Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Thực tế khảo sát, nhóm tác giả nhận thấy nghề nhiệp của gia đình sinh viên có ảnh hưởng rất lớn đến nhu cầu vay vốn ưu đãi từ sinh viên.

Thực tế khảo sát, nhóm tác giả nhận thấy nghề nhiệp của gia đình sinh viên có ảnh hưởng rất lớn đến nhu cầu vay vốn ưu đãi từ sinh viên.

Tải bản đầy đủ - 0trang

người dân. Do vậy, để sinh viên đảm bảo chi phí sinh hoạt và học tập

phải sử dụng nguồn vốn ưu đãi từ ngân hàng Chính sách xã hội.

Từ bảng số liệu, cho thấy phần lớn sinh viên đi học nguồn tài

chính phục vụ cho sinh hoạt và học tập từ gia đình. Nhưng bên cạnh đó

còn 6.5% sinh viên chi phí phục vụ cho sinh hoạt và học tập dựa vào

nguồn vốn vay từ ngân hàng chính sách xã hội. Điều đó chứng minh,

nguồn vốn vay từ ngân hàng chính sách xã hội có tác động lớn đến cơ

hội học tập của sinh viên. Nhờ nguồn vốn này nhiều sinh viên có điều

kiện để học tập.

Thực tế khảo sát cho thấy, nhiều sinh viên có nhu cầu vay vốn từ

ngân hàng Chính sách xã hội nhưng lại khơng đủ điều kiện được vay. Có

64,5 % [Bảng 6, phụ lục A] sinh viên có nhu cầu vay vốn nhưng thực tế

có 185 sinh viên (chiếm 8,2%) sinh viên trên tổng 2250 sinh viên được

vay vốn ưu đãi từ ngân hàng chính sách xã hội [Bảng 2, phục lục B]. Điều

đó chứng minh, nhiều sinh viên còn gặp khó khăn về tài chính muốn vay

vốn phục vụ cho sinh hoạt và học tập. Từ kết quả khảo sát cho thấy, Nhà

nước cần mở rộng đối tượng vay nguồn vốn ưu đãi từ ngân hàng Chính

sách xã hội đáp ứng nhu cầu sinh hoạt và học tập của sinh viên tốt hơn.

Thực tế cho thấy trên tổng số 2250 sinh viên năm học 2016-2017

[Bảng 4, phục lục B] trường đại học Tài chính - Quản trị kinh doanh, thì

có 185 (chiếm 10,5%) sinh viên vay vốn từ ngân hàng chính sách xã hội.

Nếu khơng có nguồn vốn vay ưu đãi từ ngân hàng Chính sách xã hội thì

10,5% sinh viên có nguy cơ thiếu thốn trong sinh hoạt và học tập, thậm

chí có những em phải nghỉ học giữa chừng bởi khơng đủ kinh phí tiếp

tục học tập.

Từ bảng số liệu cho thấy, sinh viên năm 1 khi bước chân vào giảng

đường đại học nhiều em đã vay vốn ưu đãi từ ngân hàng chính sách xã

hội để phục vụ cho học tập và sinh hoạt chiếm 14,6% (năm học 2016



-2017). Nhưng chủ yếu sinh viên năm 2, năm 3 có nhu cầu vay vốn

nhiều nhất.

2.2.2. Mục đích vay vốn ưu đãi từ ngân hàng Chính sách xã hội

của sinh viên

Số tiền để sinh hoạt và phục vụ cho học đại học là con số khơng

nhỏ. Bởi vậy, khơng phải gia đình nào cũng có đủ điều kiện kinh tế cho

con mình học đại học. Nhiều sinh viên chi phí sinh hoạt và học tập phụ

thuộc chủ yếu vào nguồn vốn vay ưu đãi từ ngân hàng chính sách xã hội.

Do vậy, có sinh viên trong suốt 4 năm học đại học chi phí sinh hoạt và

học tập chủ yếu từ nguồn vốn vay ngân hàng Chính sách xã hội (chiếm

10,3%)[Bảng 8, phục lục A]. Phần lớn sinh viên vay từ 3 đến 4 lần tương

ứng trong thời gian gần 2 năm học, như vậy nguồn vốn vay ngân hàng

chính sách xã hội tác động rất lớn đến cơ hội học tập của sinh viên.

Phần lớn sinh viên sinh viên vay vốn ưu đãi của ngân hàng Chính

sách xã hội nhằm phục vụ học tập của bản thân (chiếm 87,9%). Chứng

tỏ nguồn vốn ưu đãi sinh viên của nhà nước đã được sử dụng đúng mục

đích, đem lại hiệu quả cao. Bên cạnh đó, vẫn còn phần ít sinh viên lợi

dụng nguồn vốn ngân hàng chính sách xã hội với mức lãi suất thấp gửi

ngân hàng Thương mại hưởng chênh lệch lãi suất (chiếm 0,5%).

2.2.3. Số tiền sinh viên mong muốn được vay vốn từ ngân hàng

Chính sách xã hội

Từ số liệu khảo sát cho thấy, chi phí sinh hoạt và học tập của sinh

viên trường đại học Tài chính - Quản trị kinh doanh là từ 1.500.000 đến

2.000.000 đồng/tháng chiếm 48,8%[Bảng 10, phụ lục A]. Đặc điểm

trường đóng trên địa bàn tỉnh Hưng Yên do vậy phí sinh hoạt rẻ hơn so

với trường nội thành Hà Nội, góp phần giảm chi phí sinh hoạt và học

tập, đặc biệt là sinh viên hồn cảnh khó khăn. Bên cạnh đó, nhiều sinh

viên để đảm bảo mức sinh hoạt và học tập giao động từ 2.000.000 đến

2.500.000 đồng/tháng vẫn chiếm tỷ lệ khá cao (22,2%) [Bảng 10, phụ



lục A]. Trong khi đó mức cho vay của ngân hàng chính sách xã hội hiện

nay là 1.100.000 đồng/tháng là thấp so với nhu cầu thực tế của sinh viên

[10, tr.36-38]. Vì vậy, Nhà nước cần có chính sách nâng khoản tiền cho

vay đảm nhu cầu sinh hoạt và học tập tối thiểu cho sinh viên.

Thực tế khảo sát, đảm bảo chi phí sinh hoạt và học tập của sinh

viên cần khoản tiền giao động từ 1.500.000 đến 2.000.000 đồng/tháng

(chiếm 48,8% bảng 2.7) nhưng nhu cầu vay vốn từ ngân hàng chính sách

xã hội lại có xu hướng tăng. Mặc dù phần lớn sinh viên muốn vay vốn ở

mức trên 1.500.000 đến 2.000.000 đồng/tháng (chiếm 49,0%), sinh viên

muốn vay ở mức trên 2.000.000 đến 3.000.000 đồng/tháng vẫn chiếm tỷ

lệ cao chiếm 23,1%. Trong khi đó thực tế khảo sát nhu cầu chi phí sinh

hoạt và học tập trong 1 tháng của sinh viên chiếm 22,2% (bảng 2.7, Phụ

lục A) tăng 0,9%.

Điều đó chứng minh, mức tiền cho vay của ngân hàng chính sách

xã hội hiện nay thấp rất nhiều so với nhu cầu thực tế của sinh viên. Vậy

u cầu Nhà nước phải có nhiều chính sách để đảm bảo nhu cầu sinh

hoạt và học tập tối thiểu của sinh viên.

Trong quá trình vay vốn ưu đãi từ ngân hàng chính sách xã hội,

sinh viên vẫn gặp nhiều khó khăn. Trong đó, khó khăn lớn nhất là nhiều

thủ tục, thời gian giải ngân dài chiếm 43,5%. Sinh viên muốn được vay

vốn trước tiên phải thuộc đối tượng chính sách xã hội. Sau đó, sinh viên

xin giấy xác nhận của trường đang theo học. Nộp đơn xin vay vốn lên

xã, đợi duyệt đơn và giải ngân.... Như vậy, để được vay vốn từ ngân

hàng chính sách xã hội sinh viên phải chờ 1 tháng.

Bên cạnh đó, sinh viên còn gặp khó khăn từ thái độ phục vụ của

cán bộ ngân hàng chính sách xã hội. Do thủ tục nhiều chưa nắm được,

trong khi thái độ phục vụ chưa nhiệt tình sinh viên phải ra ngân hàng

nhiều lần mới được vay vốn.



2.2.4. Tác động của nguồn vốn vay từ ngân hàng Chính sách xã

hội đến sinh viên

Kết quả khảo sát cho thấy, tín dụng sinh viên có tác động rất hiệu

quả đến kết quả học tập của sinh viên chiếm 60,4%. Do xuất thân từ

những hồn cảnh khó khăn, nên khi được vay tín dụng phục vụ cho học

tập đã trở thành động lực để sinh viên vươn lên trong học tập, xây dựng

một tươi lai tươi sáng hơn.

Với kết quả trên, chứng minh tín dụng sinh viên là chương trình

vừa mang tính nhân văn cao cả vừa thực hiện vì mục tiêu phát triển kinh

tế, tạo ra nguồn lao động chất lượng cao trong q trình cơng nghiệp

hóa, hiện đại hóa đất nước.

Thực tế khảo sát, những sinh viên vay vốn từ ngân hàng chính

sách xã hội phần lớn đều có kết quả học tập khá trở lên, chiếm đến

50,4%. Điều này chứng minh, nguồn vốn vay từ ngân hàng chính sách

xã hội có vai trò to lớn, kích lệ tinh thần học tập sinh viên. Bên cạnh đó,

cũng còn một bộ phận vẫn chưa đạt kết quả cao trong học tập.

Nhiều sinh viên vay vốn từ ngân chính sách xã hội đều ý thức

được trách nhiệm trả nợ của bản thân. Họ đều mong muốn sau khi ra

trường nhanh chóng tìm kiếm việc làm, có thu nhập ổn định để tự trả nợ

chiếm 78.9%. Trong khi đó, vẫn có tình trạng sinh viên có kế hoạch, sau

khi ra trường xin hỗ trợ từ gia đình để trả nợ chiếm 12,3%. Điều này

chứng tỏ, sinh viên chưa tự tin vào bản thân mình sau khi ra trường

trong thời gian 5 năm có thể trả được khoản nợ vay từ nguồn vốn ngân

hàng chính sách xã hội. Đồng thời, nó cũng nói lên thực trạng thất

nghiệp trong xã hội hiện nay đang ảnh hưởng đến nhận thức của sinh

viên về kế hoạch trả nợ, dẫn đến tình trạng, một bộ phận nhỏ sinh viên

có kế hoạch đi vay nợ để trả nợ tín dụng sinh viên chiếm 8,8%. Như vậy,



hiện nay sinh viên sau khi ra trường để trả được nguồn nợ vay từ ngân

hàng chính sách là một thách thức rất lớn.

Nhiều sinh viên đã nhận thức tốt trách nhiệm trả nợ của bản thân

mình đối với tín dụng sinh viên chiếm 87.5%. Từ đó, chứng minh khả

năng thu hồi nợ tín dụng sinh viên đúng hạn có khả năng cao. Đồng thời,

chứng minh công tác tuyên truyền ý nghĩa về tín dụng sinh viên trong xã

hội đạt được nhiều thành tựu lớn về nâng cao nhận thức của nhân dân.

Tuy nhiên, vẫn còn những sinh viên có tư tưởng ỷ lại, trơng chờ

vào gia đình. Mặc dù, khoản nợ vay từ ngân hàng chính sách xã hội vay

cho sinh viên phục vụ học tập nhưng đối tượng trả nợ lại là gia đình

chiếm 12.5 %. Do vậy, cần nâng cao tuyên truyền hơn nữa về ý thức và

trách nhiệm trả nợ đối với sinh viên.

Có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến việc tiếp cận đến tín dụng của

sinh viên. Trong đó thái độ nhân viên ngân hàng cũng ảnh hưởng đến

tiếp cận tín dụng sinh viên chiếm 26,9%. Nhiều sinh viên, do chưa nắm

được thủ tục vay tín dụng khi gặp nhân viên ngân hàng khơng nhiệt tình

thì rất dễ có tâm lý khơng vay vốn do quá nhiều thủ tục.

Phần lớn, sinh viên đánh giá thái độ của nhân viên ngân hàng

không ảnh hưởng đến việc tiếp cận vốn chiếm 73,1%.

Khi khảo sát thực tế sinh viên, nhóm tác giả nhận thấy thủ tục tín

dụng sinh viên nhiều khâu, nhiều quy trình do vậy mức độ đánh giá

khơng hài lòng chiếm 42%. Thời hạn giải ngân vẫn dài, mức độ đánh

giá khơng hài lòng chiếm 34,7%. Đồng thời, cơng tác bình xét gia đình

thuộc đối tượng chính sách xã hội như gia đình nghèo, cận nghèo chưa

thực sự minh bạch, khách quan. Do đó, mức độ đánh giá khơng hài lòng



chiếm 50%. Muốn làm tốt tín dụng sinh viên cần phải thực hiện tốt tất

cả các khâu để tạo hiệu quả nguồn vốn vay.

2.4. Đánh giá tác động của nguồn vốn vay từ ngân hàng chính

sách xã hội đến sinh viên trường đại học Tài chính - Quản trị kinh

doanh

Trong những năm qua, tỷ lệ sinh viên trường Đại học Tài chính

-Quản trị kinh doanh vay vốn từ ngân hàng chính sách xã hội khơng

ngừng tăng lên.

2.4.1.Những tác động tích cực và nguyên nhân

2.4.1.1. Tác động tích cực

Thứ nhất, kết quả học tập của sinh viên thuộc đối tượng chính

sách xã hội được nâng lên

Từ vay vốn ngân hàng Chính sách xã hội phục vụ cho nhu cầu học

tập của sinh viên, kết quả học tập của sinh viên có xu hướng tăng lên.

Nhiều sinh viên đã sử dụng hiệu quả nguồn vốn vay phục vụ cho học

tập của bản thân. Góp phần thực hiện tốt mục tiêu đề ra của chương

trình tín dụng sinh viên.

Thứ hai, tạo cơ hội học tập của sinh viên

Nhiều sinh viên gia đình khó khăn về kinh tế, khơng đảm bảo

được điều kiện học tập. Nhưng khi được vay vốn từ tín dụng sinh viên

đã góp phần trang trải chi phí học tập, tạo cơ hội cho sinh viên được tiếp

tục học tập. Nhiều sinh viên vay suốt 4 năm học đại học chiếm 10,3%

(Bảng 8, phục lục A), do vậy chúng ta thấy được vai trò to lớn của

nguồn vốn ưu đãi từ ngân hàng chính sách xã hội. Nếu khơng có nguồn

vốn ưu đãi từ ngân hàng Chính sách xã hội điều kiện sống và học tập

của sinh viên khơng được đảm bảo, thậm chí có nguy cơ bỏ học



Thứ ba, chương trình đã góp phần nâng cao nhận thức của sinh

viên, giảm đáng kể các tệ nạn xã hội.

Từ ý nghĩa nhân văn của chương trình tín dụng sinh viên đã góp

phần bình đẳng trong cơ hội học tập của mọi người dân. Đồng thời, thể

hiện tính nhân văn cao cả của chế độ xã hội chủ nghĩa, từ đó sinh viên

càng tin tưởng vào chế độ xã hội mà chúng ta đang xây dựng. Nó tạo

nên nhiệt huyết, phấn đấu xây dựng mơ hình xã hội chủ nghĩa.

Đồng thời, góp phần giảm các tệ nạn xã hội ở sinh viên. Do nhận

thức được ý nghĩa nhân văn chương trình tín dụng, sinh viên khơng

ngừng phấn đấu học tập tốt để xây dựng tươi lai tươi sáng cho bản thân

và xã hội.

Thứ tư, tạo động lực tìm kiếm việc làm sau khi ra trường của sinh

viên

Sinh viên vay vốn từ ngân hàng chính sách xã hội là sinh viên gặp

khó khăn về kinh tế. Muốn trang trải chi phí học tập 185 sinh viên

(Bảng 2.4) đã vay vốn từ ngân hàng chính sách xã hội. Điều đó chứng tỏ

bố mẹ khơng đủ khả năng chi trả chi phí học tập và sinh hoạt cho sinh

viên. Do vậy, khả năng gia đình trả nợ nguồn vốn vay từ ngân hàng

Chính sách xã hội thấp. Chính vì vậy, sinh viên sau khi ra trường bị áp

lực trả nợ vốn vay ưu đãi. Nó tạo thành động lực tìm kiếm việc làm của

sinh viên.

2.4.1.2. Nguyên nhân của thành tựu

Thứ nhất, ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam thực hiện tốt

cơng tác tun truyền chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước đến

nhân dân. Công tác tuyên truyền chủ trương, quan điểm, chính sách của

Đảng và Nhà nước tạo điều kiện sinh viên tiếp cận tín dụng sinh viên.



Do đó, tỷ lệ lớn sinh viên vay vốn đã nhận thức đúng và đầy đủ về

chương trình cho vay sinh viên của ngân hàng Chính sách xã hội.

Thứ hai, ngân hàng Chính sách xã hội đã thực hiện tốt cơng tác tổ

chức và quản lý các khoản vay của sinh viên

Việc xã hội hóa chương trình tín dụng đối với sinh viên đã tạo ra

sự minh bạch trong thực hiện chính sách, giảm thiểu được rủi ro, phát

huy được vai trò trách nhiệm của xã hội, gia đình và sinh viên trực tiếp

sử dụng vốn vay. Vì vậy, sinh viên vay vốn có ý thức trách nhiệm hơn

trong tiết kiệm, tìm kiếm việc làm ngay khi ra trường để trả nợ.

Ngân hàng Chính sách xã hội đã coi trọng cơng tác kiểm tra, giám

sát kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc, bất cập nên hoạt động

cho vay đã nhanh chóng đi vào nề nếp, nguồn vốn ưu đãi của Chính phủ

đã được truyền tải đến đúng đối tượng thụ hưởng.

Thứ ba, chính sách giảm lãi tiền vay đối với người trả nợ trước

hạn đã tạo ý thức tự nguyện, động lực kích thích trả nợ của người vay.

Chính sách này đã có tác động tích cực lên ý thức trả nợ của sinh viên

vay vốn, khi sinh viên vay vốn có tiền là nghĩ ngay đến việc trả nợ,

nhiều sinh viên đã chủ động và tự nguyện trả nợ trước hạn để được

hưởng chính sách giảm lãi suất tiền vay. Việc trả nợ trước hạn cũng góp

phần giảm gánh nặng cho snh viên khi đến hạn trả nợ cuối cùng, đồng

thời ngân hàng có nguồn vốn bổ sung cho vay quay vòng.

2.4.2. Hạn chế và nguyên nhân

2.4.2.1. Hạn chế

Mặc dù chương trình cho sinh viên vay của ngân hàng Chính sách

xã hội đã có những tác động tích cực đến sinh viên trường đại học Tài

chính -Quản trị kinh doanh. Tuy nhiên nó vẫn còn tồn tại hạn chế.



Thứ nhất, vẫn còn tình trạng sinh viên trường đại học Tài chính

-Quản trị kinh doanh vay vốn ưu đãi khơng nhằm mục đích trang trải chi

phí sinh hoạt và học tập mà nhằm vào các mục đích khác như kinh

doanh chiếm 11%, gửi ngân hàng để hưởng chênh lệch lãi suất 0,5%,

mục đích khác 0,6% (Bảng 2.6).

Thứ hai, sinh viên vay vốn ưu đãi phục vụ cho học tập nhưng số

tiền được vay thấp hơn so với chi phí thực tế để trang trải cho sinh hoạt

và học tập. Nhiều sinh viên phải đi làm thêm để đủ trang trải chi phí

sinh hoạt và học tập, làm ảnh hưởng đến kết quả học tập. Do vậy, hiệu

quả của tín dụng sinh viên đến kết quả học tập của sinh viên chưa cao.

Thứ ba, do tâm lý áp lực trả nợ sau khi ra trường. Để đảm bảo chi

phí sinh hoạt và trả nợ nhiều sinh viên làm trái nghề được đào tạo, thậm

chí bị cám dỗ của xã hội. Do đó, cần có chính sách trả nợ phù hợp đối

với sinh viên mỗi vùng nông thôn, thành thị, rừng núi khác nhau.

2.4.2.2. Nguyên nhân của hạn chế

Thứ nhất, ngân hàng Chính sách xã hội chưa thực sự chủ động

được nguồn vốn cho vay, mà chủ yếu phụ thuộc vào ngân sách nhà

nước. Do đó, khơng đáp ứng được đầy đủ, kịp thời nhu cầu vay vốn của

sinh viên. Dẫn tới phân kỳ trả nợ, thời gian gia hạn nợ chưa phù hợp.

Thứ hai, vẫn còn một tỷ lệ nhỏ sinh viên chưa nhận thức đầy đủ

về ý nghĩa chương trình cho vay sinh viên của ngân hàng chính sách xã

hội. Do đó ý sử dụng mục đích nguồn vốn vay chưa phù hợp dẫn đến

không hiệu quả.

Thứ ba, cơ chế lãi suất cho vay sinh viên chưa phù hợp với thực

tế. Ngân hàng Chính sách xã hội đang áp dụng mức lãi suất đồng hạng

cho tất cả các kỳ đối với sinh viên vay vốn. Chính sách này khơng đảm

bảo cơng bằng trong việc thụ hưởng chính sách ưu đãi giữa sinh viên.



Thực tế khảo sát thực trạng vay vốn sinh viên ở trường Đại học

Tài chính - Quản trị kinh doanh cho thấy, tỷ lệ sinh viên vay vốn có xu

hướng tăng lên. Phần lớn sinh viên vay vốn đều có bố mẹ làm nơng

nghiệp, thuộc đối tượng gia đình khó khăn. Do vậy, đối với sinh viên

nguồn tín dụng ưu đãi từ ngân hàng chính sách xã hội có tác động lớn

đến cơ hội học tập của sinh viên.

Mặc dù nguồn tín dụng sinh viên có tác động rất lớn đến sinh

viên. Tuy nhiên thực tế cho thấy, mức vốn ngân hàng chính sách xã hội

cho vay hiện nay khơng đủ trang trải chi phí sinh hoạt và học tập của

sinh viên.

Khảo sát cho thấy, sinh viên vay vốn tín dụng sau khi ra trường

đều mong muốn nhanh chóng đi làm để tạo ra thu nhập ni sống bản

thân và trả nợ. Từ đó, chứng minh phần lớn sinh viên đã nhận thức rất rõ

về trách nhiệm trả nợ của mình đối với tín dụng sinh viên. Tuy nhiên,

bên cạnh đó vẫn có sinh viên chưa nhận thức rõ trách nhiệm trả nợ của

bản thân.

Nguồn tín dụng sinh viên có tác động tích cực đến sinh viên tuy

nhiên nó vẫn còn tồn tại hạn chế trong quy trình cho vay, đối tượng cho

vay, mức tiền cho vay.... vậy nên trong thời gian tới Nhà nước cần phải

khắc phục những hạn chế tín dụng sinh viên, để chương trình có thể

“chắp cánh ước mơ giảng đường” của sinh viên. Sao cho, những sinh

viên có hồn cảnh khó khăn, ai cũng được vay vốn ưu đãi từ ngân hàng

chính sách xã hội để đảm bảo nhu cầu học tập và sinh hoạt của bản thân.



Chương 3. PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP ĐỂ SINH VIÊN

TIẾP CẬN VỚI NGUỒN VỐN VAY TỪ NGÂN HÀNG CHÍNH

SÁCH XÃ HỘI

3.1. Phương hướng

Để chương trình cho vay sinh viên phát triển ổn định, bền vững và

hiệu quả ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam cần phải đề ra một số

định hướng hoạt động cho chương trình trong giai đoạn sắp tới

Cần tiếp tục nghiên cứu, đúc rút kinh nghiệm từ thực tế triển khai

chương trình để từng bước kiến nghị Chính phủ sửa đổi Quyết định

157/2005/QĐ-TTg nhằm hồn thiện hơn chính sách cho vay sinh viên.

Đảm bảo an tồn tài chính cho chương trình, đảm bảo việc triển khai

chương trình ổn định và liên tục. Đồng thời, lồng ghép có hiệu quả



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Thực tế khảo sát, nhóm tác giả nhận thấy nghề nhiệp của gia đình sinh viên có ảnh hưởng rất lớn đến nhu cầu vay vốn ưu đãi từ sinh viên.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×