Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TỔ CHỨC ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TỔ CHỨC ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN

Tải bản đầy đủ - 0trang

6



tra, sự nổi lên của các cơ quan quản lý có thẩm quyền để thừa nhận và kỷ luật

các thành viên, và một số quyền độc quyền". Kể từ khi đƣợc kỹ sƣ Frank

Parsons chính thức gọi tên vào năm 1908, việc sử dụng thuật ngữ "nghề

nghiệp" đã phát triển, với sự nhấn mạnh đến sự phát triển của cá nhân về tài

năng và khả năng trong việc lựa chọn và hƣởng thụ sự nghiệp. Sự mở rộng

ngữ nghĩa này có nghĩa là một số suy giảm về tham khảo ý nghĩa tôn giáo của

thuật ngữ trong việc sử dụng hàng ngày.

Vậy, khái niệm nghề có thể định nghĩa nhƣ sau:

Nghề là một việc làm có tính ổn định, đem lại thu nhập để duy trì và

phát triển cuộc sống cho mỗi ngƣời. Nghề không đơn giản chỉ để kiếm sống

mà còn là con đƣờng để chúng ta thể hiện và khẳng định giá trị của bản thân.

Nghề là một lĩnh vực hoạt động lao động mà trong đó, nhờ đƣợc đào

tạo, con ngƣời có đƣợc những tri thức, những kỹ năng để làm ra các loại sản

phẩm vật chất hay tinh thần nào đó, đáp ứng đƣợc những nhu cầu của xã hội.

Nghề bao gồm nhiều chuyên môn, chuyên môn là một lĩnh vực lao

động sản xuất hẹp mà ở đó, con ngƣời bằng năng lực thể chất và tinh thần của

mình làm ra những giá trị vật chất (thực phẩm, lƣơng thực, công cụ lao

động…) hoặc giá trị tinh thần (sách báo, phim ảnh, âm nhạc, tranh vẽ…) với

tƣ cách là những phƣơng tiện sinh tồn và phát triển của xã hội.

1.1.1.2 Khái niệm đào tạo nghề

Theo Các - Mác (2005) công tác dạy nghề phải bao gồm các thành

phần sau:

Một là: giáo dục trí tuệ

Hai là: Giáo dục thể lực nhƣ trong các trƣờng Thể dục Thể thao hoặc

bằng cách huấn luyện quân sự

Ba là: dạy kí thuật nhăm giúp học sinh nắm đƣợc vững những nguyên lí

cơ bản của tất cả các q trình sản xuất, đồng thời biết sử dụng các công cụ



7



sản xuất đơn giản nhất (C.Mác Ph.ăng nghen. Tuyển tập xuất bản lần 2, tập 16

trang 198)

Ở Việt Nam có tồn tại các khái niệm sau:

Theo giáo trình KTLĐ của trƣờng ĐH KTQD thì khái niệm đào tạo

nghề đƣợc tác giả trình bày là: “ Đào tạo nguồn nhân lực là quá trình trang bị

kiến thực nhất định về chuyên môn nghiệp vụ cho ngƣời lao động,để họ có

thể đảm nhận đƣợc một số công việc nhất định”

Theo tài liệu của Bộ LĐTB và XH xuất bản năm 2002 thì khái niệm

đào tạo nghề đƣợc hiểu: “Đào tạo nghề là hoạt động nhằm trang bị cho ngƣời

lao động nhừng kiến thức, kĩ năng và tháI độ lao động cần thiết để ngƣời lao

động sau khi hồn thành khố học hành đƣợc một nghề trong xã hội”

Theo Điều 3 trong Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014, đào tạo nghề

nghiệp là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ

nghề nghiệp cần thiết cho ngƣời học để có thể tìm đƣợc việc làm hoặc tự tạo

việc làm sau khi hồn thành khóa học hoặc để nâng cao trình độ nghề nghiệp.

Hay nói theo cách khác, đào tạo nghề là q trình tác động có mục đích, có tổ

chức đến ngƣời học nghề để hình thành và phát triển một cách có hệ thống

những kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết nhằm đáp ứng nhu

cầu của xã hội, trong đó có nhu cầu quốc gia, nhu cầu doanh nghiệp và nhu

cầu bản thân ngƣời học nghề

1.1.1.3. Khái niệm về tổ chức đào tạo nghề

Tổ chức đào tạo nghề cho lao động nông thôn là chu trình gồm 4 bƣớc:

Xác định nhu cầu đào tạo; Lập kế hoạch và thiết kế đào tạo; Triển khai đào

tạo và Đánh giá kết quả đào tạo và sau đào tạo. Trong đó, xác định nhu cầu

đào tạo đƣợc coi là xuất phát điểm của chu trình đào tạo trong cơ chế thị

trƣờng (Trần Xuân Cầu, 2010).



8



1.1.2. Vai trò của tổ chức đào tạo nghề

Đối với phát triển kinh tế

Để đạt đƣợc mục tiêu đến năm 2020 nƣớc ta còn khoảng 30% lao động

làm nơng nghiệp, còn lại phải chuyển sang ngành nghề phi nơng nghiệp,

khơng còn con đƣờng nào khác là chúng ta là chúng ta phải tổ chức đào tạo

nghề cho lao động.

Tổ chức đào tạo nghề là việc làm thiết thực góp phần giải quyết cơng

ăn việc làm cho số LĐNT nhàn rỗi do khơng có nghề; một số do không thi

vào các trƣờng đại học, cao đẳng, trung cấp hoặc do thi trƣợt, hồn cảnh

khơng thể có khả năng thi tiếp; một số khác là bộ đội xuất ngũ trở về địa

phƣơng, nông dân bị thu hồi đất để xây dựng các khu công nghiệp. Đối với

những LĐNT, ngƣời có trình độ văn hóa thấp thì tổ chức đào tạo nghề là biện

pháp duy nhất để nâng cao trình độ kiến thức, kỹ năng, tay nghề cho ngƣời

lao động vì họ khơng thể đáp ứng đƣợc các yêu cầu của giáo dục chuyên

nghiệp (Nguyễn Văn Đại, 2012).

Bên cạnh đó, tổ chức đào tạo nghề sẽ huy động đƣợc tối đa lực lƣợng

lao động của xã hội và phát triển kinh tế - xã hội. Phát triển lực lƣợng lao

động thông qua đào tạo sẽ phát huy đƣợc năng lực, sở trƣờng của từng ngƣời

lao động và nhờ vậy hiệu quả kinh tế của sản xuất kinh doanh ngày một nâng

cao.

Tổ chức đào tạo nghề sẽ khai thác tốt hơn các nguồn lực. Đó là khai

thác các nguồn lực về tài nguyên thiên nhiên, vốn, khoa học cơng nghệ, làm

cho kinh tế nơng thơn hoạt động có hiệu quả hơn.

Tổ chức đào tạo nghề giúp đáp ứng những đòi hỏi về kỹ năng, cơng

nghệ về quản lý trong thời đại bƣớc sang nền kinh tế tri thức; đáp ứng đƣợc



9



nhu cầu hội nhập đƣợc kinh tế thế giới và tồn cầu hóa nền kinh tế và góp

phần quan trọng vào qua trình tăng trƣởng của nền kinh tế quốc dân.

Đối với chính trị - xã hội

Tổ chức đào tạo nghề cho LĐNT góp phần quan trọng vào việc thực

hiện mục tiêu “Dân giàu, nƣớc mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”

của Đảng và Nhà nƣớc ta. Dân muốn giàu, trƣớc hết phải có đầy đủ việc làm,

sau đó là chất lƣợng việc làm ngày ngày một nâng cao, thu nhập của ngƣời

lao động ngày một tăng.

Tổ chức đào tạo nghề cho LĐNT góp phần nâng cao trí tuệ, chất lƣợng

lực lƣợng lao động, làm giảm các tội phạm về tệ nạn xã hội.

1.1.3 Nội dung của tổ chức đào tạo nghề

1.1.3.1. Mục tiêu của tổ chức đào tạo nghề

Chất lƣợng nguồn lao động là yếu tố then chốt quyết định sực phát triền

kinh tế - xã hội của mỗi địa phƣơng. Một trong những minh chứng rõ nét nhất

là đất nƣớc Nhật Bản - một quốc gia nghèo nàn về tài nguyên và gắn liền với

nhiều thiên tai nhƣng con ngƣời nơi đây đã chăm chỉ và không ngừng sáng

tạo để vƣợt qua những cản trở của thiên nhiên để trở thành cƣờng quốc kinh

tế trên thế giới; là tấm gƣơng sáng cho các nƣớc khác trên thế giới trong đó có

Việt Nam. Một trong những phƣơng pháp giúp nâng cao chất lƣợng nguồn lao

động là hệ thống giáo dục của quốc gia nói chung và địa phƣơng nói riêng

phải hiện đại, phù hợp với nhu cầu của nền kinh tế và phù hợp với đối tƣợng

ngƣời học. Trong hệ thống giáo dục của một quốc gia sẽ gồm nhiều cấp bậc

khác nhau trong đó đào tạo nghề là một khâu quan trọng và tác động rõ rệt

đến chất lƣợng đội ngũ lao động. Đào tạo nghề đƣợc xem nhƣ là giải pháp

gắn với phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo, giải quyết vấn đề thất



10



nghiệp, thiếu việc làm cho ngƣời lao động, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, nâng

cao trình độ dân trí,... ở nơng thơn nƣớc ta hiện nay

1.1.3.2. Triển khai đào tạo nghề

Tổ chức đào tạo nghề bao gồm những nội dung cần triển khai gồm: đào

tạo kiến thức nghề nghiệp cho học sinh một cách có hệ thống và rèn luyện các

kỹ năng thực hành, tác phong làm việc theo từng ngành nghề nhằm giúp mỗi

học sinh có khả năng làm một nghề nhất định (Trần Xuân Cầu, 2010).

- Đào tạo kiến thức nghề nghiệp:

Kiến thức bao gồm những dữ kiện, thông tin, sự mô tả, hay kỹ năng có

đƣợc nhờ trải nghiệm hay thơng qua giáo dục. Kiến thức có thể chỉ sự hiểu

biết về một đối tƣợng, về mặt lý thuyết hay thực hành. Nó có thể ẩn tàng,

chẳng hạn những kỹ năng hay năng lực thực hành, hay tƣờng minh, nhƣ

những hiểu biết lý thuyết về một đối tƣợng; nó có thể ít nhiều mang tính hình

thức hay có tính hệ thống. Kiến thức là những thơng tin mà con ngƣời có

đƣợc và lƣu trữ trong bộ não, cách thức họ tổ chức, sử dụng các thông tin này.

Trong hệ thống giáo dục đào tạo, hệ thống kiến thức nghề nghiệp mà

học viên đƣợc trang bị cơ bản gồm những kiến thức cơ bản và kiến thức

chuyên môn. Cụ thể

Kiến thức cơ bản: là kiến thức bắt buộc tất cả mọi học sinh đều phải

nắm bắt đƣợc nhƣ nhau, kiến thức này mang tính chất chung, thời gian để đào

tạo là từ 1 đến 2 năm đầu đối với hệ đào tạo dai hạn. Sau khi nắm bắt đƣợc

những kiến thức cơ bản này, học sinh sẽ bắt đầu chuyển sang học tập những

kiến thức chun mơn (Phan Đức Chính, 2006).

Kiến thức cơ sở chuyên môn: là những kiến thức nghề nghiệp chuyên

môn căn bản, mà dựa vào đó học sinh sẽ xây dựng và phát triển kiến thức

nghề nghiệp chuyên môn. Mỗi nghề khác nhau sẽ yêu cầu những kiến thức cơ

sở chuyên môn riêng (Trần Văn Đại, 2010).



11



Kiến thức chuyên môn: đây là những kiến thức lý thuyết lẫn thực hành

mà học viên đƣợc trang bị sau khi đã nắm bắt đƣợc các kiến thức cơ sở.

Những kiến thức này là hành trang, trang bị cho học sinh để sẵn sàng thực

hiện những công việc chuyên môn cụ thể trong xã hội (Trần Minh Nguyệt,

2013).

Tất cả các kiến thức trên đều rất quan trọng đối với học sinh, giúp họ có

một nền tảng vững chắc, có khả năng phản ứng nhạy bén và chính xác hơn

trong cơng việc vủa mình.

- Đào tạo kỹ năng nghề nghiệp

Kỹ năng là năng lực hay khả năng của chủ thể thực hiện thuần thục một

hay một chuỗi hành động trên cơ sở hiểu biết (kiến thức hoặc kinh nghiệm)

nhằm tạo ra kết quả mong đợi (Trần Xuân Cầu, 2010). Bất cứ một kỹ năng

nào đƣợc hình thành nhanh hay chậm, bền vững hay lỏng lẻo đều phụ thuộc

vào khát khao, quyết tâm, năng lực tiếp nhận của chủ thể, cách luyện tập, tính

phức tạp của chính kỹ năng đó. Dù hình thành nhanh hay chậm thì kỹ năng

cũng đều trải qua những bƣớc sau đây:

Hình thành mục đích. Lúc này thƣờng thì chủ thể tự mình trả lời câu hỏi

“Tại sao tôi phải sở hữu kỹ năng đó?”; “Sở hữu kỹ năng đó tơi có lợi gì?”…

Lên kế hoạch để có kỹ năng đó. Thƣờng cũng là tự làm. Cũng có những

kế hoạch chi tiết và cũng có những kế hoạch đơn giản nhƣ là “ngày mai tơi

bắt đầu luyện kỹ năng đó”.

Cập nhật kiến thức / lý thuyết liên quan đến kỹ năng đó. Thơng qua tài

liệu, báo chí hoặc buổi thuyết trình nào đó. Phần lớn thì những kiến thức này

chúng ta đƣợc học từ trƣờng và từ thầy của mình.

Luyện tập kỹ năng. Bạn có thể luyện tập ngay trong cơng việc, luyện

với thày hoặc tự mình luyện tập.



12



Ứng dụng và hiệu chỉnh. Để sở hữu thực sự một kỹ năng chúng ta phải

ứng dụng nó trong cuộc sống và cơng việc.

Cơng việc và cuộc sống thì biến động khơng ngừng nên việc hiệu chỉnh

là quá trình diễn ra thƣờng xuyên nhằm hƣớng tới việc hoàn thiện kỹ năng

của chúng ta. Một khi bạn hồn thiện kỹ năng thì cũng có nghĩa là bạn đang

hồn thiện bản thân mình.

- Năng lực và phẩm chất

Trình độ đào tạo nghề đƣợc thể hiện qua năng lực thực hiện trong công

việc, năng lực thực hiện này chính là sự vận dụng tất cả kiế thức, kỹ năng,

thái độ của học sinh trong các nghề nghiệp cụ thể. Năng lực này đƣợc hình

thành và phát triển dựa trên cơ sở là năng lực chuyên môn, năng lực phƣơng

pháp, năng lực xã hội và năng lực cá thể.

- Năng lực chuyên môn là khả năng sẵn sàng áp dụng các kiến thức, kỹ

năng cần thiết để thực hiện các công việc cụ thể, đồng thời thu thập và xử lý

linh hoạt các tình huống xảy ra trong thực tế công việc. Năng lực chuyên môn

là năng lực đặc trƣng trong lĩnh vực nhất định của xã hội nhƣ năng lực tổ

chức, năng lực âm nhạc, năng lực kinh doanh, hội hoạ, toán học... Năng lực

chung và năng lực chun mơn có quan hệ qua lại hữu cơ với nhau, năng lực

chung là cơ sở của năng lực chuyên ln, nếu chúng càng phát triển thì càng

dễ thành đạt đƣợc năng lực chuyên môn. Ngƣợc lại sự phát triển của năng lực

chuyên môn trong những điều kiện nhất định lại có ảnh hƣởng đối với sự phát

triển của năng lực chung. Trong thực tế mọi hoạt động có kết quả và hiệu quả

cao thì mỗi ngƣời đều phải cớ năng lực chung phát triển ở trình độ cần thiết

và có một vài năng lực chun mơn tƣơng ứng với lĩnh vực cơng việc của

mình. Những năng lực cơ bản này khơng phải là bẩm sinh, mà nó phải đƣợc

giáo dục phát triển và bồi dƣỡng ở con ngƣời. Năng lực của một ngƣời phối

hợp trong mọi hoạt động là nhờ khả năng tự điều khiển, tự quản lý, tự điều



13



chỉnh ở lỗi cá nhân đƣợc hình thành trong quá trình sống và giáo dục của mỗi

ngƣời.

- Năng lực phƣơng pháp: Là khả năng đối với những hành động có kế

hoạch, định hƣớng mục đích trong việc giải quyết các nhiệm vụ và vấn đề.

Năng lực phƣơng pháp bao gồm năng lực phƣơng pháp chung và phƣơng

pháp chuyên môn. Trung tâm của phƣơng pháp nhận thức là những khả năng

tiếp nhận, xử lý, đánh giá, truyền thụ và trình bày tri thức. Nó đƣợc tiếp nhận

qua việc học phƣơng pháp luận – giải quyết vấn đề.

- Năng lực xã hội: Là khả năng đạt đƣợc mục đích trong những tình

huống giao tiếp ứng xử xã hội cũng nhƣ trong những nhiệm vụ khác nhau

trong sự phối hợp chặt chẽ với những thành viên khác. Năng lực này có đƣợc

tiếp nhận qua việc học giao tiếp.

- Năng lực cá thể: Là khả năng xác định, đánh giá đƣợc những cơ hội

phát triển cũng nhƣ những giới hạn của cá nhân, phát triển năng khiếu, xây

dựng và thực hiện kế hoạch phát triển cá nhân, những quan điểm, chuẩn giá

trị đạo đức và động cơ chi phối các thái độ và hành vi ứng xử. Nó đƣợc tiếp

nhận qua việc học cảm xúc – đạo đức và liên quan đến tƣ duy và hành động

tự chịu trách nhiệm.

1.1.3.3. Phương pháp tổ chức đào tạo nghề

- Đào tạo nghề chính quy

Theo luật dạy nghề đƣợc Quốc hội ban hành ngày 29 tháng 11 năm

2016 quy định, đào tạo nghề chính quy đƣợc áp dung đối với các chƣơng

trình sơ cấp nghề, trung cấp nghề và cao đẳng nghề tại các điều 15, 22 và 29

tại các cơ sở dạy nghề theo các khóa học tập trung và liên tục. Phƣơng pháp

đào tạo nghề này có đặc điểm là đào tạo tập trung tại các trung tâm dạy nghề,

các trƣờng nghề; quy mô đào tao tƣơng đối lớn; và đối tƣợng đào tạo của

phƣơng pháp này là các cơng nhân có kỹ thuật và độ lành nghề cao.



14



Với phƣơng pháp dạy nghề này, học viên đƣợc đào tạo theo giáo trình

từ đơn giản đến phức tạp, bao gồm lý thuyết và thực hành song song, giúp cho

kiến thức đƣợc truyền tải môt các nhanh chóng và đầy đủ đến cho học viên.

Sau khi đào tao, học viên có khả năng giải quyết cơng việc một cách chủ động

va độc lập, có thể đảm nhận các công việc phức tạp và yêu cầu cao hơn. Đây

là phƣơng pháp đào tạo, giữ vai trò quan trọng trong việc tạo đội ngũ công

nhân kỹ thuật cao, phục vụ công cuộc phát triển nghề hiện tại cũng nhƣ trong

tƣơng lai. Tuy nhiên, phƣơng pháp đào tạo này cũng vẫn tồn tại những nhƣợc

điểm là thời gian đào tạo tƣơng đối dài, học phí tƣơng đối cao do đòi hỏi phải

đâu tƣ lớn để đảm bảo cơ sở vât chất, đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý.

- Phƣơng pháp dạy nghề thƣờng xuyên

Dạy nghề thƣờng xuyên đƣợc thực hiện linh hoạt về thời gian, địa

điểm, phƣơng pháp đào tạo để phù hợp với yêu cầu của ngƣời học nghề nhằm

tạo điều kiện cho ngƣời lao động học suốt đời, nâng cao trình độ kỹ năng

nghề thích ứng với yêu cầu của thị trƣờng lao động, tạo cơ hội tìm việc làm,

tự tạo việc làm.

Chƣơng trình dạy nghề thƣờng xuyên bao gồm:

Chƣơng trình bồi dƣỡng, nâng cao, cập nhật kiến thức và kỹ năng nghề;

Chƣơng trình dạy nghề theo hình thức kèm cặp nghề, truyền nghề;

Chƣơng trình chuyển giao cơng nghệ;

Chƣơng trình dạy nghề quy định tại các điều 13, 20 và 27 của Luật dạy

nghề đƣợc thực hiện theo hình thức vừa làm vừa học hoặc tự học có hƣớng

dẫn để đƣợc cấp chứng chỉ sơ cấp nghề, bằng tốt nghiệp trung cấp nghề, bằng

tốt nghiệp cao đẳng nghề.

Phƣơng pháp dạy nghề thƣờng xuyên giúp phát huy vai trò chủ động,

năng lực tự học và kinh nghiệm của ngƣời học nghề.

Phƣơng pháp đào tạo nghề tại nơi làm việc



15



Phƣơng pháp này có hình thức đào tạo trực tiếp, trong đó ngƣời học sẽ

đƣợc giảng dạy những kỹ năng và kiến thức cần thiết trong công việc bằng

cách thữ hành công việc dƣới sự giám sát và hƣớng dẫn của những ngƣời lao

động có trình độ và tay nghề cao hơn. Phƣơng pháp đào tạo này thiên về thực

hành hơn và do các tổ chức, doanh nghiệp tự tổ chức.

Phƣơng pháp đào tạo này chia làm ba giai đoạn: Giai đoạn thứ nhất,

ngƣời hƣớng dẫn thực hành và hƣớng dẫn cho học viên trƣớc; giai đoạn hai,

ngƣời hƣớng dẫn sẽ giao việc cho học viên và vẫn tiếp tục kèm cặp và đào tạo

tiếp. Giai đoạn ba, ngƣời hƣớng dẫn sẽ để cho học viên độc lập làm việc, sau

khi học viên đã thông thạo các nguyên tắc và phƣơng pháp làm việc.

Phƣơng pháp này có khả năng đào tạo nhiều ngƣời cùng một lúc, thời

gian đào tạo ngắn và khơng đòi hỏi điều kiện về cơ sở vật chất nhƣ trƣờng

học, bàn ghế,..cũng nhƣ đội ngũ cán bộ giảng viên nên chi phí đào tạo khá

thấp. Trong q trình đào tạo, học viên còn đƣợc trực tiếp tham gia vào q

trình sản xuất, giúp học viên có một tay nghề và kinh nghiệm thực tế về công

việc. Tuy vậy nhƣợc điểm của phƣơng pháp này là kiến thức đƣợc truyền đạt

không theo hệ thống. Ngƣời hƣớng dẫn khơng có nghiệp vụ sƣ phạm nên q

trình hƣớng dẫn sẽ gặp những hạn chế dẫn đến kết quả học tập của học viên

còn thấp. Phƣơng pháp này chỉ phù hợp với những cơng việc khơng đòi hỏi

độ lành nghề và trình độ cao.

1.1.3.4. Tổ chức dạy nghề và học nghề

- Tổ chức dạy nghề:

Dạy nghề là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và

thái độ nghề nghiệp cần thiết cho ngƣời học nghề để có thể tìm đƣợc việc làm

hoặc tự tạo việc làm sau khi hồn thành khố học. Tổ chức dạy nghề là chuỗi

hoạt động của giáo viê từ việc cung cấp kế hoạch và chƣơng trình đào tạo theo

từng khoa, từng bộ mơn và hình thức đào tạo cụ thể cho đến hoạt động kiểm tra

dạy học và đánh giá học sinh. Mục tiêu dạy nghề là đào tạo nhân lực kỹ thuật



16



trực tiếp trong sản xuất, dịch vụ có năng lực thực hành nghề tƣơng xứng với

trình độ đào tạo, có đạo đức, lƣơng tâm nghề nghiệp, ý thức kỷ luật, tác phong

cơng nghiệp, có sức khoẻ nhằm tạo điều kiện cho ngƣời học nghề sau khi tốt

nghiệp có khả năng tìm việc làm, tự tạo việc làm hoặc học lên trình độ cao hơn,

đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc.

Tổ chức học nghề:

Tổ chức học nghề là những công tác liên quan đến học sinh tại nhà

trƣờng, bao gồm tổ chức phổ biến đầy đủ quy chế, chƣơng trình học, quyền

và nghĩa vụ của học sinh, việc phân lớp, quản lý học sinh trong cả một khoá

đào tạo.

1.1.3.5. Hoạt động kiểm tra, đánh giá kết quả học tập nghề

Đánh giá kết quả học tập là q trình thu thập thơng tin, phân tích và xử

lý thơng tin, giải thích thực trạng việc đạt mục tiêu giáo dục, tìm hiểu nguyên

nhân, ra những quyết định cải cách và giúp cho việc học tập ngày càng tiến

bộ. Theo quan điểm phát triển năng lực, việc đánh giá kết quả học tập không

lấy việc kiểm tra khả năng tái hiện kiến thức đã học làm trung tâm của việc

đánh giá. Đánh giá kết quả học tập theo năng lực cần chú trọng khả năng vận

dụng sáng tạo tri thức trong những tình huống ứng dụng khác nhau. Đánh giá

kết quả học tập đối với các môn học và hoạt động giáo dục ở mỗi lớp và sau

cấp học là biện pháp chủ yếu nhằm xác định mức độ thực hiện mục tiêu dạy

học, có vai trò quan trọng trong việc cải thiện kết quả học tập của HS. Hay

nói cách khác, đánh giá theo năng lực là đánh giá kiến thức, kỹ năng và thái

độ trong bối cảnh có ý nghĩa (Leen pil, 2011).

Đánh giá kết quả giáo dục các môn học, hoạt động đào tạo nghề phải dựa

vào dựa vào chuẩn kiến thức, kĩ năng (theo định hƣớng tiếp cận năng lực) từng

môn học, hoạt động giáo dục từng môn, từng lớp; yêu cầu cơ bản cần đạt về

kiến thức, kĩ năng, thái độ của học sinh. Phối hợp giữa đánh giá thƣờng xuyên



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TỔ CHỨC ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×