Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CỦA NÔNG HỘ SAU THU HỒI ĐẤT

CỦA NÔNG HỘ SAU THU HỒI ĐẤT

Tải bản đầy đủ - 0trang

5



Đây mới chủ yếu nêu lên những quan niệm về hộ tiêu biểu nhất, mạnh

khía cạnh này hay khía cạnh khác hoặc tổng hợp hay khái quát chung nhưng vẫn

còn có chỗ chưa đồng nhất. Tuy nhiên từ các quan niệm trên cho thấy hộ được

hiểu như sau:

- Trước hết, hộ là một tập hợp chủ yếu và phổ biến của những thành viên có

chung huyết thống, tuy vậy cũng có cá biệt trường hợp thành viên của hộ khơng

phải cùng chung huyết thống (con ni, người tình nguyện và được sự đồng ý của

các thành viên trong hộ công nhận cùng chung hoạt động kinh tế lâu dài...).

- Hộ nhất thiết là một đơn vị kinh tế (chủ thể kinh tế), có nguồn lao động

và phân cơng lao động chung; có vốn và chương trình, kế hoạch sản xuất kinh

doanh chung, là đơn vị vừa sản xuất vừa tiêu dùng, có ngân quỹ chung và được

phân phối lợi ích theo thoả thuận có tính chất gia đình. Hộ khơng phải là một

thành phần kinh tế đồng nhất, mà hộ có thể thuộc thành phần kinh tế cá thể, tư

nhân, tập thể, Nhà nước,...

- Hộ không đồng nhất với gia đình mặc dầu cùng chung huyết thống bởi

vì hộ là một đơn vị kinh tế riêng, còn gia đình có thể khơng phải là một đơn vị

kinh tế (ví dụ gia đình nhiều thế hệ cùng chung huyết thống, cùng chung một

mái nhà nhưng nguồn sinh sống và ngân quỹ lại độc lập với nhau).

* Khái niệm hộ nông dân

Về hộ nông dân, tác giả Frank Ellis định nghĩa "Hộ nơng dân là các hộ gia

đình làm nơng nghiệp, tự kiếm kế sinh nhai trên những mảnh đất của mình, sử

dụng chủ yếu sức lao động của gia đình để sản xuất, thường nằm trong hệ thống

kinh tế lớn hơn, nhưng chủ yếu đặc trưng bởi sự tham gia cục bộ vào các thị

trường và có xu hướng hoạt động với mức độ khơng hồn hảo cao" [14].

Nhà khoa học Traianốp cho rằng: "Hộ nông dân là đơn vị sản xuất rất ổn

định" và ông coi "hộ nông dân là đơn vị tuyệt vời để tăng trưởng và phát triển

nông nghiệp" [16].



6



Luận điểm trên của ông đã được áp dụng rộng rãi trong chính sách nơng

nghiệp tại nhiều nước trên thế giới, kể cả các nước phát triển.

Đồng tình với quan điểm trên của Traianốp, hai tác giả Mats Lundahl và

Tommy Bengtsson bổ sung và nhấn mạnh thêm: "Hộ nông dân là đơn vị sản xuất

cơ bản" [16]. Chính vì vậy, cải cách kinh tế ở một số nước những thập kỷ gần đây

đã thực sự coi hộ nông dân là đơn vị sản xuất tự chủ và cơ bản, từ đó đã đạt được

tốc độ tăng trưởng nhanh trong sản xuất nông nghiệp và phát triển nông thôn.

Ở nước ta, có nhiều tác giả đề cập đến khái niệm hộ nơng dân. Theo

nhà khoa học Lê Đình Thắng (năm 1993) cho rằng: "Nông hộ là tế bào kinh

tế xã hội, là hình thức kinh tế cơ sở trong nơng nghiệp và nông thôn" [14].

Đào Thế Tuấn (1997) cho rằng: “Hộ nông dân là những hộ chủ yếu hoạt

động nông nghiệp theo nghĩa rộng, bao gồm cả nghề rừng, nghề cá và hoạt

động phi nơng nghiệp ở nơng thơn”. Còn theo nhà khoa học Nguyễn Sinh

Cúc, trong phân tích điều tra nông thôn năm 2001 cho rằng: "Hộ nông

nghiệp là những hộ có tồn bộ hoặc 50% số lao động thường xuyên tham gia

trực tiếp hoặc gián tiếp các hoạt động trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ nông

nghiệp (làm đất, thuỷ nông, giống cây trồng, bảo vệ thực vật,...) và thơng

thường nguồn sống chính của hộ dựa vào nơng nghiệp" [2].

Nghiên cứu những khái niệm trên đây về hộ nông dân của các tác giả

có theẻ rút ra những vấn đề sau:

- Hộ nông dân là những hộ sống ở nơng thơn, có ngành nghề sản

xuất chính là nơng nghiệp, nguồn thu nhập và sinh sống chủ yếu bằng

nghề nông. Ngồi hoạt động nơng nghiệp, hộ nơng dân còn tham gia các hoạt

động phi nông nghiệp (như tiểu thủ công nghiệp, thương mại, dịch vụ...) ở các

mức độ khác nhau.

- Hộ nông dân là một đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là một đơn vị sản xuất vừa

là một đơn vị tiêu dùng. Như vậy, hộ nông dân không thể là một đơn vị kinh tế

độc lập tuyệt đối và tồn năng, mà còn phải phụ thuộc vào các hệ thống kinh tế



7



lớn hơn của nền kinh tế quốc dân. Khi trình độ phát triển lên mức cao của cơng

nghiệp hố, hiện đại hố, thị trường, xã hội càng mở rộng và đi vào chiều sâu, thì

các hộ nơng dân càng phụ thuộc nhiều hơn vào các hệ thống kinh tế rộng lớn

không chỉ trong phạm vi một vùng, một nước. Điều này càng có ý nghĩa đối với

các hộ nơng dân nước ta trong tình hình hiện nay.

1.1.1.2. Đặc điểm của kinh tế nông hộ

Kinh tế nông hộ có một số đặc trưng chủ yếu sau[18]:

+ Nơng hộ là đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là đơn vị sản xuất, vừa là đơn vị

tiêu dùng.

+ Quan hệ giữa sản xuất và tiêu dùng được biểu hiện ở trình độ phát

triển của hộ từ tự cấp hồn tồn đến sản xuất hàng hóa hồn tồn. Trình độ

này quyết định quan hệ giữa hộ nông dân với thị trường.

+ Ngồi hoạt động nơng nghiệp các nơng hộ còn tham gia vào hoạt

động phi nông nghiệp với mức độ khác nhau.

+ Phương thức tổ chức sản xuất của nông hộ mang tính kế thừa truyền

thống gia đình và khơng đồng đều giữa các hộ với nhau.

+ Nơng hộ ngồi việc tham gia vào quá trình tái sản xuất vật chất còn tham

gia vào q trình tái sản xuất nguồn nhân lực phục vụ cho các ngành sản xuất.

+ Sự thống nhất chặt chẽ giữa việc sở hữu, quản lý và sử dụng các yếu

tố sản xuất. Sở hữu trong kinh tế hộ là sở hữu chung, tất cả mọi thành viên

trong hộ đều có quyền sở hữu tư liệu sản xuất vốn có cũng như những tài sản

khác của hộ. Mặt khác do dựa trên cơ sở kinh tế chung và có ngân quỹ nên

các thành viên trong hộ đều ý thức trách nhiệm rất cao và việc bố trí sắp xếp

công việc trong hộ cũng rất linh hoạt và hợp lý cho từng người, từng việc tạo

nên việc thống nhất cao trong tổ chức sản xuất của hộ.

+ Sự gắn bó giữa lao động quản lý và lao động sản xuất. Trong nơng

hộ, mọi thành viên thường gắn bó chặt chẽ với nhau theo quan hệ huyết

thống. Hơn nữa kinh tế hộ lại tổ chức ở quy mô nhỏ, người quản lý điều hành

sản xuất đồng thời cũng là người tham gia lao động sản xuất. Cho nên tính

thống nhất giữa lao động quản lý và lao động sản xuất rất cao.



8



+ Kinh tế nơng hộ có khả năng thích nghi và tự điều chỉnh cao. Do kinh

tế hộ có quy mơ nhỏ nên bao giờ cũng thích nghi nhanh hơn so với các hình

thức sản xuất khác có quy mơ lớn hơn, thí dụ như các xí nghiệp sản xuất …

do vậy mà có thể mở rộng sản xuất khi có điều kiện thuận lợi và thu hẹp sản

xuất khi gặp các điều kiện bất lợi.

+ Có sự gắn bó chặt chẽ giữa q trình sản xuất với lợi ích của người

lao động. Trong quan hệ kinh tế hộ mọi người gắn bó với nhau khơng chỉ trên

cơ sở cùng huyết thống mà còn trên cơ sở kinh tế nên dễ dàng đồng tâm hiệp

lực xây dựng và phát triển kinh tế hộ, tạo sự liên kết chặt chẽ hơn giữa kết

quả sản xuất và lợi ích của người lao động. Lợi ích kinh tế là động lực thúc

đẩy hoạt động của mỗi cá nhân, là nhân tố nâng cao hiệu quả sản xuất kinh tế

của hộ.

Kinh tế nơng hộ là đơn vị sản xuất có quy mơ nhỏ nhưng hiệu quả. Sản

xuất với quy mô nhỏ không đồng nghĩa với lạc hậu và năng suất thấp. Kinh tế

nơng hộ vẫn có khả năng cho năng suất lao động cao hơn các xí nghiệp nơng

nghiệp có quy mơ lớn. Đặc biệt, kinh tế nơng hộ là hình thức kinh tế hợp nhất

với đặc điểm sản xuất nông nghiệp mà đối tượng sản xuất chủ yếu là cây trồng

và vật nuôi. Thực tế phát triển sản xuất nông nghiệp trên thế giới đã chứng minh

cho chúng ta thấy rõ: Kinh tế nơng hộ có quy mơ nhỏ chủ yếu sử dụng lao động

gia đình gắn bó với vật ni và cây trồng là đơn vị sản xuất có hiệu quả.

“Trong lịch sử phát triển kinh tế quốc dân, thời kỳ nào vai trò của hộ

gia đình cũng rất quan trọng, vì nó khơng những là “tế bào” của xã hội, là đơn

vị sản xuất và đảm bảo cuộc sống cho tất cả các thành viên trong gia đình, mà

còn là chủ thể tiêu dùng rất đa dạng của nền kinh tế. Nhưng trước xu thế quốc

tế hóa nền kinh tế đang diễn ra nhanh chóng hiện nay, phải nhận rõ những

khó khăn để có thêm những chính sách có tính chất đột phá nhằm tạo động

lực mới, thật sự mạnh mẽ cho kinh tế hộ phát triển”. [3]



9



1.1.1.3. Lý luận về phát triển kinh tế hộ nông dân

* Khái niệm về phát triển kinh tế hộ nông dân

Phát triển kinh tế là quá trình tăng tiến về mọi mặt của nền kinh tế trong

một thời kỳ nhất định. Trong đó bao gồm cả sự tăng lên về quy mơ sản lượng và

tiến bộ mọi mặt của xã hội hình thành cơ cấu kinh tế hợp lý.[5]

Kinh tế hộ nông dân là một thành phần của kinh tế nông nghiệp, do đó có

thể hiểu rằng phát triển kinh tế hộ nơng dân chính là q trình tăng trưởng về

sản xuất, gia tăng về thu nhập, tích lũy của kinh tế hộ nơng dân, làm cho kinh tế

nơng nghiệp nói riêng và nền kinh tế quốc dân nói chung đi lên.

* Nội dung phát triển kinh tế hộ nông dân

- Phát triển qui mô các yếu tố sản xuất của kinh tế hộ nông dân: Các yếu

tố sản xuất chủ yếu của kinh tế hộ nông dân bao gồm: đất đai, vốn, lao động.

Phát triển các yếu tố sản xuất là nhằm gia tăng qui mơ đất đai tính trên hộ nơng

dân (hoặc tính trên 1 lao động); gia tăng vốn đầu tư cho sản xuất của hộ, gia

tăng số lượng lao động.

- Nâng cao trình độ sản xuất của chủ hộ: Trình độ của chủ hộ bao gồm

trình độ học vấn và kỹ năng lao động. Người lao động phải có trình độ học vấn

và kỹ năng lao động để tiếp thu những tiến hộ khoa học kỹ thuật và kinh

nghiệm sản xuất tiên tiến. Trong sản xuất, phải giỏi chun mơn, kỹ thuật, trình

độ quản lý mới mạnh dạn áp dụng thành tựu khoa học kỹ thuật vào sản xuất

nhằm mang lại lợi nhuận cao. Điều này là rất quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp

đến kết quả trong sản xuất kinh doanh của hộ, ngồi ra còn phải có những tố

chất của một người dám làm kinh doanh.

- Gia tăng kết quả sản xuất của kinh tế hộ: Kết quả sản xuất của kinh tế

hộ biểu hiện ở đầu ra của kinh tế hộ như: Sản lượng hàng hóa nông sản, giá trị

tổng sản lượng, giá trị sản lượng hàng hóa, doanh thu... Kết quả này có được

nhờ sự kết hợp các yếu tố nguồn lực lao động, vốn, đất đai, trình độ sản xuất



10



của chủ hộ và sự lựa chọn phương án sản xuất kinh doanh như chọn cơ cấu cây

trồng, vật nuôi phù hợp, mở rộng thị trường tiêu thụ nông sản cho hộ nông dân

- Nâng cao thu nhập, đời sống và tích lũy của kinh tế hộ: Phát triển kinh

tế hộ cuối cùng phải có tác động tích cực đến thu nhập các hộ nơng dân, phải

làm gia tăng thu nhập bình quân của hộ nông dân, gia tăng mức sống, thỏa mãn

các điều kiện sống cơ bản như nhà ở, điện, nước sạch, nhà vệ sinh… và ngày

càng gia tăng mức tích lũy của hộ.

* Các chỉ tiêu phản ánh tình hình phát triển kinh tế hộ nông dân

- Chỉ tiêu phản ánh các yếu tố sản xuất chủ yếu của hộ nông dân bao

gồm: Đất đai bình quân l hộ, l lao động, 1 nhân khẩu; vốn sản xuất bình quân 1

hộ và cơ cấu vốn theo tính chất vốn; lao động bình quân 1 hộ, lao động bình

quân/người tiêu dùng bình quân.

- Chỉ tiêu đánh giá trình độ sản xuất của hộ nông dân bao gồm các chỉ

tiêu phản ánh về chủ hộ, về điều kiện sản xuất, phương hướng sản xuất. Chỉ tiêu

phản ánh về chủ hộ nơng dân: Trình độ học vấn, trình độ chun mơn nghiệp

vụ, kinh nghiệm sản xuất, khả năng tiếp thu khoa học kỳ thuật, khả năng tiếp

cận thị trường, độ tuổi bình qn, giới tính.

- Chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất của hộ nơng dân: Sản lượng hàng

hóa; gía trị sản xuất; giá trị sản lượng hàng hóa; doanh thu…

- Chỉ tiêu phản ánh thu nhập, đời sống và tích lũy của hộ nông dân bao

gồm: tổng thu nhập của hộ, thu nhập bình quân người/tháng; tổng chi tiêu trong

năm; cơ cấu chi tiêu trong năm; chi đời sống; chi tiêu bình quân người / tháng;

chi đời sống bình quân người/tháng. tỷ lệ thặng dư và tích luỹ của hộ.[19]

1.1.2. Khái niệm và vai trò của xây dựng khu cơng nghiệp

1.1.2.1. Khái niệm

Theo Nghị định của Chính phủ số 36-CP ngày 24/4/1997 về ban hành

quy chế Khu công nghiệp, Khu chế xuất, Khu công nghệ cao định nghĩa: “"Khu



11



công nghiệp" là khu tập trung các doanh nghiệp KCN chuyên sản xuất hàng

công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa

lý xác định, khơng có dân cư sinh sống; do Chính phủ hoặc Thủ tướng Chính

phủ quyết định thành lập, trong khu cơng nghiệp có thể có doanh nghiệp chế

xuất.”.

Theo Bách khoa tồn thư mở Wikipedie (Wikipedie, 2014): KCN là khu

yực dành cho phát triển công nghiệp theo một quy hoạch cụ thể nào đó nhằm

đảm bảo được sự hài hòa và cân bằng tương đối giữa các mực tiêu kinh tế - xã

hội - môi trường. KCN thường được Chính phủ cấp phép đầu tư với hệ thống hạ

tàng kỹ thuật và pháp lý riêng. Những KCN có quy mơ nhỏ thường được gọi là

cụm cơng nghiệp.

1.1.2.2. Vai trò của khu cơng nghiệp trong phát triển kinh tế

- Tăng cường khả năng thu hút đầu tư, góp phần thực hiện mục tiêu

tăng trưởng kinh tế: Đặc điểm của mơ hình phát triển KCN là các nhà đầu tư

trong và ngoài nước cùng đầu tư trên vùng không gian lãnh thổ, là nơi kết hợp

sức mạnh của nguồn vốn trong và ngoài nước. Việc xây dựng và phát triển các

KCN sẽ giúp cho đất nước thu hút được một nguồn vốn khá quan trọng để phát

triển kinh tế quốc gia. Trong việc quy hoạch lại các mạng lưới doanh nghiệp,

Chính phủ rất khuyến khích các doanh nghiệp trong nước đầu tư vào các KCN.

Trong những năm qua, phát triển KCN đã huy động được nguồn vốn khá

lớn cho nền kinh tế, đi liền với nó là hệ thống các chính sách đầu tư. Tác dụng

huy động vốn cùa KCN được thể hiện ở 02 mặt: Thứ nhất, KCN huy động vốn

từ nội bộ nền kinh tế đất nước, đây là nguồn vốn có tính chất quyết định, là

nhân tố nội lực. Trong những năm gần đây nguồn vốn này phát triển nhanh

chóng, tính đến 7/2017 thu hút đầu tư trong nước, các KCN, KKT thu hút được

450 dự án đầu tư và điều chỉnh tăng vốn cho hơn 162 dự án với tổng vốn đầu tư

cấp mới và tăng thêm là 123.000 tỷ đồng. Lũy kế đến hết tháng 7/2017, các

KCN, KKT thu hút được 8.052 dự án với tổng mức đầu tư đạt 1.830,7 tỷ đồng.



12



Vốn thực hiện đạt khoảng 42%. Thứ hai, KCN huy động vốn từ các nhà đầu tư

nước ngoài: Trong điều kiện nền kinh tế tích lũy nội bộ còn thấp thì việc thu hút

nhiều vốn đầu tư nước ngồi là rất quan trọng. KCN là biện pháp hữu hiệu

nhằm huy động các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngồi. Tính đến tháng

7/2017, các KCN, KKT thu hút được 553 dự án đầu tư nước ngoài đăng ký mới

và điều chỉnh tăng vốn với tổng vốn đầu tư đăng ký đạt gần 8,6 tỷ USD. Lũy kế

đến hết tháng 7/2017, các KCN, KKT đã thu hút được 7.757 dự án với tổng vốn

đầu tư đạt 163,9 tỷ USD; vốn đầu tư thực hiện đạt khoảng 58%.

- Góp phần đáng kể vào giá trị sản xuất công nghiệp vào kim ngạch

xuất khấu và ngân sách cả nước. Hiện nay, các KCN, KKT đã thu hút được

15.809 dự án đầu tư trong và ngồi nước, trong đó vốn đầu tư nước ngồi hơn

163,9 tỷ USD, vốn đầu tư của các doanh nghiệp trong nước 1.830,7 tỷ đồng.

Nếu tính về giá trị sản xuất cơng nghiệp, các KCN hiện nay đã đóng góp hơn

40% giá trị công nghiệp của cả nước đã tạo việc làm cho hơn 1,8 triệu lao

động trực tiếp và hàng vạn lao động gián tiếp. Ngoài ra, các KCN phát triển

đã kéo theo sự đầu tư về cơ sở hạ tầng (điện, đường, nước...). Những kết quả

này cho thấy vai trò quan trọng của KCN góp phần cho phát triển kinh tế - xã

hội của đất nước. Đó là thúc đẩy sản xuất công nghiệp, xuất nhập khẩu; thu

hút vốn đầu tư; nộp ngân sách Nhà nước; đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh

tế; nâng trình độ cơng nghệ sản xuất; tạo sản phẩm có sức cạnh tranh, …..[8].

- Góp phần hồn thiện cơ chế, chính sách phát triển kinh tế của đất

nước: Các KCN còn có tác dụng kích thích cạnh tranh, đổi mới và hồn thiện

mơi trường kinh doanh. Các doanh nghiệp trong các KCN đóng vai trò kích

thích việc cải cách và hồn thiện thể chế kinh tế, hệ thống pháp luật, nhất là thể

chế tiền tệ, tín dụng và ngoại hối của các địa phương nói riêng và của cả nước

nói chung. Các doanh nghiệp này cũng đã góp phần làm thay đổi bộ mặt và cấu

trúc mạng lưới thương mại hàng hóa và dịch vụ xã hội [8].

- Góp phần phát triển kết cấu hạ tầng của đất nước: Để thu hút đầu tư vào

các KCN, tạo điều kiện cho nhà đầu tư triển khai nhanh dự án, ngồi các chính



13



sách ưu đãi về tài chính. Cơ sở hạ tầng kỹ thuật trong và ngoài hàng rào đồng bộ

và hiện đại (bao gồm cả hệ thống điện nước và bưu chính viễn thơng), khơng chỉ

có tác dụng tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động mà còn tác

dụng kích thích sự phát triển kinh tể của địa phương nơi có KCN.

- Khu công nghiệp là cơ sở tiếp cận với kỹ thuật và công nghệ hiện đại,

học hỏi phương thức quản lý mới. Các khu công nghiệp khi thành lập đều đặt ra

mục tiêu tiếp cận các công nghiệp hiện đại. Theo một nhà kinh tế Phương Tây

nhận định: việc thành lập các khu cơng nghiệp còn có ý nghĩa hơn là một sự

thay đổi chính sách, bởi sự thay đổi chính sách từ bóp nghẹt sang cởi mở thơng

thống chỉ có ý nghĩa tối đa khi chuyển từ nền kinh tế chỉ huy sang nền kinh tế

thị trường. Còn sự thực khi nền kinh tế đã hạn chế bớt đi các trói buộc phong

kiến, hành chính thì điều có ý nghĩa hơn là một chính sách kỹ thuật và cơng

nghệ khả dĩ đủ hấp dẫn để thu hút được các kỹ thuật và cơng nghệ mới của

nước ngồi vào sự tái thiết nền kinh tế nội địa.

- Khu công nghiệp góp phần tạo thêm việc làm cho người lao động, tạo

ra lực lượng lao động có trình độ tay nghề cao cho xã hội. Hầu hết các nước

đang phát triển trong quá trình phát triển kinh tế đều gặp phải tình huống khó

xử: nếu theo đuổi mục tiêu tồn dụng nhân lực thì khó thực hiện mục tiêu

chống lạm phát, đồng thời ước muốn nền sản xuất xã hội đạt hiệu quả cao

bằng cách du nhập các công nghệ tinh vi tức là ỉt sử dụng lao động thì sẽ làm

gia tăng nạn thất nghiệp. Tuy chưa phải là giải pháp lý tưởng nhưng việc thiết

lập các khu công nghiệp là một cơ hội quan trọng để giải quyết mâu thuẫn

này. Với lực lượng lao động lớn, máy móc thiết bị hiện đại, trình độ phát triển

cao của các doanh nghiệp trong KCN, nó sẽ tạo áp lực cho các cơ quan nhà

nước tặng cường đào tạo nguồn nhân lực trong nước đáp ứng được yêu cầu

của các KCN và bản thân doanh nghiệp lúc đó cũng có nhiều cơ hội lựa chọn

lao động có tay nghề cao cho mình.



14



Ngồi ra, các doanh nghiệp trong KCN mà đặc biệt là các doanh nghiệp

có vốn đầu tư nước ngồi đã đào tạo đội ngũ cán bộ tiên tiến, có tác động lan

tỏa và nâng cao nền tảng trình độ lao động của đội ngũ lao động Việt Nam.

- Tạo ra mối liên kết giữa các ngành nghề: Các KCN đã và đang tạo

điều kiện cho các địa phương phát huy thế mạnh đặc thù của địa phương

mình. Đồng thời hình thành mối liên kết, hỗ trợ phát triển sản xuất trong

vùng, miền và cả nước.

Hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp trong khu cơng

nghiệp đòi hỏi những nguồn cung cấp thường xuyên nguyên vật liệu và dịch vụ

đầụ vào, điều này tạo ra mối liên hệ giữa các doanh nghiệp KCN và các doanh

nghiệp kinh doanh khác. Việc đáp ứng các nguyên vật liệu và dịch vụ đầu vào

với chất lượng cao và thường xuyên sẽ là động lực thúc đấy các doanh nghiệp

ngồi khu cơng nghiệp.

- Góp phần nâng cao năng lực quản lỷ của các cơ quan quản lý nhà

nước về KCN: KCN là một mô hình mới được xây dựng và phát triển ở Việt

Nam nên thực tế triển khai mơ hình này còn nhiều bất cập trong quản lý nhà

nước về KCN như phân cấp, ủy quyền trong KCN, thủ tục hành chính trong đầu

tư vào các KCN, các vấn đề thuế, hải quan,...Thực tiễn phát triển KCN đã cho

chúng ta nhiều bài học trong quản lý nhà nước về KCN nói riêng và quản lý nhà

nước nói chung. Đến nay, bộ máy quản lý KCN đã hình thành một cách thống

nhất từ trung ương đến địa phương bao gồm Bộ Kế hoạch và Đầu tư là cơ quan

quản lý KCN cấp Trung ương và các Ban quản lý các KCN cấp tỉnh.

Việc phân cấp mạnh mẽ cho các Ban quản lý các KCN cấp tỉnh trong

việc quản lý hoạt động đầu tư trong KCN, là nơi thực hiện tốt cơ chế một cửa,

tại chỗ, tạo điều kiện tối đa cho nhà đầu tư vào KCN và cũng là nơi các cơ quan

nhà nước “thử nghiệm” các chính sách và ngày càng hồn thiện các chính sách

đó sao cho phù hợp với thực tế.



15



1.1.3. Lý luận về nâng cao thu nhập của nông hộ sau thu hồi đất

1.1.3.1. Nguồn thu nhập của nông hộ

Tổng thu nhập của hộ thường được thu từ một nguồn hay nhiều nguồn.

Qua các cuộc điều tra của Tổng cục thống kê qua các năm về dân số, nhà ở thì

thu nhập được chia thành 5 nguồn [12]:

Thu nhập từ hoạt động sản xuất nông nghiệp: bao gồm thu do trồng

trọt, chăn nuôi gia súc, gia cầm, nuôi trồng thủy sản và các họat động liên quan

đến nông nghiệp.

Thu nhập từ tiền cơng, tiền lương: bao gồm thu nhập chính 7 ngày, các

cơng việc phụ 7 ngày, việc làm chính 12 tháng. Thành phần thu nhập của mỗi

công việc bao gồm cả tiền mặt và giá trị hiện vật nhận được các khoản: tiền công,

trị giá ăn trưa, các loại phụ cấp, bảo hộ lao động có liên quan đến công việc.

Thu nhập ngành nghề tự sản xuất, ngành nghề cá thể đó là ngành nghề

tự do, có thể mua bán, sản xuất chế biến các sản phẩm trong nông nghiệp hoặc

phi nông nghiệp, các chủ hộ tự bỏ vốn và gia đình có khi th ngồi.

Thu nhập từ hưu trí, trợ cấp học bổng: thu nhập bình qn từ quỹ bảo

hiểm xã hội như trợ cấp hưu trí, mất sức, các khoản trợ cấp xã hội khác và học

bổng, trợ cấp giáo dục.

Thu nhập khác: bao gồm tiền cho thuê nhà ở, thu từ quà biếu khách hàng

tiêu dùng, thu nhập bình quân từ lãi cho vay mượn trong 12 tháng kể cả nhận và

sẽ nhận, bao gồm các khoản tiền và giá trị hiện vật có tính chất trợ giúp đã nhận

được trong 12 tháng mà không phải hồn trả lại từ các tổ chức, cá nhân khơng

phải thành viên của hộ, kể cả trong và ngoài nước.

1.1.3.2. Khái niệm và tác động của thu hồi đất đến thu nhập của nông hộ

Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước quyết định thu lại quyền sử dụng

đất của người được Nhà nước trao quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất của người

sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai (Luật đất đai năm 2013).



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CỦA NÔNG HỘ SAU THU HỒI ĐẤT

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×