Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng 3.7: Hoạt động đào tạo nghề tại các huyện

Bảng 3.7: Hoạt động đào tạo nghề tại các huyện

Tải bản đầy đủ - 0trang

68



Nhận thấy số lớp đào tạo nghề cho lao động nông thôn các huyện ngoại

thành không ngừng gia tăng qua các năm. Kết quả thống kê tại huyện Đông

Anh cho thấy, tổng số lớp đào tạo nghề toàn huyện năm 2014 là 89 lớp, năm

2015 là 95 lớp tăng 6 lớp so với năm 2014 và năm 2016, toàn huyện tổ chức

đƣợc 108 lớp đào tạo nghề cho lao đông nông thôn tăng 13 lớp đào tạo so với

năm 2015. Số lớp đào tạo chủ yếu thuộc ngành nông – lâm – ngƣ nghiệp (chủ

yếu đào tạo việc ứng dụng công nghệ, kỹ thuật cao trong sản xuất nông

nghiệp nhằm tăng năng suất và chất lƣợng nông sản thu hoạch). Với số lƣợng

các lớp đào tạo nghề tăng lên các năm đã nhanh chóng nâng cao số lƣợng lao

động đƣợc đào tạo. Theo đó số lƣợt lao động đƣợc tham gia đào tạo năm 2016

là 6.269 lƣợt tăng 358 lƣợt đào tạo so với năm 2015, tỷ lệ lao động đƣợc đào

tạo so với lao động chƣa đào tạo đạt 3,22% trong năm 2016 (giảm so với các

năm trƣớc), tỷ lệ đạt yêu cầu đầu ra sau đào tạo đảm bảo 88,53% tăng 3,45%

so với năm 2015 (chứng tỏ chất lƣợng các lớp đào tạo nghề tăng).

Đối với huyện Sóc Sơn, số lƣợng các lớp đào tạo nghề của huyện tăng

từ 39 lớp năm 2014 lên 57 lớp trong năm 2016, tăng 10 lớp so với năm 2015,

các lớp đào tạo trong ngành nông – lâm – ngƣ nghiệp cũng chiếm tỷ trọng chủ

yếu. Việc tăng cƣờng các lớp đào tạo nghề trên địa bàn huyện đã tạo hiệu quả

tích cực giúp gia tăng số lƣợt lao động đƣợc đào tạo hàng năm. Năm 2016, số

lƣợt lao động đƣợc đào tạo đạt 3.997 lƣợt tăng 350 lƣợt so với năm 2015, đảm

bảo đạt tiêu chuẩn đào tạo đầu ra là 80,45% tăng 2,79% so với năm 2015.

Tại huyện Gia Lâm, kết quả thực hiện các chính sách đào tạo nghề của

các cấp chính quyền địa phƣơng cũng có nhiều khác biệt so với các địa bàn

khác. Tổng số lớp đào tạo đƣợc tổ chức hàng năm trong giai đoạn 2014-2016

lần lƣợt là 74, 88 và 97 lớp, năm 2015 tăng 14 lớp so với năm 2014 và năm

2016 tăng 9 lớp so với năm 2015. Việc triển khai các lớp đào tạo năm 2016 đã

thu hút 6.397 lƣợt lao đông khu vực nông thôn tham gia tăng 485 lƣợt tham



69



gia đào tạo so với năm 2015, nâng tỷ lệ lao động đƣợc đào tạo trong năm lên

7,76% tăng 0,37% so với năm 2015. Tỷ lệ lao động đạt chuẩn đầu ra sau đào

tạo các năm lần lƣợt là: 87,13%; 84,26% và 85,76% (năm 2016 tăng so với

năm 2015 song giảm so với năm 2014).

Nhƣ vậy, tình hình thực hiện chính sách đào tạo nghề cho lao động

nông thôn các huyện ngoại thành Hà Nội thu đƣợc kết quả tích cực khi số lớp

đào tạo và số lƣợt lao động đƣợc đào tạo tại các huyện điều tra không ngừng

gia tăng qua các năm. Song tỷ lệ lao động đƣợc đào tạo còn thấp, số lƣợng lao

động chƣa qua đào tạo vẫn chiếm tỷ lệ cao, kết quả đầu ra của lao động sau

đào tạo không đảm bảo 100%. Những hạn chế này xuất phát từ các nguyên

nhân nhƣ: Các cấp ủy đảng, chính quyền, đồn thể các huyện ngoại thành Hà

Nội chƣa quan tâm đúng mức đến công tác đào tạo nghề, giải quyết việc làm

và nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực, các phòng quản lý đào tạo nghề tại

địa bàn điều tra chậm đƣa ra định hƣớng về phát triển nguồn nhân lực gắn với

chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội của địa phƣơng để làm cơ sở cho xây

dựng và triển khai kế hoạch đào tạo nghề hàng năm. Công tác tuyên truyền, tƣ

vấn về học nghề - việc làm đến từng gia đình, cá nhân ngƣời lao động nơng

thơn chƣa tốt. Bên cạnh đó, sự phối hợp giữa cơ sở dạy nghề với UBND các

huyện ngoại thành Hà Nội về dạy nghề thiếu chặt chẽ; không nắm chắc nhu

cầu sử dụng nguồn nhân lực trên địa bàn trong từng giai đoạn và từng năm để

có kế hoạch đào tạo nghề phù hợp, dẫn đến tình trạng nhiều lao động đƣợc

đào tạo nghề nhƣng khơng phù hợp với ngành nghề đƣợc đào tạo và không

đảm bảo tiêu chuẩn đầu ra của lớp đào tạo.

Thực hiện định hƣớng của Hà Nội về hỗ trợ đào tạo nghề cho ngƣời lao

động nông thôn. Các huyện khu vực ngoại thành đã triển khai xây dựng các

chính sách hỗ trợ về đào tạo nghề. Tuy nhiên, chính sách ƣu đãi về hỗ trợ đào

tạo chỉ tập trung vào các đối tƣợng: ngƣời khuyết tật, ngƣời có cơng, hộ



70



nghèo, hộ thuộc diện thu hồi đất. Do đó, kết quả của những chinh sách hỗ trợ

đào tạo nghề không thu đƣợc hiệu quả nhƣ mong đợi. Các chính sách ƣu đãi

đào tạo nghê đƣợc áp dụng trên địa bàn Hà Nội nhƣ sau:

Bảng 3.8: Hoạt động hỗ trợ đào tạo nghề tại các địa phƣơng

Thời gian

đào tạo/

khóa học

( tháng)



Ngƣời

khuyết

tật

(nghìn

đồng)



Ngƣời có

cơng

(nghìn

đồng)



Hộ nghèo

(nghìn

đồng)



03 tháng

03 tháng

03 tháng



2800

2800

2800



2800

2800

2800



1.500

1.500

1.500



Hộ

thuộc

diện thu

hồi đất

(nghìn

đồng)

1.200

1.200

1.200



03 tháng



3000



3000



1.800



1.200



Ni và phòng trị bệnh cho gia

cầm



03 tháng



3000



3000



1.800



1.500



Chuẩn đoán bệnh động vật

thủy sản



03 tháng



3000



3000



1.800



1.500



Sử dụng thuốc thú y trong chăn

nuôi



03 tháng



3000



3000



1.800



1.500



03 tháng

03 tháng

02 tháng

03 tháng



3500

3500

2200

3500



3500

3500

2200

3500



2000

2000

2000

2000



2000

2000

2000

2000



03 tháng



3500



3500



2000



2000



03 tháng

03 tháng

02 tháng

03 tháng

02 tháng

03 tháng



3500

3000

2000

3000

2000

3500



3500

3000

2000

3000

2000

3500



2000

2000

2000

2000

2000

2000



2000

2000

2000

2000

2000

2000



Chỉ tiêu



Trồng ngô

Trồng rau an tồn

Trồng cây ăn quả

Ni và phòng trị bệnh cho gia

súc



Nhóm nghề phi nơng nghiệp

Hàn

Điện dân dụng

Điện cơng nghiệp

Mộc

Tin học văn phòng, vi tính văn

phòng

Sửa chữa xe máy

Thêu ren, Ren thủ công

Mây tre đan

Sản xuất hƣơng xuất khẩu

Xâu chiếu trúc

Kỹ thuật khảm trai



(Nguồn: Sở Lao động thương binh xã hội)

Hiện tại, các lớp đào tạo nghề tại các huyện ngoại thành Hà Nơi có thời

gian ngắn từ 2 – 3 tháng gồm các lớp đào tạo nông nghiệp và phi nơng nghiệp.



71



Đối với các lớp đào tạo nhóm nghề nơng nghiệp, chính sách hỗ trợ đào tạo đối

với ngƣời khuyến tật và ngƣời có cơng ở mức 2,8 triệu đồng và 3 triệu

đồng/ngƣời tùy theo nội dung của khóa đào tạo. Đối với các đối tƣợng thuộc hộ

nghèo, chính sách hỗ trợ ở mức 1,5 triệu và 1,8 triệu đồng/ngƣời và với đối

tƣợng ngƣời bị thu hồi đất mức hỗ trợ là 1,2 triệu và 1,5 triệu đồng/ngƣời.

Tại các nhóm nghề phi nông nghiệp gồm các nghề: hàn, diện dân dụng,

điên cơng nghiệp, mộc, tin học văn phòng, sửa chữa xe máy, kỹ thuật khảm

trai, các nghề thủ công.... mức hỗ trợ của chính quyền địa phƣơng cho các đối

tƣợng lao động nơng thơng cao hơn nhóm nghề nơng nghiệp. Trong đó, với

đối tƣợng ngƣời có cơng, ngƣời khuyến tật, mức hỗ trợ phổ biến là 3,5 triệu

đồng/ngƣời (ngoài ra còn các mức hỗ trợ 2 triệu. 2,2 triệu, 3 triệu tùy từng

nghề đào tạo). Với các nhóm đối tƣợng thuộc hộ nghèo, hộ bị thu hồi đất,

mức hỗ trợ duy nhất ngƣời lao động đƣợc hƣởng là 2 triệu đồng/ngƣời.

Nhƣ vậy, số lƣợng các nghề đƣợc hỗ trợ đào tạo tại khu vực nông thôn

ngoại thành Hà Nội khá nhiều song do nguồn kinh phí hạn hẹp nên đối tƣợng

đƣợc tham gia đào tạo còn hạn chế. Đồng thời, chính quyền chƣa xác định

đƣợc các nghề chủ lực nên việc đào tào còn dàn trải, khơng có trọng tâm.

Thực trạng cơng tác đào tạo nhƣ vậy gây lãng phí chi phí đào tạo mà hiệu quả

chính sách đào tạo nghề không cao do một số lao động sau khi đƣợc đào tạo

nghề khơng tìm đƣợc cơng việc phù hợp với ngành nghề đào tạo. Hạn chế này

nghĩa là chính sách đào tạo nghề không gắn với nhu cầu thị trƣờng, công tác

đào tạo nghề không gắn với yêu cầu của công việc.

3.3. Các yếu tố ảnh hƣởng đến công tác tổ chức đào tạo nghề cho lao

động nông thôn

3.3.1. Các chính sách đào tạo nghề

Đảng và Nhà nƣớc ta ngay từ khi mới thành lập đã nhận thức rõ đƣợc

vai trò quan trọng trong việc phát triển nguồn nhân lực chất lƣợng cao để

phục vụ cho nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam trên con đƣờng



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng 3.7: Hoạt động đào tạo nghề tại các huyện

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×