Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
1 Các khái niệm liên quan về ngăn ngừa bạo lực học đường trong sinh viên đại học

1 Các khái niệm liên quan về ngăn ngừa bạo lực học đường trong sinh viên đại học

Tải bản đầy đủ - 0trang

Như vậy, có hai xu hướng thể hiện bản chất của khái niệm bạo lực. Thứ nhất,

quan điểm thuộc chuyên ngành chính trị học thì bạo lực là một phương thức vận

động chính trị “sức mạnh dùng để lật đổ, trấn áp”. Thứ hai, những quan điểm

cho rằng bạo lực là một hiện tượng xã hội, một phương thức hành xử trong các

mối quan hệ xã hội, là những hành động mang tính chất chiếm đoạt, làm tổn

thương đến người khác và bị pháp luật trừng phạt. Tuy nhiên, nếu chỉ hiểu một

trong hai hướng trên thì chưa thấy rõ vấn đề bạo lực. Để hiểu rõ vấn đề bạo lực

cần hiểutheo nhiều chiều hướng, góc độ khác nhau.

Theo nhóm tác giả bạo lực là tất cả các hành vi của cá nhân hay tập thể sử

dụng sức mạnh, quyền lực, hay các hành động của mình để cưỡng bức, trấn áp,

đe dọa, hành hung... dẫn tới những tổn thương tâm lý hoặc thể chất, thậm chí

trừ diệt người hay một nhóm người.

1.1.1.2. Khái niệm bạo lực học đường

Hiện nay, tình trạng bạo lực học đường khơng còn mới song khi xã hội càng

phát triển thì số vụ lại đang có xu hướng gia tăng. Khi nói đến khái niệm bạo lực

học đường nhiều nhà khoa học dưới những góc độ nghiên cứu khác nhau sẽ đưa

ra các quan điểm khác nhau:

Theo định nghĩa của trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Hoa Kỳ

thì khái niệm bạo lực học đường được hiểu: “Bạo lực học đường là một dạng

của bạo lực ở những thanh thiếu niên và việc sử dụng có mục đích vũ lực hay

quyền lực, chống lại người khác, nhóm khác và cộng đồng, và hành động có xu

hướng gây ra tổn thương xuất hiện ở lứa tuổi từ 10 đến 24, tuy vậy nó có thế bắt

nguồn từ những năm đầu đời” [3, tr.15].

Tác giả Nguyễn Thị Hoa đã đưa ra quan điểm bạo lực học đường như sau:

“Bạo lực học đường được hiểu một cách rộng rãi là mọi điều kiện hoặc hành

động có thể tạo ra bầu khơng khí trong đó học sinh và giáo viên cảm thấy sợ hãi

hoặc có nguy cơ trở thành nạn nhân của sự cướp giật, xâm phạm thân thể, tinh

thần” [2, tr.20]



9



Theo các tác giả Đỗ Thị Châu (2000): “Bạo lực học đường được coi là một

cấu trúc đa chiều bao gồm cả những hành động phạm tội và gây hấn ở trường

học, làm hạn chế sự phát triển và học tập, cũng như gây hại môi trường học tập.

Bạo lực học đường là một cấu trúc đa chiều, khơng có sự tun bố chắc chắn

nào về những chiều hướng cụ thể của nó. Người ta đã từng cho rằng bạo lực học

đường bao gồm sự gây hấn ra bạo lực, bắt nạt, hanh vi chống đối xã hội, hành vi

phạm tội, và kỷ luật ở trường học và những yếu tố khác” [3, tr.24]

Từ góc độ khoa học giáo dục, khái niệm bạo lực học đường được Bùi Thị

Hồng đưa ra như sau: “Bạo lực học đường là những hành vi sai lệch vừa có tính

thụ động của học sinh lứa tuổi học đường. Nó bao gồm một loạt các hành vi bạo

lực giữa giáo viên với học sinh và ngược lại, giữa học sinh với nhau gây tổn hại

nghiêm trọng tới tính mạng, danh dự và nhân phẩm của người bị hại” [1, tr.18].

Từ góc độ tâm lý học PhanThị Mai Hương cho rằng: “Bạo lực học đường là

thuật ngữ để chỉ những hành vi bạo lực trong môi trường học đường, hoặc

những hành vi của lứa tuổi học đường. Bao gồm trong thuật ngữ này là hàng loạt

các hành vi bạo lực với các mức độ khác nhau từ khơng lời, đến có lời, từ hành

động đơn giản đến những hành động thù địch, gây hấn, phá phách, gây tổn

thương thậm chí tổn hại đến người khác” [4, tr.30]

Nghiên cứu về bạo lực học đường tác giả Nguyễn Văn Lượt (2014) cho

rằng: “Bạo lực học đường là một hành vi lệch chuẩn của học sinh” [2, tr.19].

Hành vi lệch chuẩn của học sinh như đánh nhau, chửi, mắng, xúc phạm nhân

phẩm của người khác... đều bị xã hội lên án. Lứa tuổi học sinh nhận thức chưa

đầy đủ, suy nghĩ yếu kém do vậy những hành vi lệch chuẩn cần phải giáo dục,

uốn nắn, định hình nhân cách cho các em học sinh.

Từ tìm hiểu quan điểm của nhiều nhà nghiên cứu, nhóm tác giả nêu lên quan

điểm về bạo lực học đường: “Bạo lực học đường là những hành vi gây hậu quả

nghiêm trọng đến sức khỏe thể chất và sức khỏe tinh thần của người khác, xảy

ra trong phạm vi nhà trường”.

Từ khái niệm trên, nhận thấy những hành động gây hậu quả nghiêm trọng

10



đến sức khỏe thể chất và tinh thần của người khác như: chửi mắng, đánh... đều

là hành vi của bạo lực học đường.

Bạo lực học đường được giới hạn trong nhà trường, nếu những hành vi này

xảy ra ngồi trường học thì đó khơng phải là bạo lực học đường trong sinh viên.

Cấu trúc tâm lý của hành vi bạo lực học đường gồm nhận thức, thái độ và hành

động.

Khi nghiên cứu về khái niệm bạo lực học đường cần chú ý những điểm sau:

Thứ nhất, bạo lực học đường là những hành vi xâm phạm có chủ ý, có ý đồ,

thường gây hậu quả nghiêm trọng đến sức khỏe, nhân phẩm, danh dự cho những

người bị hại.

Thứ hai, hành vi bạo lực học đường làm tổn thương về mặt tinh thần và thể

chất đều mang tính cố ý cao (có chủ đích). Hành vi bạo lực học đường gây hậu

quả về mặt thể chất thường được bắt nguồn từ sự học hỏi, bắt chước những hành

vi bạo lực của người lớn, trong phim ảnh, trong game bạo lực.... Hành vi bạo lực

học đường gây hậu quả về mặt tinh thần thường mang tính cố ý cao, nhưng cá

nhân ý thức về hành vi này kém. Sự tổn thương về mặt tinh thần khơng dễ nhìn

thấy song hậu quả để lại rất sâu sắc đối với nạn nhân, đặc biệt là những tổn

thương về mặt tâm lý.

Thứ ba, những hành vi bạo lực xảy ra trong phạm vi nhà trường. Bạo lực của

thầy cô giáo đối với học sinh, bạo lực giữa học sinh với nhau, bạo lực của những

nhà quản lý giáo dục với học sinh và bạo lực của các học sinh đối với thầy cô

giáo và các nhà quản lý giáo dục.

Những đặc điểm biểu hiện của hành vi bạo lực học đã nói lên mức độ

nghiêm trọng của hành vi này. Bạo lực học đường để lại hậu quả nặng nề đến

tâm lý của người đi bạo lực và người bị bạo lực. Trong xã hội hiện nay, nhiều

sinh viên có xu hướng bạo lực, trầm cảm... đã gây ra hậu quả đáng tiếc cho xã

hội như đánh nhau, liên quan đến pháp luật.



11



1.1.2. Khái niệm ngăn ngừa bạo lực học đường trong sinh viên

1.1.2.1. Khái niệm sinh viên

Khi học xong trung học phổ thông học lên đại học và cao đẳng, lúc này các

em khơng còn là học sinh mà được gọi với tên mới sinh viên. Vậy sinh viên là gì?

Theo từ điển tiếng Việt (2003): “Sinh viên là người đang học tập tại trường

cao đẳng, đại học được đào tạo một chuyên ngành nào đó”. [10, tr356]

Từ “sinh viên” trong tiếng Anh được viết là “student”. Theo từ điển AnhViệt (2007): “ Student là sinh viên; người nghiên cứu, thực tập” [9, tr 356]. Như

vậy, sinh viên ở đây chỉ những người đang học tập, nghiên cứu tại các trường

đại học và cao đẳng.

Sau khi nghiên cứu các khái niệm của các tác giả trên chúng tôi đưa ra quan

điểm sau:“Sinh viên là người học tập tại các trường đại học, cao đẳng. Tại

trường học sinh viên được truyền đạt kiến thức bài bản về một ngành nghề,

chuẩn bị cho công việc sau này của họ. Họ được xã hội công nhận qua những

bằng cấp đạt được trong quá trình học”.

Nhắc đến sinh viên là nhắc đến lứa tuổi từ 18 đến 25 tuổi đang học tại

trường đại học và cao đẳng. Sinh viên là lứa tuổi năng động, sáng tạo, không

ngừng trau dồi tri thức và tu dưỡng đạo đức. Lứa tuổi sinh viên mặc dù đã lớn

tuy nhiên trong nhận thức vẫn còn hạn chế.

Sinh viên là người có tri thức, đóng vai trò quan trọng trong q trình xây

dựng và phát triển đất nước. Trong quá trình xây dựng phát triển đất nước, đội

ngũ sinh viên là người tiên phong trong các cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật

bởi họ dám nghĩ, dám làm, không ngừng trau dồi, tích lũy tri thức.

Sinh viên ln đầy ắp các ý tưởng độc đáo, họ tận dụng mọi cơ hội để biến

các ý tưởng đó thành hiện thực. Khơng chỉ chờ đợi cơ hội đến, họ còn tự mình

tạo ra cơ hội. Nhiều sinh viên nhận được bằng phát minh, sáng chế, nhiều phát

minh được ứng dụng trong sản xuất góp phần nâng cao hiệu quả lao động cho

người dân. Sinh viên có thế mạnh được đào tạo chuyên sâu với nhiều ngành

nghề khác nhau do vậy, họ tham gia trong tất cả các lĩnh vực từ kinh tế, văn hóa,

chính trị và xã hội.

12



Trong học tập sinh viên Việt Nam không ngừng tự đổi mới phương pháp học

tập để đạt được hiệu quả cao nhất. Hiện nay, sinh viên không còn thụ động vào

thầy cơ giáo mà tự nghiên cứu, tích lũy tri thức, lấy thơng tin, tài liệu từ mọi

nguồn.Phần lớn sinh viên có khả năng thích nghi cao với môi trường sống và

học tập. Sinh viên không chỉ học tập trong phạm vi hẹp ở trường học mà học tập

mọi lúc, ở mọi nơi. Không chỉ lĩnh hội tri thức chuyên môn đào tạo mà sinh viên

tiếp thu tri thức trong tất cả các lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật, đạo đức.... Sự năng

động của sinh viên còn thể hiện rõ nét trong hoạt động xã hội như: tham gia hiến

máu nhân đạo, tình nguyện.... Bằng sự năng động, sinh viên luôn tự cập nhật

thông tin, kiến thức để mở rộng tri thức của bản thânđáp ứng yêu cầu phát triển

của xã hội.

Ngoài ra, sinh viên Việt Nam được hưởng những giá trị truyền thống của dân

tộc, đó là truyền thống hiếu học, chịu khó, ham học hỏi. Sinh viên hiện nay ln

khao khát tìm tòi, khám phá những tri thức mới và áp dụng những tri thức đó

vào trong cuộc sống để phục vụ cho nhu cầu phát triển của con người. Nhiều

sinh viên mặc dù bị tật nguyền nhưng vẫn vươn lên trong học tập, là tấm gương

sáng về ý chí và nghị lực vươn lên trong mọi hoàn cảnh sống.

1.1.2.2. Khái niệm ngăn ngừa bạo lực học đường trong sinh viên

Trong những năm gần đây, khi xã hội phát triển thì tình trạng bạo lực học

đường xuất hiện với mức độ nghiêm trọng hơn thậm chí còn liên quan đến tính

mạng con người. Do vậy, trở thành vấn đề bức xúc trong dư luận xã hội.

Ngay khi nhận thấy mức độ nghiêm trọng của bạo lực học đường, các cấp,

các ngành đã không ngừng tuyên truyền tác hại của bạo lực học đường đến phụ

huynh học sinh, sinh viên và bản thân những em học sinh, sinh viên. Hướng đến

xây dựng một xã hội văn minh, giàu giá trị truyền thống của dân tộc.

Nhiều nhà khoa học nghiên cứu về bạo lực học đường cho rằngchỉ có chế tài

nghiêm ngặt xử lý bạo lực học đường thì số vụ sinh viên vi phạm có xu hướng

gia tăng. Do vậy, lấy tiêu chí “ngăn ngừa” đặt lên hàng đầu. Trong những năm

gần đây, các cuộc vận động, tuyên truyền về bạo lực học đường được đông đảo

13



người dân hưởng ứng nhiệt tình và tham gia. Bên cạnh đó, vai trò của mơn học

giáo dục cơng dân ở các cấp học cũng được nhận thức đúng tầm quan trọng của

nó. Đặc biệt đối với sinh viên những mơn học như Tư tưởng Hồ Chí Minh, khoa

học giao tiếp... được đặt đúng tầm quan trọng môn học bắt buộc giáo dục đạo

đức, lối sống cho sinh viên.

Khi tìm hiểu khái niệm ngăn ngừa bạo lực học đường, nhóm nghiên cứu đưa

ra quan điểm của mình về “ngăn ngừa”: “là ngăn cản trước khi cái xấu xảy ra,

chủ yếu lấy ngăn chặn là chính”.

Khái niệm ngăn ngừa bạo lực học đường được hiểu: “là ngăn chặn những

hành vi của bạo lực học đường xảy ra trong trường học”. Những hành vi bạo

lực học đường xảy ra trong trường học như đánh nhau, chửi mắng, xúc phạm

đến nhân phẩm của người khác...

Khái niệm về ngăn ngừa bạo lực học đường trong sinh viên được hiểu: “là

ngăn chặn những hành vi của bạo lực học đường xảy ra trong sinh viên”. Ngăn

chặn bạo lực học đường trong sinh viên có thể hiểu là ngăn ngừa trước khi

những hành động đánh nhau, chửi mắng, cô lập... xảy ra, sau khi hành vi bạo lực

học đường xảy ra cần có chế tài xử lý đểrăn đe những sinh viên khác.

Nhận thức thấy tầm quan trọng của công tác ngăn ngừa bạo lực học đường

các cấp, các ngành đang ngày càng quan tâm hơn đến vai trò của cơng tác tun

truyền tác hại của bạo lực học đường đến người dân để từ đó nâng cao nhận thức

của người dân về giá trị truyền thống của dân tộc, đạo đức, hình thành lối sống

văn minh, hiện đại.

Trong trường đại học công tác tuyên truyền bạo lực học đường đến sinh viên

cần tiến hành nghiêm túc, hiệu quả, mỗi thầy cô giáo là tấm gương về đạo đức,

lối sống cho sinh viên noi theo.

1.2. Hình thức ngăn ngừa bạo lực học đường trong sinh viên

Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra có nhiều nguyên nhân dẫn đến bạo lực học

đường trong sinh viên. Do đó, để ngăn ngừa bạo lực học đường cần thực hiện

các hình thức sau:

14



1.2.1. Tuyên truyền tác hại của bạo lực học đường, nâng cao giáo dục đạo

đức cho sinh viên.

Cần nâng cao nhận thức, ý thức về hành động và những hậu quả của hành

động bạo lực học đường trong sinh viên đại học. Trong tập thể lớp, cần tổ chức

các nhóm bạn đồng hành tương tự như hình thức đôi bạn cùng tiến để nâng cao

nhận thức hiểu biết tăng cường sự trao đổi khắc phục lẫn nhau cùng nhau học

tập .Với những sinh viên có cá tính mạnh có biểu hiện đầu gấu, thì phải khoanh

vùng phối hợp cùng gia đình và nhà trường uốn nắn phải biết lôi kéo các em vào

các phong trào của lớp, tạo sân chơi cho các em đỡ nhàn chán tránh sự phân biệt

đối xử. Tổ chức nhiều sân chơi bổ ích để tạo sự gần gữi yêu thương con người.

Tránh được sự thờ ơ vô cảm của mọi người trước những hành động bạo lực.

Cần nhìn nhận lại cách giáo dục con trẻ của một số gia đình. Lâu nay chúng

ta chỉ chú trọng đến kết quả học hành của con cái mà xem nhẹ việc các em nghĩ

gì cần gì xử sự như thế nào với bạn bè. Thay vì để con cái có cuộc sống vật chất

đầy đủ cha mẹ hãy là những người bạn đồng hành trong cả chặng đường làm

người của con cái, không nên tạo cho con cái một cái vỏ bọc quá cứng nhắc sẽ

gây lên tâm lý ỷ lại, dựa dẫm, chơi bời và hưởng thụ. Cần có thái độ phê phán

lên án những hành vi thơ bạo và phải có những biện pháp xử lí có tính chất răn

đe, để làm gương cho người khác.

Nhà trường cần chủ động trao đổi thông tin với gia đình các em sinh viên

và chính quyền địa phương để nắm tình hình, kịp thời có biện pháp quản lý và

giáo dục sinh viên. Giáo viên chủ nhiệm cần chủ động nắm chắc tình hình diễn

biến tư tưởng của sinh viên, không để các hành vi tiêu cực, bạo lực xảy ra. Với

phương châm hành động “phòng” là chính, cùng với dạy học, nhà trường cần

chú trọng coi trọng việc dạy các môn giáo dục đạo đức, kỹ năng sống, xây

dựng môi trường sư phạm thân thiện, trang bị nhận thức đúng đắn cho sinh

viên để các em có những hành động đẹp và biết yêu thương nhau. Cần phải

nêu cao tinh thần trách nhiệm của mỗi cá nhân sinh viên trong mọi hoạt động

của tập thể.

15



Nhà trường chủ động phối hợp với các lực lượng liên quan phát động phong

trào quần chúng đấu tranh trực diện với các hành vi bạo lực học đường, bất cứ

khi nào, nơi nào có hành vi bạo lực học đường xảy ra, các lực lượng chức năng

kịp thời ngăn chặn thông báo sinh viên về nhà trường, gia đình để có biện pháp

giải quyết nhằm góp phần hạn chế hậu quả tác hại xấu xảy ra.

Cấp ủy, chính quyền địa phương, các tổ chức đồn thể và lực lượng Cơng an

địa phương, các tổ Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ, Đội thanh niên xung kích, Đội

cờ đỏ… cần đảm bảo sự lãnh đạo thống nhất, nêu cao ý thức trách nhiệm, phát

huy hết vai trò của mình trong phòng ngừa tình hình bạo lực học đường. Cần

chủ động sử dụng tốt biện pháp vận động quần chúng, tăng cường công tác

tuyên truyền, vận động khu dân cư, khi phát hiện các mâu thuẫn cần kịp thời

ngăn chặn, tránh gây hậu quả xấu.

Để ngăn ngừa vấn nạn bạo lực học đường ở nước ta hiện nay, cần phải có

nhận thức đúng đắn về vấn đề bạo lực học đường, sự quyết tâm cao độ của toàn

ngành giáo dục, của các cấp liên ngành, của các lực lượng liên quan. Xây dựng

cơ chế phối hợp giữa gia đình - nhà trường - xã hội trong phòng ngừa tình trạng

bạo lực học đường.

1.2.2. Chế tài xử phạt hợp lý khi bạo lực học đường xảy ra

Trong ngăn ngừa bạo lực học đường trong sinh viên đại học, cơng tác

“phòng” là chính tuy nhiên khi bạo lực học đường đã xảy ra thì chế tài xử lý hậu

quả của bạo lực học đường đóng vai trò quan trọng. Chế tài xử lý hậu quả bạo

lực học đường mang tính chất răn đe, ngăn chặn các hành vi bạo lực học đường

khác xảy ra trong sinh viên.

Bộ giáo dục và đào tạo ban hành Quyết định số: 42/2007/QĐ-BGDĐT về

quy chế học sinh sinh viên, trong đó nêu rõ chế tài xử lý khi bạo lực học đường

xảy ra như sau:

1. Những học sinh, sinh viên có hành vi vi phạm thì tuỳ tính chất, mức độ,

hậu quả của hành vi vi phạm, phải chịu một trong các hình thức kỷ luật sau:



16



a) Khiển trách: áp dụng đối với học sinh, sinh viên có hành vi vi phạm lần

đầu nhưng ở mức độ nhẹ;

b) Cảnh cáo: áp dụng đối với học sinh, sinh viên đã bị khiển trách mà tái

phạm hoặc vi phạm ở mức độ nhẹ nhưng hành vi vi phạm có tính chất thường

xun hoặc mới vi phạm lần đầu nhưng mức độ tương đối nghiêm trọng;

c) Đình chỉ học tập 1 năm học: áp dụng đối với những học sinh, sinh viên

đang trong thời gian bị cảnh cáo mà vẫn vi phạm kỷ luật hoặc vi phạm nghiêm

trọng các hành vi học sinh, sinh viên không được làm;

d) Buộc thôi học: áp dụng đối với học sinh, sinh viên đang trong thời gian

bị đình chỉ học tập mà vẫn tiếp tục vi phạm kỷ luật hoặc vi phạm lần đầu nhưng

có tính chất và mức độ vi phạm nghiêm trọng, gây ảnh hưởng xấu đến nhà

trường và xã hội; vi phạm pháp luật bị xử phạt tù (kể cả trường hợp bị xử phạt tù

được hưởng án treo).

2. Hình thức kỷ luật của học sinh, sinh viên phải được ghi vào hồ sơ học

sinh, sinh viên. Trường hợp học sinh, sinh viên bị kỷ luật mức đình chỉ học tập 1

năm học và buộc thôi học, nhà trường cần gửi thông báo cho địa phương và gia

đình học sinh, sinh viên biết để quản lý, giáo dục.

3. Nội dung vi phạm và khung xử lý kỷ luật thực hiện theo quy định Phụ

lục kèm theo Quy chế này.



17



PHỤ LỤC

MỘT SỐ NỘI DUNG VI PHẠM VÀ KHUNG XỬ LÝ KỶ LUẬT

(kèm theo Quyết định số 42/2007/QĐ-BGDĐT ngày 13 tháng 8 năm 2007 của

Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo)

Số lần vi phạm và hình thức xử lý

Đình chỉ Buộc

TT Tên vụ việc vi phạm Khiển Cảnh

Ghi chú

học tập 1 thôi

trách cáo

năm học

học

1 Vô lễ với thầy, cô

Tùy theo mức độ,

giáo và CBCC nhà



xử lý từ khiển trách



trường

2 Đưa phần tử xấu vào



đến buộc thôi học



trong trường, KTX



Tùy theo mức độ



gây ảnh hưởng xấu



xử lý từ cảnh cáo



đến an ninh, trật tự



đến buộc thôi học



trong nhà trường.

3 Đánh

nhau

gây



Lần 1



Lần 2



Nếu nghiêm trọng,



thương tích, tổ chức



giao cho cơ quan



hoặc tham gia tổ chức



chức năng xử lý



đánh nhau



theo quy định của

pháp luật



Quy chế học sinh, sinh viên của Bộ giáo dục và đào tạo ban hành là chế tài

để các trường đại học áp dụng trong xử lý bạo lực học đường xảy ra. Nhóm tác

giả thấy, nội dung của cơ chế mang tính khách quan, nghiêm minh mang tính

giáo dục, răn đe bạo lực học đường diễn ra, yêu cầu mọi sinh viên đều phải thực

hiện nghiêm minh. Do đó, nhóm tác giả đồng ý với chế tài xử lý bạo lực học

đường của Bộ giáo dục và đào tạo.



Chương 2. THỰC TRẠNG NGĂN NGỪA BẠO LỰC HỌC ĐƯỜNG

18



TRONG SINH VIÊN CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC CAO ĐẲNG TRÊN

ĐỊA BÀN TỈNH HƯNG YÊN

2.1. Đặc điểm của sinh viên trên địa bàn tỉnh Hưng Yên

2.1.1. Khái quát về trường Đại học Tài chính - Quản trị kinh doanh và

trường Đại học Sư phạm kỹ thuật Hưng Yên

Trên địa bàn tỉnh Hưng Yên hiện nay có hai trường Đại học đóng trên địa

bàn tỉnh: Trường Đại học Tài chính - Quản trị kinh doanh và trường Đại học Sư

phạm kỹ thuật Hưng Yên. Trong những năm qua, nhiều sinh viên tỉnh Hưng Yên

và sinh viên đến từ các tỉnh lân cận theo học tại các trường đại học trên địa bàn

tỉnh đã góp phần cung cấp nguồn lao động chất lượng cao trong quá trình phát

triển của tỉnh.

Trường đại học Tài chính - Quản trị kinh doanh và trường đại học Sư phạm

kỹ thuật Hưng Yên đào tạo sinh viên với những chuyên ngành khác nhau tạo nên

sự đa dạng trong chuyên ngành được đào tạo trong sinh viên trên địa bàn tỉnh

Hưng Yên.

Thứ nhất, trường Đại học Tài chính - Quản trị kinh doanh được thành lập

theo Quyết định số 1320/QĐ-TTg ngày 18/9/2012 của Thủ tướng Chính phủ

trên cơ sở nâng cấp trường Cao đẳng Tài chính – Quản trị Kinh doanh trực thuộc

Bộ Tài chính. Trường Đại học Tài chính - Quản trị kinh doanh là cơ sở giáo dục

đại học công lập trực thuộc Bộ Tài chính.

Về vị trí địa lý, trường đại học Tài chính – Quản trị kinh doanh nằm trên địa

bàn xã Trưng Trắc, huyện Văn Lâm, Tỉnh Hưng Yên. Với vị trí địa lý nằm gần

thủ đô Hà Nội, nằm trên tuyến đường 5 nối Hà Nội - Hải Phòng tạo điều kiện

thuận lợi giao thơng đi lại của sinh viên. Ngồi ra, trường nằm gần với các khu

công nghiệp lớn như Phố Nối A, Tân Quang... tạo điều kiện tìm việc làm của

sinh viên sau khi tốt nghiệp.

Về quy mô của trường, tổng số sinh viên đang theo học tại trường hiện nay

có hơn 5000 sinh viên trong đó bao gồm cả chính quy, tại chức và liên thơng.

Hiện nay, nhà trường có 229 giảng viên cơ hữu phục tốt cho công tác giảng dạy.

19



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

1 Các khái niệm liên quan về ngăn ngừa bạo lực học đường trong sinh viên đại học

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×