Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
* Thông tin khác:

* Thông tin khác:

Tải bản đầy đủ - 0trang

41



tỉnh phía Tây bắc; Quốc lộ 21A (nay là đường Hồ Chí Minh) chạy qua rìa

một số xã phía Đơng Nam huyện.

Xét về mặt vị trí, Lương Sơn được gọi là cửa ngõ phía Tây của Thủ đơ

Hà Nội, là điểm cầu nối, giao thoa giữa Hồ Bình với các tỉnh vùng Tây Bắc

và Thành phố Hà Nội, lan toả ra toàn vùng Hà Nội rồi tới các tỉnh đồng bằng

sơng Hồng. Vị trí này tạo ra những lợi thế đặc biệt cho huyện trong phát triển

kinh tế, nhất là thương mại dịch vụ, giao thông vận tải, hậu cần, khoa học

công nghệ, du lịch, giáo dục, giao lưu hàng hố đa dạng, phong phú.

2.1.2.2. Địa hình của huyện Lương Sơn

Về địa hình, Lương Sơn là huyện vùng thấp bán sơn địa, có địa hình

phổ biến là núi thấp và đồng bằng. Độ cao trung bình của tồn huyện so với

mực nước biển là 251 m, có địa thế nghiêng đều theo chiều từ Tây Bắc xuống

Đông Nam. Sau khi sáp nhập 7 xã huyện Kim Bơi trong đó chủ yếu là vùng

đất tiếp xúc với đồng bằng, với những cánh đồng nhỏ bằng phẳng, diện tích

đất đồng bằng trên địa bàn huyện lên tới trên 45%. Như vậy, địa hình của

Lương Sơn có thể hệ thống thành những dạng: (1) vùng địa hình đồi núi: bao

gồm vùng núi cao xen kẽ đồi thấp thuộc dãy Trường Sơn, có độ dốc trung

bình 20-30%, trong đó có nhiều dãy núi thấp chạy dài xen kẽ các khối núi đá

vôi với những hang động hoặc có nhiều khe suối, hồ tự nhiên, hồ nhân tạo

đan xen tạo nên cảnh sắc đẹp. (2) Vùng địa hình bằng phẳng, bao gồm chủ

yếu ở phía Bắc QL6, các xã phía Nam huyện, độ dốc khoảng 3-5%, cao độ

trung bình khoảng 15-30m. (3) Khu vực trũng thấp ven sơng Bùi, phía Nam

quốc lộ 6 có cao độ dao động từ 10-12m.

Dựa trên yếu tố địa hình kết hợp với vị trí địa lý, Lương Sơn có thể

chia thành 4 tiểu vùng:

(1) Tiểu vùng phía Bắc huyện bao gồm Thị trấn Lương Sơn và các xã:



Lâm Sơn, Hồ Sơn, Tân Vinh, Nhuận Trạch: có địa hình cao nhất, gồm



42



những dãy núi cao xen kẽ đồi thấp hình bát úp, ở giữa là thung lũng rộng

bằng phẳng, có hệ thống sông (sông Bùi) và hồ, tạo nên cảnh quan thiên

nhiên đẹp, phong phú. Vùng này có vị trí địa lý thuận lợi, gần Hà Nội, có

đường quốc lộ 6 chạy qua, là đầu mối giao thông quan trọng của tỉnh Hồ

Bình và vùng Tây Bắc với vùng Hà Nội.

(2) Tiểu vùng Đông Nam huyện, bao gồm các xã: Thành Lập, Trung Sơn,



Liên Sơn, Tiến Sơn, Cao Thắng, Cao Dương, Thanh Lương : địa hình cao, có

nhiều núi đã vôi, núi đất, xen kẽ hang động nhũ đá; vị trí địa lý giáp Hà Nội, có

trục đường quốc lộ 21 (nay là đường Hồ Chí Minh chạy dài men theo các xã.

(3) Vùng Tây Nam huyện bao gồm 4 xã: Trường Sơn, Cao Răm, Cư n,



Hợp Hồ: địa hình cao, nhiều đồi núi thấp; đây thuộc vùng sâu, xa của huyện, hệ

thống giao thông không thuận lợi. Không những thế, phía cuối vùng (cao Răm,

Trường Sơn) gần như bị “chặn” do bị che chắn bởi hệ thống núi đất.

(4) Vùng phía Nam huyện bao gồm các xã: Tân Thanh, Hợp Châu,



Long Sơn, và Hợp Thanh: vùng đất thấp, đồng bằng; đây là vùng có vị trí địa

lý quan trọng về an ninh quốc phòng.

Yếu tố địa hình nói trên đã tạo cho Lương Sơn khả năng phát triển một

nền kinh tế tổng hợp cả nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi), lâm nghiệp, kinh

tế vườn đồi, công nghiệp vật liệu xây dựng, thương mại dịch vụ, dụ lịch sinh

thái, nghỉ dưỡng.

2.1.2.3. Khí hậu thủy văn

Lương Sơn nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung

bình là 23°c. Lượng mưa trung bình năm khoảng 1.769,50 mm nhưng phân

bổ không đều, mưa nhiều từ tháng 5 đến tháng 10, tập trung vào các tháng 7,

8, 9. Từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau lượng mưa thường không đáng kế. Độ

ẩm trung bình năm là 84,5%, và sự chênh lệch giữa các tháng khá lớn, tháng

cao nhất (tháng 3) là 90% và tháng thấp nhất (tháng 12) là 30%.



43



Chế độ thuỷ văn trên địa bàn huyện được chi phối bởi hệ thống sông,

suối và hồ đập. Sông Bùi là con sơng nhỏ, ngắn, lại dốc, có chiều dài 12km,

bắt nguồn từ dãy núi Trường Sơn, chảy qua xã Cao Răm, Tân Vinh, và Thị

trấn, sau đó chảy vào sơng Đáy tại huyện Chương Mỹ (Hà Nội). Sông Bùi

ảnh hưởng quan trọng đối với hiện tượng thuỷ văn của các xã phía Bắc

huyện. Phía Nam huyện có sơng Song Huỳnh chảy qua địa phận hai xã Cao

Thắng, Cao Dương, có độ dài khoảng 6 km, góp phần cung cấp nguồn nước

mặt cho các xã khu vực này. Trên địa bàn huyện có 6 hồ và khoảng 15 con

suối, đây là nguồn thuỷ văn quan trọng cung cấp cho sản xuất và đời sống

sinh hoạt của dân cư.

Điều kiện khí hậu, thuỷ văn, sơng ngòi đã tạo cho Lương Sơn những

thuận lợi trong phát triển nơng nghiệp, đa dạng hố các loại vật nuôi, cây

trồng, thâm canh tăng vụ và phát triển lâm nghiệp. Hệ thống sông suối, hồ

đập không những là nguồn tài nguyên cung cấp nước cho sản xuất và đời

sống nhân dân mà còn có tác dụng điều hồ khí hậu, cải thiện mơi trường sinh

thái và phát triển nguồn lợi thuỷ sản.

2.1.2.4. Đất đai, tài nguyên

Tình hình đất đai của huyện Lương Sơn:

Xét về tính chất đất: đất đai của huyện Lương Sơn được chia làm

nhiều loại có nguồn gốc phát sinh khác nhau, trong đó, các loại chính là :

- Đất đỏ vàng phát triển trên đá phiến thạch sét, đất đỏ vàng biến đổi



do trồng lúa. Loại đất này chiếm tỷ trọng cao nhất và phân bố ở khắp các xã

trong huyện, trừ 5 xã vùng phía Nam huyện, nhiều nhất là ở các xã vùng Tây

Nam. Loại đất này phù hợp với cây ăn quả, cây công nghiệp và trồng rừng.

- Đất đồng bằng, đất phù sa sông Bùi, sông Song Huỳnh và các con



suối nhỏ; đất thung lũng do sản phẩm dốc tụ. Loại đất này chủ yếu tập trung ở

vùng thấp phía Bắc, Nam. Loại đất này thích hợp trồng lúa, rau và hoa mầu.



44



- Đất xói mòn trơ sỏi đá do hậu quả của chặt phá rừng trước đây, chủ



yếu tập trung các xã vùng Tây Nam, Đông Nam. Loại đất này tầng canh tác

mỏng, khó khai thác để sản xuất nơng nghiệp. Tuy khơng có khả năng khai

thác để phát triển sản xuất nơng nghiệp nhưng có thể sử dụng cải tạo để trồng

cỏ, phục vụ cho phát triển chăn ni đại gia súc.

Đất đai ở Lương Sơn có độ mùn khá, độ PH phổ biến ở mức 4,5-5,5,

phù hợp với nhiều loại cây trồng.

Tính chất đất đai khác nhau được phân bố trên các vùng khác nhau sẽ

tạo điều kiện để Lương Sơn có thể phát triển nơng nghiệp theo hướng chun

mơn hố quy mơ lớn theo vùng để có một nền nơng nghiệp đa dạng hố trên

tồn huyện.

Xét về quỹ đất: Tổng diện tích đất tự nhiên (tính đến 2016) là 37.707,79

ha. Cụ thể, tỷ trọng các loại đất của huyện Lương Sơn: Đất lâm - nông nghiệp

chiếm tỷ trọng cao nhất, thể hiện khả năng về phát triển lâm nghiệp và nông

nghiệp ở huyện. Đất nông nghiệp tập trung nhiều ở vùng Bắc và phía Nam, còn

đất lâm nghiệp tập trung nhiều ở vùng Tây Bắc. Đây là điều kiện tốt để hình

thành đặc trưng nơng nghiệp của mồi vùng trong huyện. Diện tích đất chuyên

dùng và đất ở chiếm tỷ trọng thấp, thể hiện sự phát triển chưa mạnh của các

ngành công nghiệp, dịch vụ cũng như q trình đơ thị hố còn chậm.

Tình hình tài ngun: Trên địa bàn huyện Lương Sơn có các loại

khống sản trữ lượng lớn đó là: đá vơi, đá xây dựng, đất sét, đá Bazan, quặng

đa kim. Lương Sơn được cung cấp chủ yếu bằng 3 nguồn chính: nước ngầm,

nước mặt, và nước mưa tự nhiên. Bên cạnh đó huyện cũng là nơi có tiềm

năng phát triển du lịch danh lam thắng cảnh, tiềm năng du lịch văn hoá, lịch

sử. huyện có nhiều danh lam thắng cảnh, di chỉ khảo cổ học, hệ thống hang

động, núi đá tự nhiên, đa dạng như: hang Trầm, hang Rồng, mái đá Diềm, núi

Vua Bà, động Đá Bạc, Động Long Tiên, động Mầu... Lương Sơn cũng là một

huyện có nguồn tài nguyên du lịch văn hoá vật thế và phi vật thế lớn.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

* Thông tin khác:

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×