Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA NGUỒN VỐN VAY TỪ NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI ĐỐI VỚI SINH VIÊN

Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA NGUỒN VỐN VAY TỪ NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI ĐỐI VỚI SINH VIÊN

Tải bản đầy đủ - 0trang

nghiệp đồng thời cho các nhà đầu tư lợi ích của việc đầu tư, khuyến

khích họ tăng cường đầu tư vào mở rộng và phát triển sản xuất.

Theo David Begg, Standley Fischer, Rudige Darnbusch trong

cuốn “Kinh tế học”: “Vốn là một loại hàng hoá nhưng được sử dụng

tiếp tục vào q trình sản xuất kinh doanh tiếp theo. Có hai loại vốn là

vốn hiện vật và vốn tài chính. Vốn hiện vật là dự trữ các loại hàng hoá

đã sản xuất ra các hàng hoá và dịch vụ khác. Vốn tài chính là tiền mặt,

tiền gửi ngân hàng”[2,tr.56].

Một số nhà kinh tế học khác cho rằng,“Vốn là lượng của cải vật

chất khả dụng mà con người tạo ra và tích lũy. Để thực hiện đầu tư - là

hoạt động chi tiêu để làm tăng hoặc duy trì tài sản vật chất trong một

thời kỳ nhất định, cần sử dụng vốn được hình thành từ các nguồn khác

nhau”[3, tr.63].

Khái niệm vốn trong giáo trình Tài chính doanh nghiệp của

Trường Đại học Kinh tế Quốc dân thì được chia thành hai phần: Tư bản

là giá trị mang lại giá trị thặng dư. Vốn được quan tâm đến khía cạnh

giá trị nào đó của nó mà thơi. Bảng cân đối kế tốn phản ánh tình hình

tài chính của một doanh nghiệp tại một thời điểm. Vốn được nhà doanh

nghiệp dùng để đầu tư vào tài sản của mình. Nguồn vốn là những nguồn

được huy động. Tài sản thể hiện quyết định đầu tư của nhà doanh

nghiệp; còn về bảng cân đối phản ánh tổng dự trữ của bản thân doanh

nghiệp dẫn đến doanh nghiệp có dự trữ tiền để mua hàng hố và dịch vụ

rồi sản xuất và chuyển hố, dịch vụ đó thành sản phẩm cuối cùng cho

đến khi dự trữ hàng hố hoặc tiền thay đổi đó sẽ có một dòng tiền hay

hàng hố đi ra đó là hiện tượng xuất quỹ, còn khi xuất hàng hố ra thì

doanh nghiệp sẽ thu về dòng tiền (phản ánh nhập quỹ và biểu hiện cân



đối của doanh nghiệp là ngân quỹ làm cân đối dòng tiền trong doanh

nghiệp) [5, Tr.130]

Từ những quan niệm trên, nhóm tác giả đồng tình với quan niệm

về vốn của David Begg, Standley Fischer, Rudige Darnbusch trong sách

Kinh tế học: “Vốn là một loại hàng hoá nhưng được sử dụng tiếp tục

vào quá trình sản xuất kinh doanh tiếp theo. Có hai loại vốn là vốn hiện

vật và vốn tài chính. Vốn hiện vật là dự trữ các loại hàng hoá đã sản

xuất ra các hàng hoá và dịch vụ khác. Vốn tài chính là tiền mặt, tiền gửi

ngân hàng..”[2,tr.56]

Từ khái niệm này, căn cứ theo nguồn hình thành vốn thì vốn có từ

chủ sở hữu và vốn đi vay; căn cứ theo thời gian huy động thì vốn được

phân chia làm vốn thường xuyên và vốn tạm thời. Vốn là một phần thu

nhập quốc dân dưới dạng vật chất và tài sản chính được các cá nhân, tổ

chức bỏ ra để tiến hành kinh doanh nhằm mục đích tối đa hoá lợi nhuận.

- Khái niệm nguồn vốn

Sinh viên học đại học cần một số tiền lớn để chi trả chi phí sinh

hoạt và học tập của bản thân. Phần lớn sinh viên đi học dựa vào tiền của

gia đình để đảm bảo cho học tập. Tuy nhiên, một số gia đình khơng đủ

điều kiện chi trả chi phí sinh hoạt và học tập cho con em mình. Do vậy,

vẫn có sinh viên bên cạnh số tiền hàng tháng gia đình cho thì vay vốn từ

ngân hàng Chính sách xã hội để đảm bảo điều kiện học tập.

Khi nghiên cứu về nguồn vốn, các nhà kinh tế học đưa ra nhiều

quan điểm khác nhau.

Đối với ngân hàng thương mại, nguồn vốn là toàn bộ các nguồn

tiền tệ mà ngân hàng tạo lập, huy động được để vay, đầu tư và thực thi

các dịch vụ ngân hàng. Nguồn vốn của ngân hàng thương mại bao gồm:

chủ sở hữu, vốn huy động, vốn đi vay và một số vốn khác [7, tr.9].



Đối với ngân hàng Chính sách xã hội, nguồn vốn là vốn điều lệ do

ngân sách nhà nước cấp khi thành lập và được bổ sung trong quá trình

hoạt động. Ngân hàng Chính sách xã hội được bổ sung vốn điều lệ hàng

năm tương ứng với tỷ lệ tăng trưởng tín dụng được Thủ tướng Chính phủ

giao. Các quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, quỹ đầu tư phát triển nghiệp

vụ, quỹ dự phòng tài chính, quỹ dự phòng rủi ro tín dụng, quỹ khen

thưởng, quỹ phúc lợi. Vốn ngân sách nhà nước (bao gồm ngân sách

Trung ương, ngân sách địa phương) để cho vay xóa đói giảm nghèo, tạo

việc làm và thực hiện chính sách xã hội khác. Chênh lệch thu chi được

để lại chưa phân bổ cho các quỹ (nếu có). Vốn tài trợ khơng hồn lại của

các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước và vốn khác (nếu có).

Đối với sinh viên, nguồn vốn để đảm bảo chi phí sinh hoạt và học

tập phần lớn đều do gia đình cung cấp, bên cạnh đó nhiều sinh viên vay

vốn từ ngân hàng để phục vụ cho học tập.

Như vậy, nguồn vốn được hiểu là khoản tiền để đầu tư, khoản tiền

đó có thể là vốn chủ sở hữu, huy động và đi vay... đối với sinh viên học

tập cũng là một đầu tư cho tương lai, do vậy nhiều bạn sinh viên đi vay

vốn từ ngân hàng Chính sách xã hội để phục vụ cho học tập, bên cạnh

số tiền hàng tháng gia đình cung cấp.

- Khái niệm sinh viên

Khi học xong trung học phổ thông học lên đại học, cao đẳng và

tương đương, lúc này các em khơng còn là học sinh mà được gọi với tên

mới sinh viên. Vậy sinh viên là gì?

Từ “sinh viên” trong tiếng Anh được viết là “student”. Theo từ

điển Anh - Việt (2008): “Student là sinh viên; người nghiên cứu, thực

tập” [10, tr.356].

Theo từ điển tiếng Việt (2003): “Sinh viên là người đang học tập



tại trường cao đẳng, đại học được đào tạo một chuyên ngành nào đó”.

[9, tr.356]

Như vậy, sinh viên ở đây chỉ những người đang học tập, nghiên

cứu tại các trường đại học và cao đẳng.

Sau khi nghiên cứu các khái niệm của các nhà nghiên cứu trên,

chúng tôi đưa ra quan niệm sau:“Sinh viên là người học tập tại

các trường đại học, cao đẳng, được truyền đạt kiến thức bài bản về một

ngành nghề, chuẩn bị cho công việc, được trang bị chuẩn mực đạo đức,

lối sống mới, tư tưởng chính trị..., được xã hội cơng nhận qua những

bằng cấp đạt được trong q trình học”.

Sinh viên thường có lứa tuổi từ 18 đến 25 tuổi đang học tại trường

đại học và cao đẳng. Sinh viên luôn năng động, sáng tạo, không ngừng

trau dồi tri thức và tu dưỡng đạo đức. Sinh viên có những nét tâm lý

điển hình, đây là thế mạnh của họ so với các lứa tuổi khác như: tự ý

thức cao, có tình cảm nghề nghiệp, có năng lực và tình cảm trí tuệ phát

triển (khao khát đi tìm cái mới, thích tìm tòi, khám phá), có nhu cầu,

khát vọng thành đạt, nhiều mơ ước và thích trải nghiệm, dám đối mặt

với thử thách. Tuy nhiên, sinh viên bị hạn chế trong việc chọn lọc, tiếp

thu cái mới và kinh nghiệm sống. Những yếu tố tâm lý này có tác động

chi phối hoạt động học tập, rèn luyện và phấn đấu của sinh viên.

1.1.2. Tác động của nguồn vốn vay từ ngân hàng chính sách xã

hội đối với sinh viên

1.1.2.1. Khái quát về ngân hàng chính sách xã hội

Ngân hàng chính sách xã hội là một Tổ chức tín dụng Nhà nước,

là một pháp nhân, có vốn điều lệ, có con dấu, được mở tài khoản tại

ngân hàng nhà nước, kho bạc Nhà nước và các tổ chức tín dụng khác.

Ngân hàng chính sách xã hội có chức năng



Thứ nhất, tạo điều kiện để mở rộng thêm các đối tượng phục vụ là

hộ nghèo, học sinh, sinh viên có hồn cảnh khó khăn, các đối tượng

chính sách cần vay vốn để giải quyết việc làm, đi lao động có thời hạn ở

nước ngoài và các tổ chức kinh tế, cá nhân hộ sản xuất, kinh doanh

thuộc các xã đặc biệt khó khăn, miền núi, vùng sâu, vùng xa, khu vực II

và III (khu vực III là xã có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn nhất;

xã khu vực II là xã có điều kiện kinh tế - xã hội còn khó khăn nhưng đã

tạm thời ổn định)

Thứ hai, ngân hàng Chính sách xã hội được thành lập để thực hiện

chính sách tín dụng ưu đãi đối với người nghèo và các đối tượng chính

sách khác.

Hoạt động của ngân hàng chính sách xã hội khơng vì mục đích lợi

nhuận, được Nhà nước bảo đảm khả năng thanh toán, tỷ lệ dự trữ bắt

buộc bằng 0%, không phải tham gia bảo hiểm tiền gửi, được miễn thuế

và các khoản phải nộp ngân sách Nhà nước.

Ngân hàng chính sách xã hội được thực hiện các nghiệp vụ như

huy động vốn, cho vay, thanh toán, ngân quỹ và được nhận vốn uỷ thác

cho vay ưu đãi của chính quyền địa phương, các tổ chức kinh tế, chính

trị - xã hội, các hiệp hội, các hội, các tổ chức phi Chính phủ, các cá nhân

trong và ngồi nước đầu tư cho các chương trình dự án phát triển kinh tế

xã hội.

Thứ ba, ngân hàng Chính sách xã hội là một trong những cơng cụ

đòn bẩy kinh tế của Nhà nước nhằm giúp hộ nghèo, hộ cận nghèo và đối

tượng chính sách có điều kiện tiếp cận vốn tín dụng ưu đãi để phát triển

sản xuất, tạo việc làm, nâng cao thu nhập, cải thiện điều kiện sống, vươn

lên thốt nghèo, góp phần thực hiện chính sách phát triển kinh tế gắn



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ TÁC ĐỘNG CỦA NGUỒN VỐN VAY TỪ NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI ĐỐI VỚI SINH VIÊN

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×