Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Đối với sinh viên từ năm thứ hai trở đi phải có xác nhận của nhà trường về việc đang theo học tại trường và không bị xử phạt hành chính trở lên về các hành vi: cờ bạc, nghiện hút, trộm cắp, buôn lậu.

Đối với sinh viên từ năm thứ hai trở đi phải có xác nhận của nhà trường về việc đang theo học tại trường và không bị xử phạt hành chính trở lên về các hành vi: cờ bạc, nghiện hút, trộm cắp, buôn lậu.

Tải bản đầy đủ - 0trang

Ngay từ khi Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 157/2007

về tín dụng đối với sinh viên đến khi đưa vào thực tiễn đã đạt được nhiều

thành tựu to lớn. Chính sách tín dụng đối với sinh viên là một chính sách

có ý nghĩa cả về kinh tế, chính trị và xã hội, phù hợp với nguyện vọng

của nhân dân. Chương trình có tính xã hội hóa cao, tạo sự bình đẳng

trong giáo dục, góp phần tạo nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế, xã

hội của đất nước.

Sinh viên đi học hàng năm phải chi trả khoản tiền lớn cho chi phí

học tập và sinh sống. Do vậy, khơng phải gia đình nào cũng đủ điều kiện

cho con em mình đi học, nhất là những gia đình chính sách. Đối với họ

đây là một khó khăn lớn, nhiều sinh viên gặp khó khăn về tài chính nên

có nguy cơ phải ngừng học. Do đó, nguồn vốn vay từ ngân hàng chính

sách xã hội đối với sinh viên có tác động rất lớn. Nó được thể hiện:

Tác động đến đời sống vật chất của sinh viên.

Nhiều sinh viên gia đình khó khăn về tài chính do đó khơng đảm

bảo được điều kiện học tập. Đối với các em nguồn vốn vay ưu đãi từ

ngân hàng Chính sách xã hội góp phần đảm bảo chi phí sinh hoạt bản

thân. Thậm chí có những sinh viên đang theo học đại học, cao đẳng

nhưng điều kiện kinh tế khó khăn khơng thể tiếp tục học tập được. Vậy

nên nguồn vốn vay từ ngân hàng chính sách xã hội đã tạo điều kiện cho

các em có thể tiếp tục thực hiện ước mơ giảng đường.

Tác động đến điều kiện và kết quả học tập của sinh viên.

Nguồn vốn của chính phủ thơng qua ngân hàng chính sách xã hội

đã làm cho điều kiện học tập của sinh viên thay đổi theo hướng tích cực.

Nếu khơng có nguồn vốn đó thì việc mua sách tham khảo, dụng cụ hoặc



các dịch vụ học tập của sinh viên sẽ rất hạn chế. Do đó, khi có nguồn

vốn vay từ ngân hàng chính sách xã hội sinh viên có điều kiện mua sắm

thêm dụng cụ học tập, sử dụng đầy đủ các dịch vụ học tập như học thêm,

đi thực tế… đã tác động rất lớn đến kết quả học tập.

Tác động đến nhận thức của sinh viên

Thơng qua nguồn vốn vay từ ngân hàng chính sách xã hội đã có

tác động đến giải quyết vấn đề an sinh xã hội. Từ đó, giúp sinh viên có

cái nhìn tích cực hơn về chế độ, chính sách của nhà nước đối với sinh

viên thuộc đối tượng chính sách nói riêng và những đối tượng chính sách

xã hội nói chung. Sinh viên nhận thấy chế độ mà họ đang sống, học tập

và rèn luyện là một chế độ trọng nhân tài. Đặc biệt, sinh viên nhận thấy

chính sách của Đảng và Nhà nước đã tạo sự công bằng trong nhu cầu

học tập của mọi người dân. Từ đó,họ cảm thấy được coi trọng và phấn

đấu tích cực bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa mà Việt Nam đang xây

dựng.

Tác động đến động lực tìm kiếm việc làm của sinh viên sau khi ra

trường.

Sinh viên được vay vốn từ ngân hàng chính sách xã hội đều xuất

thân từ gia đình chính sách xã hội. Phần lớn gia đình các em gặp khó

khăn về tài chính. Do đó, nó tác động rất lớn đến nhận thức của sinh

viên. Không chỉ trong quá trình học tập mà khi các em ra trường nó cũng

tác động lớn đến động lực tìm kiếm việc làm của bản thân. Từ vay vốn

ngân hàng chính sách xã hội để phục vụ cho học tập, các em đang trở

thành “con nợ” của ngân hàng chính sách xã hội. Bởi vậy, nó thơi thúc ý

chí tìm kiếm việc làm, tạo thu nhập để tự nuôi sống bản thân cũng như



trả nợ. Nhất là khi thời hạn 12 tháng sau khi ra trường phải trả khoản nợ

vay từ ngân hàng chính sách xã hội càng khiến sinh viên nhanh tìm kiếm

việc làm.

Việc đầu tư của nhà nước làm cho đối tượng học đại học, cao

đẳng, trung cấp, học nghề được mở rộng, không hạn chế như những năm

trước đây khi chưa có chính sách tín dụng. Chính sách tín dụng nhà nước

đối với sinh viên được đánh giá là chính sách hiệu quả nhất trong thời

gian vừa qua. Nhờ chính sách này con em dân tộc thiểu số ở vùng cao,

vùng sâu, vùng xa, biên giới và hải đảo có điều kiện sống khó khăn về

kinh tế được theo học ở những nơi có chất lượng đào tạo cao.

1.2. Kinh nghiệm của ngân hàng chính sách xã hội khi cho sinh

vay vốn

Trong những năm qua, hiệu quả hoạt động của tín dụng sinh viên

khơng ngừng nâng cao. Hàng năm có hơn 4 triệu sinh viên vay vốn từ

ngân hàng chính sách xã hội. Số tiền cho vay tăng từ 800.000đồng/tháng

tăng lên 1.100.000 đồng/tháng góp phần đảm bảo chi phí sinh hoạt và

học tập tối thiểu của sinh viên. Thực hiện phương châm “giao dịch tại

xã, giải ngân tận hộ”, dư nợ cho vay sinh viên không ngừng tăng lên.

Khoản tín dụng này đã có mặt tất cả các xã, bản, làng. Sinh viên càng dễ

dàng tiếp cận với vốn tín dụng chính sách. Thái độ phục vụ, trình độ

chun mơn của nhân viên ngân hàng Chính sách xã hội không ngừng

nâng cao. Do vậy, thủ tục và thời gian giải ngân đã rút ngắn lại.

Tuy nhiên bên cạnh những thành tựu thì tín dụng sinh viên trong

q trình thực hiện vẫn còn hạn chế.



Thứ nhất, thủ tục để vay vốn mặc dù đã được rút ngắn lại nhưng

vẫn còn rườm rà, nhiều khâu, thời gian đợi giải ngân vẫn còn dài; mặc

dù đã nâng mức cho vay, tuy nhiên khoản tiền cho vay hiện nay vẫn còn

thấp hơn so với nhu cầu chi phí sinh hoạt và học tập thực tế của sinh

viên. Do vậy, hiệu quả của chính sách chưa thực sự cao

Thứ hai, thái độ phục vụ nhân viên ngân hàng vẫn chưa nhiệt tình,

còn một số nhắc trong thủ tục. Thậm chí còn tồn tại tình trạng “lót tiền”

cho ngân viên ngân hàng để được giải ngân nhanh.

Thứ ba, đối tượng vay là sinh viên nhưng đến khi trả nợ lại là gia

đình, do thời gian trả nợ quá ngắn. Nhiều sinh viên ra trường chưa kiếm

được việc làm, thậm chí đi làm nhưng chỉ đủ chi phí sinh hoạt nên chưa

có khả năng trả nợ. Do vậy, khi đến hạn trả nợ bố mẹ phải trả.

Khi xã hội càng phát triển, nhu cầu học tập của người dân không

ngừng tăng lên, nhưng không phải ai cũng có đủ điều kiện để đi học đại

học, cao đẳng.... Nhiều học sinh đỗ đại học nhưng gia đình khơng đủ

điều kiện theo học, thậm chí có sinh viên đang học đại học nhưng khơng

đủ kinh phí để trang trải chi phí sinh hoạt và học tập nên phải bỏ học. Từ

thực tiễn đó, Đảng và Nhà nước đã thực hiện chính sách ưu đãi tín dụng

sinh viên, nhưng khơng phải sinh viên nào cũng có thể tiếp cận với

nguồn vốn vay. Sinh viên muốn vay vốn từ ngân hàng chính sách xã hội

cần phải đủ điều kiện mới được cấp nguồn vốn. Từ nguồn vốn ưu đãi

sinh viên đã mở rộng cơ hội học tập cho sinh viên, tạo điều kiện cho sinh

viên thực hiện ước mơ, hồi bão của mình.

Nguồn tín dụng có tác động rất lớn đến sinh viên. Không chỉ tác

động đến kết quả học tập mà còn tác động đến nhận thức và cơ hội tìm



kiếm việc làm sau khi ra trường của sinh viên. Chính vì vậy, Nhà nước

cần có chính sách thực hiện hiệu quả nguồn tín dụng sinh viên, giúp

những sinh viên có hồn cảnh khó khăn nhưng khơng thuộc đối tượng

được vay có thể tiếp cận với nguồn vốn. Mục đích tín dụng sinh viên

nhằm đảm bảo an sinh xã hội, tạo điều kiện để mọi người dân đều có cơ

hội học tập, nâng cao trình độ chun mơn.



Chương 2. TÁC ĐỘNG CỦA NGUỒN VỐN VAY TỪ CHÍNH

SÁCH XÃ HỘI ĐỐI VỚI SINH VIÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI

CHÍNH - QUẢN TRỊ KINH DOANH

2.1. Đặc điểm, tình hình của sinh viên trường đại học Tài

chính – Quản trị kinh doanh

2.1.1. Giới thiệu về trường Đại học Tài chính - Quản trị kinh

doanh

Trường Đại học Tài chính - Quản trị kinh doanh được thành lập

theo Quyết định số 1320/QĐ-TTg ngày 18/9/2012 của Thủ tướng Chính

phủ trên cơ sở nâng cấp trường Cao đẳng Tài chính - Quản trị kinh

doanh trực thuộc Bộ Tài chính. Trường Đại học Tài chính - Quản trị

kinh doanh là cơ sở giáo dục đại học công lập trực thuộc Bộ Tài chính.



Về vị trí địa lý, trường đại học Tài chính - Quản trị kinh doanh

nằm trên địa bàn huyện Văn Lâm, Tỉnh Hưng Yên. Với vị trí địa lý nằm

gần thủ đơ Hà Nội, nằm trên tuyến đường QL5 nối Hà Nội - Hải Phòng

tạo điều kiện thuận lợi cho giao thông đi lại của sinh viên. Ngồi ra,

trường nằm gần với khu cơng nghiệp lớn như Phố Nối A, Tân Quang...

tạo điều kiện tìm việc làm của sinh viên sau khi tốt nghiệp.

Về quy mô của trường, tổng số sinh viên đang theo học tại trường

đến năm 2017 là 2250 sinh viên chính quy (trừ K1 đã ra trường, số liệu

tháng 5/2017). Hiện nay, nhà trường có 229 giảng viên cơ hữu phục vụ

cơng tác giảng dạy. Trong những năm gần đây, Ban giám hiệu nhà

trường khơng ngừng nâng cao trình độ chun mơn của giảng viên, cán

bộ yêu cầu 100% giảng viên đạt trình độ thạc sĩ, khuyến khích giảng

viên học nghiên cứu sinh. Trường đại học Tài chính - Quản trị kinh

doanh hiện nay đào tạo nhiều chuyên ngành khác nhau: Tài chính Ngân hàng, Kế tốn - Kiểm tốn, Quản trị kinh doanh, Hệ thống thông

tin quản lý và Thẩm định giá...

2.1.2. Đặc điểm của sinh viên trường Đại học Tài chính – Quản

trị kinh doanh

Hiện nay, tổng số sinh viên chính quy đang theo học tại trường là

2250 sinh viên, các khóa K2, K3, K4 (khóa K1 đã ra trường). Trong đó,

có 339 sinh viên học ngành tài chính, 1331 sinh viên ngành kế toán, 128

sinh viên ngành kiểm toán, 295 sinh viên ngành quản trị và 157 sinh viên

ngành ngân hàng.

Đặc thù chuyên ngành đào tạo khối ngành kinh tế nên các bạn

sinh viên của trường rất năng động, nhiệt tình tham gia cơng tác đồn,

hội. Trong tổng số sinh viên của trường thì tỷ lệ bạn nữ chiếm số đông.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Đối với sinh viên từ năm thứ hai trở đi phải có xác nhận của nhà trường về việc đang theo học tại trường và không bị xử phạt hành chính trở lên về các hành vi: cờ bạc, nghiện hút, trộm cắp, buôn lậu.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×