Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bên cạnh những nguyên nhân khách quan dẫn đến tình trạnh thất nghiệp hiện nay của người dân mất đất cũng cần phải nhắc đến một vấn đề cũng rất đáng lưu ý là nhận thức của người lao động còn thụ động, ỷ lại vào chính sách hỗ trợ của nhà nước, vào tiền...

Bên cạnh những nguyên nhân khách quan dẫn đến tình trạnh thất nghiệp hiện nay của người dân mất đất cũng cần phải nhắc đến một vấn đề cũng rất đáng lưu ý là nhận thức của người lao động còn thụ động, ỷ lại vào chính sách hỗ trợ của nhà nước, vào tiền...

Tải bản đầy đủ - 0trang

20



chính sách hỗ trợ của nhà nước, vào tiền đền bù mà khơng tự tìm cho mình cố

gắng vượt qua khó khăn tìm kiếm việc làm. Tâm lý chờ nhận sự ưu đãi từ Nhà

nước và các doanh nghiệp mà khơng có sự chuẩn bị nghề nghiệp mới đang

tồn tại một cách khá phổ biến ở người lao động. Hơn nữa các doanh nghiệp

khi thu hồi đất xây dựng các khu công nghiệp đều cam kết sẽ giải quyết việc

làm cho lao động địa phương nhưng thực tế số người tìm được việc làm chỉ

đếm trên đầu ngón tay.

* Phục hồi thu nhập cho những ngƣời bị ảnh hƣởng của thu hồi đất

Theo Ngân hàng thế giới (WorkBank, 2004) thì phục hồi thu nhập là một

phàn quan trọng của chính sách thu hồi đất khi những người bị ảnh hưởng mất

đi cơ sở sản xuất, kinh doanh, việc làm hoặc các nguồn thu nhập khác. Tuy

nhiên, những người bị ảnh hưởng bị mất nhà cửa cũng như các nguồn thu nhập

là những người rủi ro nhất.

Khi những người bị ảnh hưởng bị nghèo đi, họ có nguy cơ khánh kiệt và

tách khỏi cộng đồng. Điều này có thể dẫn đến mất đất, mất việc làm, mất nhà

cửa, bị tách ra bên lề xã hội, bị bệnh tật, thiếu thực phẩm, từ đó có thể dẫn đến

sự mất trật tự xã hội, kể cả phạm tội và trộm cắp.

Đối với khu vực nông thôn Việt Nam, các dự án phục vụ cho q trình

cơng nghiệp hóa, đơ thị hóa đa số đều có chính sách đền bù, hỗ trợ người dân

sau khi bị thu hồi đất và di chuyển chỗ ở. Tuy nhiên, việc triển khai trên thực tế

vẫn còn nhiều bất cập, cuộc sống và thu nhập của người dân sau thu hồi đất vẫn

còn nhiều khó khăn. Do vậy, phục hồi thu nhập là cốt lõi của việc thực hiện

chính sách thu hồi đất và tái định cư, vấn đề này cần được chú ý tối đa khi

chuẩn bị triển khai bất cứ dự án nào có liên quan đến thu hồi đất. Phục hồi thu

nhập nên được thiết kế với sự tham vấn của những người bị ảnh hưởng ở mức

trước khi có dự án hoặc cao hơn, và phải đảm bảo rằng những người bị ảnh

hưởng sớm thích nghi với điều kiện mới trong thời gian ngắn nhất.

Theo nghiên cứu của Julie Holt, Mads Jense (Julie Holị Mads Jense,

2006) về những vấn đề xã hội và môi trường của Dự án thủy điện Nam Theoum



21



2 (Cộng hỏa dân chủ nhân dân Lào) thì nguồn thu nhập chính của những hộ dân

tái định cư là từ sản phẩm nông nghiệp, tuy nhiên thu nhập của họ bị suy giảm

đáng kể và người dân vẫn thiếu lương thực trong năm đầu sau tái định cư.

Theo nghiên cứu của Ngân hàng phát triển Châu Á (ADB, 2006) thì thu

nhập của hộ nông dân sau thu hồi đất bị giảm, nhưng giá cho các loại hàng hóa

tiêu dùng hàng ngày thì tăng cao do diện tích đất nơng nghiệp trong vùng bị

giảm, tất cả phải mua từ những vùng lân cận nên giá cả của chúng bị tăng cao.

Việc thiếu các chính sách đào tạo và sự đền bù chưa thỏa đáng đối với các hộ

dân bị di dời đã làm cho các hộ dân rơi vào tình cảnh khó khăn sau khi đất nông

nghiệp bị thu hồi. Một số hộ đã di chuyển chỗ ở đến những địa phương lân cận

để tiếp tục sinh sống dựa vào nông nghiệp.

Các nguyên tắc khi thu hồi đất: Bằng hoặc cao hơn mức sống trước

khi có dự án (ADB, 1995) là nguyên tắc chính của chương trình phục hồi thu

nhập. Các nhà lập kế hoạch cần tính đến những mối liên hệ giữa hoạt động

thu hồi đất, di chuyển chỗ ở và tạo thu nhập. Ví dụ, mức sống và chất lượng

cuộc sống của những người bị ảnh hưởng ở các địa phương thực hiện dự án,

các địa điểm mới sẽ gắn liền với việc tiếp cận và kiểm soát tốt các nguồn lực

(ví dụ đất đai) hoặc các nguồn tạo thu nhập (ví dụ việc làm, kinh doanh). Một

đánh giá tổng quan gần đây về quản lý danh mục đối với việc thu hồi đất và

tái định cư của Ngân hàng thế giới phát hiện rằng những gia đình bị ảnh

hưởng với sự tiếp cận dễ dàng những nguồn lực sản xuất đầy đủ đã có khả

năng tái tạo lại và đơi lúc cải thiện các hệ thống sản xuất hoặc sinh kế bị tổn thất.

1.2. Cơ sở thực tiễn của vấn đề nghiên cứu

1.2.1. Kinh nghiệm về vấn đề nâng cao thu nhập cho người dân trong phát

triển các khu công nghiệp ở Trung Quốc

Trung Quốc đã có nhiều mơ hình về xây dựng đô thị nhỏ. Nhiều đô thị

nhỏ đã trở thành trung tâm cơng nghiệp, dịch vụ, giải trí cũng như giáo dục và



22



thơng tin. Ví dụ, Sinh Ký, một đô thị mới ở tỉnh Giang Tô, đã thu hút và phát

triển 118 doanh nghiệp vừa và nhỏ, năm 1991 giá trị sản lượng của đô thị này

đạt 2,8 tỷ nhân dân tệ, nếu tính bình qn đầu người thi đạt mức 6.000 USD,

cao hơn giá trị sản lượng bình quân đầu người của Hàn Quốc trong cùng thời

kỳ. Một ví dụ khác là đơ thị Long Cương ở tỉnh Chiết Giang, được thành lập ở

vùng nông thôn vào năm 1984. Chỉ sau 2 năm, nông dân địa phương đã xây

dựng nó trở thành một đơ thị với 27 tuyến phố, diện tích xây dựng xấp xỉ 1

triệu m2 và dân số 30.000 người với tổng chi phí 160 triệu nhân dân tệ, trong

đó chỉ có 9 triệu nhân dân tệ do Nhà nước hỗ trợ. Năm 1993, thành phố này đã

thu hút được số dân 130.000 người và giá trị sản lượng hàng năm khoảng 800

triệu nhân dân tệ. Ngồi ra, Trung Quốc còn chủ trương phát triển các đô thị

mới nằm giữa các thành phố lớn và vừa với khu vực nông thôn như các thành

phố Hạ Môn, Quảng Châu, Thượng Hải, Bắc Kinh, Thiên Tân, Vũ Hán và

Thẩm Quyến.

Nhờ những giải pháp này, Trung Quốc đã giải quyết được việc làm cho

vài trăm triệu người. Nó không chỉ tạo ra sự “cất cánh” của công nghiệp hố

nơng thơn Trung Quốc mà còn tạo ra cơ hội việc làm cho lao động dư thừa

trong q trình cơng nghiệp hố và đơ thị hóa.

1.2.2. Kinh nghiệm về vấn đề nâng cao thu nhập cho nông hộ khi thu hồi

đất ở Việt Nam.

1.2.2.1. Chủ trương, biện pháp của Đảng và Nhà nước ta trong vấn đề giải

quyết việc làm cho người dân sau khi bị thu hồi đất nông nghiệp phục vụ quá

trình CNH - HĐH ở Việt Nam

Ở nước ta, các quy định của pháp luật về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ,

tái định cư ngày càng phù hợp hơn với yêu cầu của thực tế và chú ý tới lợi ích

của những người bị thu hồi đất.

a) Trước năm 1993



23



Người dân chưa quen thuộc lắm với khái niệm thu hồi đất và tái định cư.

Nhiều người nghĩ quá trình thu hồi đất, tái định cư đơn giản chỉ là việc đền bù

cho những người bị ảnh hưởng và di chuyển họ tới nơi ở mới. Vào thời điểm đó,

thay vì gán cho thuật ngữ “tái định cư” thì người ta phổ biến sử dụng cụm từ

“sắp xếp các địa điểm dự án” để đưa ra giải pháp xây dựng dự án.

Thời gian này, vẫn chưa có chính sách tái định cư của Chính phủ. Luật

pháp vào thời điểm này mới chỉ quy định đền bù cho những người bị ảnh

hưởng, nhưng chỉ là mức độ thiệt hại. Do vậy, không thành công trong việc khôi

phục tài sản của những người bị ảnh hưởng, có nhiều lý do cho vấn đề này:

+ Nhiều loại mất mát không được thể hiện trong chính sách;

+ Mức độ đền bù không đủ cao;

+ Việc đền bù không trả đúng thời điểm;

+ Chính sách đền bù khơng bao gồm việc phục hồi và cải thiện chất

lượng cuộc sống và thu nhập của người bị ảnh hưởng;

+ Khơng có những thủ tục pháp lý cho việc lập kế hoạch, chấp thuận,

thực thi và giám sát quá trình thu hồi đất và tái định cư.

b) Từ năm 1993 - 2012

Tăng trưởng kinh tế nhanh, số dự án đầu tư, đặc biệt là những dự án cần

nhiều đất đai đã tăng và cũng từ năm 1993, nhiều chính sách liên quan đến

người bị thu hồi đất, tái định cư như đền bù đất sản xuất, nhà cửa, tài sản, cơ sở

hạ tầng, đào tạo việc làm, và các vấn đề xã hội khác được ban hành như Luật đất

đai năm 2003, Nghị định 197/2004/NĐ-CP (CP 2004), Nghị định 69/2009/NĐCP (CP, 2009),... về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.

c) Từ năm 2013 đến nay

Các chính sách liên quan đến thu hồi đất, tái định cư được sửa đổi, thay

thế ban hành như: Luật đất đai năm 2013, Nghị định số 47/2014/NĐ-CP về việc

quy định bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất,…

Luật đất đai năm 2013: Luật đất đai (sửa đổi) mới nhất (ngày 02-10-



24



2013), Ban soạn thảo đã tiếp thu, chỉnh lý và đã đưa ra những quy định để cố

gắng giải quyết những vướng mắc, bất cập, đáp ứng được các mục tiêu đề ra.

Theo đó, Luật đã dành 13 Điều (từ Điều 74 đến Điều 87) để quy định về nhiều

vấn đề, như: quy định nguyên tắc bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất;

điều kiện được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng vào mục

đích quốc phòng, an ninh, phục vụ lợi ích quốc gia, công cộng, phát triển kinh tế

- xã hội; bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại khi Nhà nước thu hồi đất để

sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, phục vụ lợi ích quốc gia, công

cộng, phát triển kinh tế - xã hội; bồi thường về đất, chi phí đầu tư vào đất còn lại

khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân, tổ chức kinh tế,

cộng đồng dân cư, cơ sở tôn giáo… Đặc biệt, dự thảo Luật đã dành một Điều

quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đối với các trường hợp đặc biệt: Đối

với dự án đầu tư do Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ quyết định mà phải di

chuyển cả một cộng đồng dân cư, làm ảnh hưởng đến toàn bộ đời sống, kinh tế xã hội, truyền thống văn hóa của cộng đồng; các dự án thu hồi đất liên quan đến

nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thì Thủ tướng Chính phủ quyết định

khung chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư. Đối với các dự án sử dụng vốn

vay của các tổ chức quốc tế, nước ngoài mà Chính phủ có cam kết về khung

chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư thì thực hiện theo khung chính sách

đó… Cụ thể:

* Quy định ngun tắc bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất

Điều 74 Luật Đất đai 2013, quy định các nguyên tắc bồi thường về đất

khi Nhà nước thu hồi đất: Người sử dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất nếu có

đủ điều kiện được bồi thường (theo quy định tại Điều 75) thì được bồi

thường; việc bồi thường được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích

sử dụng với loại đất thu hồi, nếu khơng có đất để bồi thường thì được bồi

thường bằng tiền theo giá đất cụ thế của loại đất thu hồi do UBND cấp tỉnh

quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất; việc bồi thường khi Nhà nước

thu hồi đất phải đảm bảo dân chủ, khách quan, công bằng, công khai, kip thời



25



và đúng quy định của pháp luật. Và Điều 88 quy định nguyên tắc bồi thường

thiệt hại về tài sản, ngừng sản xuất, kinh doanh khi Nhà nước thu hồi đất: Khi

Nhà nước thu hồi đất mà chủ sở hữu tài sản hợp pháp gắn liền với đất bị thiệt

hại về tài sản thì được bồi thường; khi Nhà nước thu hồi đất mà tổ chức, hộ

gia đình, cá nhân, người Việt Nam định cư ở nước ngồi, doanh nghiệp có

vốn đầu tư nước ngoài phải ngừng sản xuất, kinh doanh mà có thiệt hại thì

được bồi thường thiệt hại.

* Quy định cụ thể và làm rõ các điều kiện để được bồi thường về đất

khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế xã hội vì lợi ích quốc gia, cơng cộng đối với từng loại đối tượng mà Nhà nước

thu hồi đất. Luật Đất đai 2013 bổ sung thêm 02 trường hợp được bồi thường

về đất khi Nhà nước thu hồi đất (Điều 75), cụ thể:

Bổ sung bồi thường đối với các trường hợp sử dụng đất thuê trả tiền thuê

đất một lần cho cả thời gian thuê nhằm đảm bảo sự bình đẳng giữa người sử

dụng đất theo hình thức thuê đất trả tiền một lần cho cả thời gian thuê với người

được giao đất có thu tiền sử dụng đất (có cùng nghĩa vụ tài chính như nhau).

Bổ sung bồi thường đối với trường hợp cơ sở tôn giáo, cộng đồng dân

cư đang sử dụng đất mà không phải là đất do nhà nước giao, cho thuê và có

giấy chứng nhận hoặc có đủ điều kiện để được cấp giấy chứng nhận quyền sử

dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất theo quy định

của Luật Đất đai 2013 này mà chưa được cấp (Luật Đất đai 2003 chưa quy

định việc bồi thường, hỗ trợ đất đối với đất do cơ sở tôn giáo đang sử dụng

vào mục đích xản xuất nơng nghiệp, sản xuất lâm nghiệp, sản xuất kinh doanh

phi công nghiệp, làm cơ sở hoạt động từ thiện, không phải đất do được nhà

nước giao mà có nguồn gốc do nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho hợp pháp

hoặc khai hoang trước ngày 01/7/2004 nên gây vướng mắc trong thực hiện tại

nhiều địa phương).

* Thể chế hóa cơ chế, chính sách bồi thường về đất, chi phí đầu tư vào



26



đất còn lại thơng qua các quy định chi tiết đối với từng loại đất, gồm: đất nông

nghiệp, đất ở, đất phi công nghiệp không phải đất ở và theo từng loại đối tượng

sử dụng đất (từ Điều 77 đến Điều 81). Theo quy định của Luật Đất đai năm

2013, việc xác định mức bồi thường cho người có đất bị thu hồi đối với đất sử

dụng có thời hạn khơng chỉ căn cứ loại đất, đối tượng sử dụng đất mà còn phải

căn cứ thời hạn sử dụng đất còn lại của người sử dụng đất đối với đất đó.

* Quy định cụ thể về bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại , cho

một số trường hợp khơng được bồi thường đất (Điều 76).

Theo Khoản 13, Điều 3 Luật Đất đai 2013, Chi phí đầu tư vào đất còn

lại bao gồm chi phí san lấp mặt bằng và chi phí khác liên quan trực tiếp có

căn cứ chứng minh đã đầu tư vào đất mà đến thời điểm Nhà nước thu hồi đất

còn chưa thu hồi được.

Những trường hợp được bồi thường chi phí đầu tư vào đất còn lại khi

Nhà nước thu hồi, bao gồm: Đất được Nhà nước giao không thu tiền sử dụng

đất, trừ trường hợp đất nơng nghiệp được Nhà nước giao cho hộ gia đình, cá

nhân quy định tại khoản 1 Điều 54; đất được Nhà nước giao cho tổ chức

thuộc trường hợp có thu tiền sử dụng đất nhưng được được miễn tiền sử dụng

đất; đất được Nhà nước cho thuê đất hàng năm, đất thuê trả tiền thuê đất một

lần cho cả thời gian thuê nhưng được miễn tiền thuê đất, trừ trường hợp hộ

gia đình, cá nhân sử dụng đất thuê do thực hiện chính sách đối với người có

cơng với cách mạng; đất nơng nghiệp thuộc quỹ đất cơng ích của xã, phường,

thị trấn; đất nhận khốn để sản xuất nơng nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy

sản, làm muối.

* Bổ sung quy định về việc bồi thường, hỗ trợ và tái định cư đối với

các dự án đặc biệt. Điều 87, Luật Đất đai 2013 quy định theo hướng:

Bổ sung trường hợp thu hồi đất ở trong khu vực bị ô nhiễm mơi trường

có nguy cơ đe dọa tính mạng con người, đất ở có nguy cơ sạt lở, sụt lún, bị



27



ảnh hưởng bởi hiện tượng thiên tai khác đe dọa tính mạng con người thì

người có đất thu hồi được bồi thường, hỗ trợ, tái định cư để ổn định đời sống,

sản xuất theo quy định của Chính phủ.

Đối với dự án đầu tư do Quốc hội quyết định chủ trương đầu tư, Thủ

tướng Chính phủ chấp thuận chủ trương đầu tư mà phải di chuyển cả cộng

đồng dân cư, làm ảnh hưởng đến toàn bộ đời sống, kinh tế - xã hội, truyền

thống văn hóa của cộng đồng, các dự án thu hồi liên quan đến nhiều tỉnh,

thành phố trực thuộc trung ương thì Thủ tướng Chính phủ quyết định khung

chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư

Đối với dự án sử dụng vốn vay của các tổ chức quốc tế, nước ngồi mà

Nhà nước Việt Nam có cam kết về khung chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái

định cư thì thực hiện theo khung chính sách sách đó.

* Về chính sách hỗ trợ, Luật Đất đai năm 2013 bổ sung một số quy

định so với Luật Đất đai năm 2003:

- Quy định các nguyên tắc hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất: Người sử

dụng đất khi Nhà nước thu hồi đất ngoài việc được bồi thường theo quy định

của Luật này còn được Nhà nước xem xét hỗ trợ; việc hỗ trợ phải bảo đảm

khách quan, công bằng, kịp thời, công khai và đúng quy định của pháp luật.

(Khoản 1, Điều 83)

- Quy định về hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm

cho hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp khi Nhà nước thu hồi

đất nông nghiệp mà khơng có đất nơng nghiệp để bồi thường. Cụ thể: Hộ gia

đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nơng nghiệp, khi nhà nước thu hồi đất nông

nghiệp để bồi thường thì ngồi việc được bồi thường thường bằng tiền còn

được hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề tìm kiếm việc làm; trường hợp người

được hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề tìm kiếm việc làm trong độ tuổi lao

động có nhu cầu đào tạo nghề thì được nhận vào các cơ sở đào tạo nghề; được



28



tư vấn hỗ trợ tìm kiếm việc làm, vay vốn tín dụng ưu đãi để phát triển sản

xuất kinh doanh” (Khoản 1, Điều 84)

- Quy định về hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm

cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất ở kết hợp kinh doanh dịch vụ, khi Nhà

nước thu hồi đất ở mà phải di chuyển chổ ở. Cụ thể: Đối với hộ gia đình, các

nhân sử dụng đất ở kết hợp kinh doanh dịch vụ mà nguồn thu nhập chính là từ

nguồn kinh doanh dịch vụ, khi Nhà nước thu hồi mà phải di chuyển chổ ở thì

được vay vốn tín dụng ưu đãi để phát triển sản xuất, kinh doanh; trường hợp

người có đất thu hồi còn trong độ tuổi lao động thì được hỗ trợ đào tạo,

chuyển đổi nghề, tìm kiếm việc làm (Khoản 2, Điều 84)

* Về chính sách tái định cư. Để khắc phục tình trạng nhiều dự án chưa có

khu tái định cư đã thực hiện thu hồi đất ở, thậm chí có những dự án mà người có

đất bị thu hồi phải đi thuê nhà ở nhiều năm mà vẫn chưa được bố trí vào khu tái

định cư, Luật Đất đai năm 2013 đã có những quy định mới, như sau:

- Bổ sung quy định về lập và thực hiện dự án tái định cư (Điều 85) theo

hướng: UBND cấp tỉnh, UBND cấp huyện có trách nhiệm tổ chức và thực

hiện dự án tái định cư trước khi thu hồi đất; quy định khu tái định cư tập trung

phải xây dựng cơ sở hạ tầng đồng bộ, đảm bảo tiêu chuẩn, quy chuẩn xây

dựng, phù hợp với điều kiện, phong tục, tập quán của từng vùng, miền; quy

định việc thu hồi đất ở chỉ được thực hiện sau khi hoàn thành xây dựng nhà ở

hoặc cơ sở hạ tầng khu tái định cư.

- Sửa đổi, bổ sung quy định về bố trí tái định cư cho người bị thu hồi

đất ở mà phải di chuyển chổ ở (Điều 86), cụ thể: Người có đất bị thu hồi được

bố trí tái định cư tại chỗ nếu tại khu vực thu hồi đất có dự án tái định cư hoặc

có điều kiện tái định cư (ưu tiên vị trí thuận lợi cho người sớm bàn giao mặt

bằng, người có cơng với cách mạng); giá đất cụ thể tính thu tiền sử dụng đất

tại nơi tái định cư, giá bán nhà ở tái định cư do UBND cấp tỉnh quyết định;



29



quy định trường hợp người có đất bị thu hồi được bố trí tái định cư mà tiền

bồi thường, hỗ trợ không đủ mua 01 suất tái định cư tối thiểu thì được Nhà

nước hỗ trợ tiền để mua một suất tái định cư tối thiểu

Nghị định số 47/2014/NĐ-CP về bồi thƣờng hỗ trợ tái định cƣ khi

Nhà nƣớc thu hồi đất: Theo hướng dẫn tại Nghị định 47/2014 NĐ – CP thì

ngồi các khoản hỗ trợ về tái định cư, di chuyển chỗ ở mà đã từng được quy

định tại Luật đất đai 2003 trước đây thì hiện nay người sử dụng đất khi bị thu

hồi còn có thể được nhận các khoản hỗ trợ khác.

Theo điều 19 - Chính sách hỗ trợ của Nghị định 47/2014/ NĐ – CP có nội

dung sau:

Điều 19. Hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất khi Nhà nước thu hồi đất

Việc hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất khi Nhà nước thu hồi đất quy

định tại Điểm a Khoản 2 Điều 83 của Luật Đất đai được thực hiện theo quy

định sau đây:

Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất do nhận giao khốn đất sử dụng

vào mục đích nơng nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản (không bao gồm đất

rừng đặc dụng, rừng phòng hộ) của các nơng, lâm trường quốc doanh khi Nhà

nước thu hồi mà thuộc đối tượng là cán bộ, công nhân viên của nông, lâm

trường quốc doanh đang làm việc hoặc đã nghỉ hưu, nghỉ mất sức lao động, thôi

việc được hưởng trợ cấp đang trực tiếp sản xuất nơng, lâm nghiệp; hộ gia đình,

cá nhân nhận khốn đang trực tiếp sản xuất nơng nghiệp và có nguồn thu nhập

ổn định từ sản xuất nơng nghiệp trên đất đó;

Thu hồi từ 30% đến 70% diện tích đất nơng nghiệp đang sử dụng thì

được hỗ trợ trong thời gian 6 tháng nếu không phải di chuyển chỗ ở và trong

thời gian 12 tháng nếu phải di chuyển chỗ ở; trường hợp phải di chuyển đến các

địa bàn có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn hoặc có điều kiện kinh tế - xã hội

đặc biệt khó khăn thì thời gian hỗ trợ tối đa là 24 tháng.



30



Diện tích đất thu hồi quy định tại Điểm a Khoản này được xác định theo

từng quyết định thu hồi đất của Ủy ban nhân dân cấp có thẩm quyền;

Điều 20, điều 21. Hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm

+ Điều 20. Hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm đối với

trường hợp Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp của hộ gia đình, cá nhân trực tiếp

sản xuất nơng nghiệp.

Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nơng nghiệp quy định tại các

Điểm a, b, c và d Khoản 1 Điều 19 của Nghị định này (trừ trường hợp hộ gia

đình, cá nhân là cán bộ, cơng nhân viên của nông trường quốc doanh, lâm

trường quốc doanh đã nghỉ hưu, nghỉ mất sức lao động, thôi việc được hưởng

trợ cấp) khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp mà được bồi thường bằng tiền thì

ngồi việc được bồi thường bằng tiền đối với diện tích đất nơng nghiệp thu hồi

còn được hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm .

+ Điều 21. Hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm đối với

trường hợp Nhà nước thu hồi đất ở kết hợp kinh doanh, dịch vụ của hộ gia đình,

cá nhân mà phải di chuyển chỗ ở

Hộ gia đình, cá nhân khi Nhà nước thu hồi đất ở kết hợp kinh doanh, dịch

vụ mà phải di chuyển chỗ ở thì được hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm

kiếm việc làm theo quy định tại Điểm b Khoản 2 Điều 83 của Luật Đất đai.

Theo đó thì Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có thể quyết định các

biện pháp khác để đảm bảo có chỗ ở, ổn định đời sống, sản xuất và cơng bằng

đối với người có đất bị thu hồi. Quy định mới này có thể tạo điều kiện cho các

tỉnh trong việc hỗ trợ cho những đối tượng thuộc diện bị thu hồi đất ở trong

địa bản tỉnh mà phải di chuyển chỗ ở cho phù hợp với những điều kiện riêng

của tỉnh mình.

1.2.2.2. Kinh nghiệm ở một số địa phương của Việt Nam

* Kinh nghiệm của Hà Nội



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bên cạnh những nguyên nhân khách quan dẫn đến tình trạnh thất nghiệp hiện nay của người dân mất đất cũng cần phải nhắc đến một vấn đề cũng rất đáng lưu ý là nhận thức của người lao động còn thụ động, ỷ lại vào chính sách hỗ trợ của nhà nước, vào tiền...

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×