này tạo ra những lợi thế đặc biệt cho huyện trong phát triển

kinh tế, nhất là thương mại dịch vụ, giao thông vận tải, hậu cần, khoa học

công nghệ, du lịch, giáo dục, giao lưu hàng hố đa dạng, phong phú.

2.1.2.2. Địa hình của huyện Lương Sơn

Về địa hình, Lương Sơn là huyện vùng thấp bán sơn địa, có địa hình

phổ biến là núi thấp và đồng bằng. Độ cao trung bình của tồn huyện so với

mực nước biển là 251 m, có địa thế nghiêng đều theo chiều từ Tây Bắc xuống

Đông Nam. Sau khi sáp nhập 7 xã huyện Kim Bôi trong đó chủ yếu là vùng

đất tiếp xúc với đồng bằng, với những cánh đồng nhỏ bằng phẳng, diện tích

đất đồng bằng trên địa bàn huyện lên tới trên 45%. Như vậy, địa hình của

Lương Sơn có thể hệ thống thành những dạng: (1) vùng địa hình đồi núi: bao

gồm vùng núi cao xen kẽ đồi thấp thuộc dãy Trường Sơn, có độ dốc trung

bình 20-30%, trong đó có nhiều dãy núi thấp chạy dài xen kẽ các khối núi đá

vôi với những hang động hoặc có nhiều khe suối, hồ tự nhiên, hồ nhân tạo

đan xen tạo nên cảnh sắc đẹp. (2) Vùng địa hình bằng phẳng, bao gồm chủ

yếu ở phía Bắc QL6, các xã phía Nam huyện, độ dốc khoảng 3-5%, cao độ

trung bình khoảng 15-30m. (3) Khu vực trũng thấp ven sơng Bùi, phía Nam

quốc lộ 6 có cao độ dao động từ 10-12m.

Dựa trên yếu tố địa hình kết hợp với vị trí địa lý, Lương Sơn có thể

chia thành 4 tiểu vùng:

(1) Tiểu vùng phía Bắc huyện bao gồm Thị trấn Lương Sơn và các xã:



Lâm Sơn, Hồ Sơn, Tân Vinh, Nhuận Trạch: có địa hình cao nhất, gồm



42



những dãy núi cao xen kẽ đồi thấp hình bát úp, ở giữa là thung lũng rộng

bằng phẳng, có hệ thống sơng (sơng Bùi) và hồ, tạo nên cảnh quan thiên

nhiên đẹp, phong phú. Vùng này có vị trí địa lý thuận lợi, gần Hà Nội, có

đường quốc lộ 6 chạy qua, là đầu mối giao thông quan trọng của tỉnh Hồ

Bình và vùng Tây Bắc với vùng Hà Nội.

(2) Tiểu vùng Đông Nam huyện, bao gồm các xã: Thành Lập, Trung Sơn,



Liên Sơn, Tiến Sơn, Cao Thắng, Cao Dương, Thanh Lương : địa hình cao, có

nhiều núi đã vôi, núi đất, xen kẽ hang động nhũ đá; vị trí địa lý giáp Hà Nội, có

trục đường quốc lộ 21 (nay là đường Hồ Chí Minh chạy dài men theo các xã.

(3) Vùng Tây Nam huyện bao gồm 4 xã: Trường Sơn, Cao Răm, Cư Yên,



Hợp Hoà: địa hình cao, nhiều đồi núi thấp; đây thuộc vùng sâu, xa của huyện, hệ

thống giao thông không thuận lợi. Khơng những thế, phía cuối vùng (cao Răm,

Trường Sơn) gần như bị “chặn” do bị che chắn bởi hệ thống núi đất.

(4) Vùng phía Nam huyện bao gồm các xã: Tân Thanh, Hợp Châu,



Long Sơn, và Hợp Thanh: vùng đất thấp, đồng bằng; đây là vùng có vị trí địa

lý quan trọng về an ninh quốc phòng.

Yếu tố địa hình nói trên đã tạo cho Lương Sơn khả năng phát triển một

nền kinh tế tổng hợp cả nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi), lâm nghiệp, kinh

tế vườn đồi, công nghiệp vật liệu xây dựng, thương mại dịch vụ, dụ lịch sinh

thái, nghỉ dưỡng.

2.1.2.3. Khí hậu thủy văn

Lương Sơn nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung

bình là 23°c. Lượng mưa trung bình năm khoảng 1.769,50 mm nhưng phân

bổ không đều, mưa nhiều từ tháng 5 đến tháng 10, tập trung vào các tháng 7,

8, 9. Từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau lượng mưa thường khơng đáng kế. Độ

ẩm trung bình năm là 84,5%, và sự chênh lệch giữa các tháng khá lớn, tháng

cao nhất (tháng 3) là 90% và tháng thấp nhất (tháng 12) là 30%.



43



Chế độ thuỷ văn trên địa bàn huyện được chi phối bởi hệ thống sông,

suối và hồ đập. Sông Bùi là con sơng nhỏ, ngắn, lại dốc, có chiều dài 12km,

bắt nguồn từ dãy núi Trường Sơn, chảy qua xã Cao Răm, Tân Vinh, và Thị

trấn, sau đó chảy vào sông Đáy tại huyện Chương Mỹ (Hà Nội). Sông Bùi

ảnh hưởng quan trọng đối với hiện tượng thuỷ văn của các xã phía Bắc

huyện. Phía Nam huyện có sơng Song Huỳnh chảy qua địa phận hai xã Cao

Thắng, Cao Dương, có độ dài khoảng 6 km, góp phần cung cấp nguồn nước

mặt cho các xã khu vực này. Trên địa bàn huyện có 6 hồ và khoảng 15 con

suối, đây là nguồn thuỷ văn quan trọng cung cấp cho sản xuất và đời sống

sinh hoạt của dân cư.

Điều kiện khí hậu, thuỷ văn, sơng ngòi đã tạo cho Lương Sơn những

thuận lợi trong phát triển nông nghiệp, đa dạng hố các loại vật ni, cây

trồng, thâm canh tăng vụ và phát triển lâm nghiệp. Hệ thống sông suối, hồ

đập không những là nguồn tài nguyên cung cấp nước cho sản xuất và đời

sống nhân dân mà còn có tác dụng điều hồ khí hậu, cải thiện mơi trường sinh

thái và phát triển nguồn lợi thuỷ sản.

2.1.2.4. Đất đai, tài ngun

Tình hình đất đai của huyện Lương Sơn:

Xét về tính chất đất: đất đai của huyện Lương Sơn được chia làm

nhiều loại có nguồn gốc phát sinh khác nhau, trong đó, các loại chính là :

- Đất đỏ vàng phát triển trên đá phiến thạch sét, đất đỏ vàng biến đổi



do trồng lúa. Loại đất này chiếm tỷ trọng cao nhất và phân bố ở khắp các xã

trong huyện, trừ 5 xã vùng phía Nam huyện, nhiều nhất là ở các xã vùng Tây

Nam. Loại đất này phù hợp với cây ăn quả, cây công nghiệp và trồng rừng.

- Đất đồng bằng, đất phù sa sông Bùi, sông Song Huỳnh và các con



suối nhỏ; đất thung lũng do sản phẩm dốc tụ. Loại đất này chủ yếu tập trung ở

vùng thấp phía Bắc, Nam. Loại đất này thích hợp trồng lúa, rau và hoa mầu.



44



- Đất xói mòn trơ sỏi đá do hậu quả của chặt phá rừng trước đây, chủ



yếu tập trung các xã vùng Tây Nam, Đông Nam. Loại đất này tầng canh tác

mỏng, khó khai thác để sản xuất nơng nghiệp. Tuy khơng có khả năng khai

thác để phát triển sản xuất nơng nghiệp nhưng có thể sử dụng cải tạo để trồng

cỏ, phục vụ cho phát triển chăn nuôi đại gia súc.

Đất đai ở Lương Sơn có độ mùn khá, độ PH phổ biến ở mức 4,5-5,5,

phù hợp với nhiều loại cây trồng.

Tính chất đất đai khác nhau được phân bố trên các vùng khác nhau sẽ

tạo điều kiện để Lương Sơn có thể phát triển nơng nghiệp theo hướng chun

mơn hố quy mơ lớn theo vùng để có một nền nơng nghiệp đa dạng hố trên

tồn huyện.

Xét về quỹ đất: Tổng diện tích đất tự nhiên (tính đến 2016) là 37.707,79

ha. Cụ thể, tỷ trọng các loại đất của huyện Lương Sơn: Đất lâm - nông nghiệp

chiếm tỷ trọng cao nhất, thể hiện khả năng về phát triển lâm nghiệp và nông

nghiệp ở huyện. Đất nơng nghiệp tập trung nhiều ở vùng Bắc và phía Nam, còn

đất lâm nghiệp tập trung nhiều ở vùng Tây Bắc. Đây là điều kiện tốt để hình

thành đặc trưng nơng nghiệp của mồi vùng trong huyện. Diện tích đất chuyên

dùng và đất ở chiếm tỷ trọng thấp, thể hiện sự phát triển chưa mạnh của các

ngành công nghiệp, dịch vụ cũng như q trình đơ thị hố còn chậm.

Tình hình tài ngun: Trên địa bàn huyện Lương Sơn có các loại

khống sản trữ lượng lớn đó là: đá vơi, đá xây dựng, đất sét, đá Bazan, quặng

đa kim. Lương Sơn được cung cấp chủ yếu bằng 3 nguồn chính: nước ngầm,

nước mặt, và nước mưa tự nhiên. Bên cạnh đó huyện cũng là nơi có tiềm

năng phát triển du lịch danh lam thắng cảnh, tiềm năng du lịch văn hố, lịch

sử. huyện có nhiều danh lam thắng cảnh, di chỉ khảo cổ học, hệ thống hang

động, núi đá tự nhiên, đa dạng như: hang Trầm, hang Rồng, mái đá Diềm, núi

Vua Bà, động Đá Bạc, Động Long Tiên, động Mầu... Lương Sơn cũng là một

huyện có nguồn tài nguyên du lịch văn hoá vật thế và phi vật thế lớn.



45



2.1.3. Đặc điểm kinh tế - xã hội

2.1.3.1. Dân số, lao động

Dân số toàn huyện (năm 2016) là 99.658 người, tổng số hộ là 22.551

hộ. Số người trong độ tuổi lao động là 46.768 người, trong đó lao động trong

độ tuổi trong lĩnh vực nông nghiệp là 43.118 người. Dân tộc sinh sống chủ

yếu là dân tộc Mường, Kinh, Dao. Bình qn mỗi hộ có từ 4 -5 người, tuy

nhiên số lao động bình qn trong mỗi hộ tồn xã chỉ là 2 lao động/hộ.

Chi tiết của từng xã được thể hiện ở bảng 2.1.

Bảng 2.1. Hiện trạng dân số, lao động huyện Lƣơng Sơn năm 2016

TT

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11

12

13

14

15

16

17

18

19

20



Xã, Thị trấn

Hòa Sơn

Nhuận Trạch

Cư Yên

Họp Hòa

Cao Răm

Tân Vinh

Trường Sơn

Lâm Sơn

TT Lương Sơn

Liên Sơn

Thành Lập

Trung Sơn

Tiên Sơn

Tân Thành

Họp Châu

Long Sơn

Họp Thanh

Thanh Lương

Cao Thăng

Cao Dương

Toàn huyện



Dân số (ngƣời)

7032

5014

3972

2599

4567

4366

2352

4292

16367

4236

3456

4378

3686

5931

4148

4300

4500

3830

5782

4850

99658



Lao động

(ngƣời)

3201

2761

2701

1700

2201

2749

1600

1600

4048

2467

1897

1200

2260

3200

2350

1975

2410

2030

2200

2218

46768



Số HGĐ

(hộ)

1531

1176

875

573

1032

1122

524

953

3500

1072

842

998

787

1500

918

940

945

868

1370

1025

22551



(Nguôn:Chi cục thông kê huyện)

Lương Sơn là huyện đông dân, tốc độ tăng trưởng dân số nhanh hơn

mức chung của tỉnh. Đây là một thuận lợi về khả năng cung cấp lực lượng lao

động cho phát triển kinh tế xã hội của huyện, cũng như tạo ra một thị trường

tiêu thụ hàng hoá tiêu dùng rộng lớn so với các địa phương khác trong tỉnh.

Tuy vậy, nó cũng là một thách thức lớn cho huyện trong việc phát triển khu

dân cư, nhà ở, khu đô thị, cũng như vấn đề an ninh, trật tự an toàn xã hội.



46



Trình độ dân trí và tay nghề của người lao động hiện tại chưa cao, tỷ lệ

lao động qua đào tạo đạt thấp, chưa bảo đảm nhu cầu cho một huyện thuộc

vùng động lực tăng trưởng của tỉnh Hoà Bình và đang có xu hướng chuyến

dịch cơ cấu kinh tế mạnh sang các ngành công nghiệp và dịch vụ.

2.1.3.2. Đặc điểm hệ thống cơ sở hạ tầng

Hệ thống cơ sở hạ tầng bao gồm: giao thông, thuỷ lợi, điện, bưu chính

viễn thơng (kinh tế - kỹ thuật); trường học, bệnh viện, trạm y tế, nhà văn hoá,

trung tâm học tập cộng đồng (xã hội), … đã được trang bị mạng lưới khá rộng

khắp và phủ kín trên tồn địa bàn huyện. Một số nét phản ánh đặc điểm rõ nét

nhất của hệ thống cơ sở hạ tầng trên địa bàn huyện thể hiện như sau:

- Hệ thống giao thông: Trên địa bàn huyện chỉ có duy nhất một loại

hình giao thông đường bộ; hệ thống sông suối trên địa bàn huyện có độ dốc

lớn, lòng hẹp và ngắn nên không thể sử dụng được cho giao thông thuỷ. Hệ

thống đường bộ giữ vai trò chủ đạo trong vận chuyển hàng hoá và hành

khách, hai tuyến đường quốc lộ chạy qua huyện có chất lượng tốt. Hệ thống

đường tỉnh lộ và giao thông nông thôn vừa thiếu, bị chia cắt và vừa kém chất

lượng: ngắn, hẹp, đường cấp phối là chủ yếu (khoảng 70% tổng số độ dài của

các tuyến đường)

- Hệ thống cơ sở hạ tầng cấp thoát nước hiện nay nhìn chung chưa phù

hợp và khơng đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội của huyện hiện

tại và trong tương lai: hệ thống cấp nước chủ yếu theo phương thức tự chảy,

chỉ có khoảng 60% dân số huyện được hưởng lợi từ hệ thống cấp nước huyện,

nhiều xã, nhất là vùng Tây Nam huyện rất khó khăn về nguồn nước kể cả cho

đời sống và cho sản xuất. Hệ thống thoát nước chủ yếu vẫn là tự chảy, tự thấm

và thốt theo địa hình tự nhiên ra các khu vực trũng (trừ khu vực thị trấn).

- Hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật khác như điện, bưu chính viễn thơng,

hệ thống xử lý rác thải và vệ sinh mơi trường nhìn chung đã được trang bị



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Ba là, Căn cứ vào tình hình thực tế để điều chỉnh giá đất phù hợp. Đền bù cả những tổn hại hữu hình và vô hình một cách hợp lý cho người lao động khi họ bị thu hồi đất để đảm bảo ổn định cuộc sống cho người dân.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×