Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
* Kinh nghiệm của Thành phố Đà Nẵng

* Kinh nghiệm của Thành phố Đà Nẵng

Tải bản đầy đủ - 0trang

32



chỉ tiêu dạy nghề dài hạn bằng ngân sách để từng bước tăng nhanh đội ngũ

công nhân lành nghề cho thành phố, tiếp tục duy trì chỉ tiêu dạy nghề ngắn

hạn do ngân sách đài thọ.

- Vận động nông dân lập trang trại, thuê mặt nước để nuôi trồng thuỷ

sản tự tạo việc làm cho mình cũng như cho người khác.

- Có văn bản quy định đối với các doanh nghiệp được giao đất tại các khu

công nghiệp trên địa bàn giải toả phải có trách nhiệm tiếp nhận người lao động

trong diện chịu ảnh hưởng của q trình đơ thị hoá vào làm việc tại doanh nghiệp.

* Kinh nghiệm của tỉnh Vĩnh Phúc

Vĩnh Phúc có tốc độ đơ thị hóa nhanh, trong vòng 10 năm (từ 1997 đến

2007) nhiều diện tích đất nơng nghiệp đã bị thu hồi để xây dựng các khu đô

thị, KCN... Sau 10 năm kể từ khi tái lập tỉnh (năm 1997), Vĩnh Phúc đã thu

hồi hơn 4.000ha đất nông nghiệp để xây dựng các KCN, khu đô thị và hạ

tầng, khiến hơn 10.000 hộ dân bị mất một phần hoặc toàn bộ đất ở, đất canh

tác. Khoảng 45.000 lao động nông thôn mất hoặc thiếu việc làm. Thời gian

tới, đất nông nghiệp ở nhiều địa phương trong tỉnh tiếp tục bị thu hồi để phục

vụ sự nghiệp cơng nghiệp, hóa - hiện đại hóa nên số lượng nơng dân khơng

còn đất sản xuất sẽ tiếp tục gia tăng, tạo sức ép rất lớn đối với giải quyết việc

làm. Trước thực trạng đó, các cấp, các ngành chức năng của tỉnh Vĩnh Phúc

đã có nhiều chủ trương, biện pháp nhằm giải quyết cơ bản vấn đề sinh kế cho

người nông dân bị mất đất thông qua:

- Xây dựng đề án “Dạy nghề cho lao động nông thôn, lao động ở vùng

dành đất phát triển công nghiệp”. Theo đề án, từ thời điểm thực hiện cho đến

năm 2010, tỉnh sẽ dành khoảng 87 tỷ đồng để đầu tư xây dựng, nâng cấp hệ

thống trường dạy nghề, mua sắm, hiện đại hóa máy móc thiết bị; hỗ trợ học

phí cho 14.000 lao động nơng thơn (chủ yếu là thanh niên); phát triển hệ

thống các trung tâm giới thiệu việc làm... Tỉnh phấn đấu nâng tỷ lệ lao động



33



được đào tạo nghề lên 45% vào năm 2010. Đến nay tồn tỉnh đã có 52 cơ sở

đào tạo nghề, với cơ cấu nghề đào tạo khá đa dạng, quy mô đào tạo hơn

31.000 lao động mỗi năm, cơ bản đã đáp ứng được nhu cầu học nghề của

người lao động. Ngành nông nghiệp Vĩnh Phúc đã tổ chức 385 lớp đào tạo về

các nghề chăn nuôi, trồng trọt, thuỷ sản, thú y, điện, kinh tế, tin học... cho trên

11.640 nông dân tham gia học tập. Để nâng cao hơn nữa số lượng thanh niên

nông thôn được đào tạo nghề cũng như được nhận vào làm việc tại các khu,

cụm cơng nghiệp, tỉnh đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách để hỗ trợ như:

các hộ gia đình dành đất để phát triển công nghiệp, dịch vụ nếu tham gia các

khóa đào tạo nghề dài hạn sẽ được hỗ trợ 10 tháng/khóa học; tham gia học bổ

túc văn hóa và nghề sẽ được hỗ trợ 15 tháng/khóa học (mức hỗ trợ 200.000

đồng/học viên/tháng). Tỉnh hỗ trợ các doanh nghiệp khi tiếp nhận lao động

nông thôn vào làm việc với mức 500.000 đồng/người (nếu lao động chưa

được đào tạo nghề); 200.000 đồng/người (nếu lao động đã được đào tạo

nghề), hỗ trợ học phí với mức từ 250 ngàn đến 300 ngàn đồng/tháng/ học viên

/khoá học đào tạo nghề; hỗ trợ 1 triệu đồng/người/ khoá đào tạo ngoại ngữ,

giáo dục định hướng xuất khẩu lao động. Tỉnh cũng khuyến khích đưa lao

động đi làm việc ngoài tỉnh theo chế độ mỗi lao động thuộc hộ có đất chuyển

đổi mục đích sử dụng đi làm việc ở các tỉnh phía Bắc được hỗ trợ 300 nghìn

đồng, đi miền Trung 500 nghin đồng và đi miền Nam là 700 nghìn đồng. Đến

năm 2010, tỉnh sẽ mở 3.000 lớp đào tạo các nghề mới cơ khí, may, điện, điện

tử... cho trên 90.000 nơng dân; đồng thời mở các điểm tư vấn, thông tin việc

làm, cơ chế chính sách, thị trường lao động từ tinh đến huyện, xã phục vụ

người dân. Đến nay, 23% lao động nơng thơn có đất bị thu hồi đã được nhận

vào làm việc ổn định trong các khu công nghiệp.

- Đối với những lao động bị thu hồi đất nhưng tuổi đã cao, khó chuyển

đổi nghề, tỉnh xác định hướng giải quyết là tạo việc làm tại chỗ. Để làm được



34



điều này, một mặt, tỉnh chú trọng đến công tác quy hoạch, phát triển các làng

nghề truyền thống, các nghề thủ công, tiểu thủ công... Huy động Hội Nông

dân, Hội Phụ nữ... vào cuộc, nhằm định hướng, dạy nghề, tạo việc làm cho

những đối tượng phù hợp, có nhu cầu. Mặt khác, một mơ hình được dư luận

đánh giá có tính “đột phá” đã và đang được tỉnh áp dụng rộng rãi. Đó là mơ

hình “đổi đất lấy dịch vụ”. Quyết định 2502/2004/QĐ - UB của ủy ban nhân

dân tỉnh Vĩnh Phúc về việc giao đất dịch vụ cho các hộ gia đình, cá nhân có

đất bị thu hồi để xây dựng khu công nghiệp, khu đô thị... đã nêu rõ: các hộ gia

đình, cá nhân có đất nơng nghiệp bị thu hồi chiếm 40% tổng diện tích đất

nơng nghiệp trở lên của hộ gia đình, cá nhân đó sẽ được cấp đất để làm dịch

vụ. Cứ 1 sào (360m2) đất thu hồi sẽ được cấp 10m2 đất dịch vụ (tối thiểu

20m2, tối đa 100m2). Đất “dịch vụ” sẽ được nông dân sử dụng để xây nhà cho

công nhân thuê, kinh doanh hàng ăn, tạp phẩm... tùy từng gia đình. Đây thực

sự là một quyết định đúng đắn, được sự đồng tình, nhất trí cao của đơng đảo

người dân có đất bị thu hồi. Đất “dịch vụ” đã giải quyết việc làm cho lao động

bị mất đất và tác dụng tích cực thúc đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng...

Kinh nghiệm giải quyết việc làm, ổn định đời sống cho người dân tỉnh

Vĩnh Phúc cho thấy: Tỉnh Vĩnh Phúc đã có chính sách hỗ trợ đào tạo nghề

cho từng đối tượng, nhất là đối với những lao động tuổi cao bị thu hồi đất.

Tuy nhiên đó mới chỉ là những giải pháp bước đầu giải quyết được tình trạng

thiếu việc làm và thất nghiệp của hộ nông dân. Các biện pháp chưa mang tính

đồng bộ và dài hạn, chưa gắn kết với các Sở, Ban, Ngành và lồng ghép sâu

rộng với các chương ừình, dự án của Tỉnh .

1.2.2.3. Bài học kinh nghiệm cho tỉnh Hòa Bình và huyện Lương Sơn

Một là, đảm bảo tính nhất quán và đồng bộ trong chính sách bồi

thường, hỗ trợ tái định cư, tránh tình trạng mỗi huyện, thị, mỗi dự án, cơng

trình có mức bồi thường và hỗ trợ khác nhau, từ đó làm cho lợi ích của người



35



dân bị ảnh hưởng.

Hai là, nâng cao năng lực thực hiện bồi thường, hỗ trợ, tái định cư của

các ban ngành ở địa phương và các đơn vị chức năng, tư vấn cũng như tinh

thần trách nhiệm, sự tuân thủ trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật, của

cán bộ thực thi việc kê khai, kiểm điểm, lập phương án đền bù.

Ba là, Căn cứ vào tình hình thực tế để điều chỉnh giá đất phù hợp. Đền

bù cả những tổn hại hữu hình và vơ hình một cách hợp lý cho người lao động

khi họ bị thu hồi đất để đảm bảo ổn định cuộc sống cho người dân.

Bốn là, để giúp người lao động có cơ hội tìm được việc làm mới do yêu

cầu của chuyển đổi cơ cấu kinh tế và nghề nghiệp thì cần phải tập trung vào vấn

đề đào tạo trình độ cho người lao động thơng qua nhiều hình thức khác nhau.

Năm là, điều chỉnh tiến độ quy hoạch, chỉnh trang đô thị, xây dựng các

khu tái định cư phù hợp với điều kiện và trình độ phát triển kinh tế - xã hội

của tỉnh.

Sáu là, phát triển các thành phần kinh tế, các loại hình kinh tế và thúc

đẩy thị trường lao động phát triển, trong đó nhấn mạnh xuất khẩu lao động

để GQVL cho người dân.

Bảy là, sử dụng có hiệu quả nguồn vốn từ Quỹ quốc gia GQVL. Đây là

những bài học kinh nghiệm thực tiễn rất có ý nghĩa để các địa phương học

tập, vận dụng một cách một cách sáng tạo vào thực tiễn GQVL và BĐĐS cho

người lao động sau khi bị thu hồi đất trong những năm tiếp theo khi mà tốc độ

đơ thị hố, cơng nghiệp hố ngày càng diễn ra nhanh hơn, mạnh mẽ hơn trong

tiến trình phát triển kinh tế của đất nước.

Tám là, dành một phần đất dự án hoặc gần sát dự án để phát triển dịch

vụ phục vụ cho các KCN, KCX, khu ĐTM, qua đó tạo mở việc làm cho lao

động lớn tuổi, khó có khả năng học nghề ở các vùng chuyển đổi mục đích sử

dụng đất nơng nghiệp, đã chuyển dịch được một bộ phận lao động nông



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

* Kinh nghiệm của Thành phố Đà Nẵng

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×