Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bảng 3: Hoạt động quản lý – phục vụ tại thư viện

Bảng 3: Hoạt động quản lý – phục vụ tại thư viện

Tải bản đầy đủ - 0trang

34

Câu



Mức độ (%)



Rất



Hồn



k

h



Nội dung



ơ



Khơng



ư



n



đ



n



ý



n

(2)



n

Đồng

ý







g





g



h







g



à



t



đ



n



to



Bình



(4)



đ



n

g



g



ý



(3)



(5



ý



)



(1)



18



19

20



21



Bạn ln được tư vấn/ hỗ

trợ kịp thời khi gặp khó

khăn trong quá trình tra

cứu/ tìm kiếm/ sử dụng các

dịch vụ của Thư viện

Tinh thần, thái độ phục vụ

của các nhân viên thư viện

là niềm nở, thân thiện

Các hỗ trợ, tư vấn, tiếp

nhận và giải quyết nhu cầu

bạn đọc rất thiết thực và

hiệu quả

Bạn hài lòng với hoạt động

quản lý - phục vụ tại thư

viện



5,97



17,41



57,71



15,92



2,99



7,46



11,94



55,22



20,90



4,48



6,97



15,92



61,68



12,94



2,49



8,46



13,43



60,19



14,93



2,99



Nguồn: Kết quả điều tra của của nhóm nghiên cứu

Ngồi các điều kiện về cơ sở vật chất, khi xem xét yếu tố ảnh hưởng đến

việc khuyến khích sinh viên đến thư viện cần chú ý các điều kiện hoạt động

quản lý - phục vụ tại thư viện, và các dịch vụ tại thư viện nhằm phục vụ sinh

viên một cách hiệu quả. Qua kết quả khảo sát bảng 3 thì tỷ lệ mức (3) cao nhất

cho thấy sinh viên khá hài lòng với hoạt động quản lý - phục vụ tại thư viện. Khi

đến thư viện sử dụng các dịch vụ nếu có khó khăn được nhân viên thư viện tư



35

vấn/ hỗ trợ kịp thời (mức 3 chiếm tỷ lệ 57,71%). Tinh thần thái độ phục vụ của

nhân viên thư viện niềm nở, thân thiện tạo cảm giác dễ chịu khi sinh viên đến

thư viện (mức 2 và 3 chiếm tỷ lệ 76,12%).

Bên cạnh đó, Trung tâm thông tin thư viện trường Đại học Tài chính –

Quản trị kinh doanh hoạt động dịch vụ còn rất nghèo nàn. Cụ thể là các sản

phẩm thông tin thư viện như: thư mục chuyên đề, mục lục thư viện dạng hộp

phiếu, thư mục thông báo sách mới. Dịch vụ thư viện chỉ được đọc tại chỗ và do

hạn chế tài liệu nên không được mượn tài liệu về nhà.

2.3. Một số đánh giá được rút ra từ thực trạng

2.3.1. Kết quả đạt được

Thứ nhất, nhà trường đã đưa ra một số giải pháp cơ bản nhằm khuyến

khích sinh viên khai thác nguồn tư liệu học tập tại thư viện. Thông qua các biện

pháp như đổi mới phương pháp giảng dạy, đổi mới hình thức kiểm tra đánh giá,

triển khai hoạt động nghiên cứu khoa học trong sinh viên và đổi mới từ chính

thư viện thì từ đó thúc đẩy sinh viên tăng cường đến thư viện để khai thác nguồn

tư liệu học tập. Nhìn chung, một số sinh viên đã dành một quỹ thời gian nhất

định cho việc đến thư viện, ý thức sâu sắc sự ảnh hưởng của việc này đến kết

quả học tập của bản thân, cũng như nhận định rõ vai trò khai thác nguồn tư liệu

học tập thư viện. Việc sinh viên đến thư viện khai thác tư liệu học tập đã có

những tác động nhất định đến phương pháp học của sinh viên. Ngoài giờ học

trên lớp, phần lớn sinh viên nghiên cứu, sưu tầm học hỏi trong thư viện và như

vậy những điều sinh viên lĩnh hội được ở thư viện sẽ đào sâu kiến thức, suy luận

và phương pháp làm việc của họ về môn học. Do đó kiến thức của sinh viên về

môn học đã sâu sắc hơn rất nhiều so với những gì họ tiếp thu được trên lớp.

Thứ hai, cơ sở vật chất và không gian bạn đọc đáp ứng cơ bản nhu cầu

của sinh viên. Sinh viên không chỉ thỏa mãn nhu cầu tin phục vụ học tập nghiên

cứu, mà còn kích thích nhu cầu tin của bản thân ngày càng phát triển cao hơn,

sâu sắc hơn. Qua kết quả điều tra cho thấy khi sinh viên khơng tìm được tài liệu

tại thư viện tìm kiếm trên Internet là sự lựa chọn hàng đầu của sinh viên chiếm



36

70% (Phụ lục 2). Từ đó sinh viên phát huy cao độ năng lực của bản thân, đồng

thời khuyến khích họ tiếp cận với phương pháp học tập chủ động, lấy tự học, tự

nghiên cứu làm chính; giảng viên và người học sẽ thay đổi thói quen tìm tin và

dùng tin theo hướng tích cực hơn. Thư viện nhờ thế sẽ phát huy hết vai trò của

một trung tâm thơng tin, hỗ trợ tích cực cơng tác giảng dạy và học tập của giảng

viên và sinh viên.

Thứ ba, hoạt động quản lý phục vụ và dịch vụ tại thư viện, Trung tâm

thông tin - thư viện có sự thay đổi đó là phục vụ theo phương thức “mở”. Như

vậy, tồn bộ sách, báo, tạp chí, tài liệu và cả máy tính... sinh viên đều có thể tiếp

cận dễ dàng, tạo cho họ một cảm giác thoải mái trong lựa chọn và sử dụng. Xóa

đi bức tường ngăn cách giữa kho sách và sinh viên, thu hút được họ đến với thư

viện. Khi đến thư viện nhân viên thư viện thân thiện tạo cảm giác dễ chịu cho

sinh viên khi đến đây. Khi có thắc mắc vấn đề gì các bạn đều được giải đáp và

hỗ trợ.

2.3.2. Hạn chế và nguyên nhân

2.3.2.1. Hạn chế

Bên cạnh những việc đã làm được, việc khuyến khích sinh viên đến thư

viện còn có những mặt hạn chế như:

Thứ nhất, nhận thức và nhu cầu sinh viên chưa cao về việc khai thác tư

liệu tại thư viện, biểu hiện thông qua mức độ thường xuyên đến thư viện còn

thấp. Hiện nay vẫn còn một tồn tại là sinh viên chỉ tham khảo tài liệu có liên

quan đến môn học khi gần đến kỳ thi, còn khi đã thi xong họ thường chỉ lên đọc

báo hoặc mượn sách văn học, điều này khiến cho việc học tập và nghiên cứu

khoa học gần như bị gián đoạn.

Thứ hai, nguồn tư liệu thư viện chưa đáp ứng nhu cầu sinh viên. Các loại

tài liệu có tính chất nghiên cứu chuyên sâu như sách tra cứu, chuyên ngành, tạp

chí ngoại văn… còn ít. Qua kết quả khảo sát thực tế về đề xuất cải tiến thư viện

(phụ lục 2), về vấn đề các nội dung cần phải thay đổi trong mọi mặt hoạt động

của thư viện, trang thiết bị cũng như là vấn đề nhân sự thì hầu hết sinh viên

mong muốn thư viện thay đổi. Như vậy là sinh viên chưa thực sự hài lòng với



37

thực trạng thư viện hiện nay. Trong đó bức thiết nhất là sinh viên mong muốn

tăng thêm tài liệu liên quan đến môn học và tăng số lượng sách được mượn mỗi

lần. Điều này xuất phát thực trạng tư liệu học tập còn thiếu và khơng được mượn

sách về nhà.

Thứ ba, cơ sở vật chất chưa được đầu tư đồng bộ và đầy đủ. Hiện nay cơ

sở vật chất tại thư viện rất cũ kỹ ở cả cơ sở 1 và cơ sở 2, chưa có nhiều phòng

chức năng trong thư viện mà mới chỉ dừng lại có phòng đọc và phòng truy cập

internet. Đồng thời, thư viện chưa được trang bị hệ thống thông tin hiện đại phục

vụ cho sinh viên. Số lượng máy chủ, máy trạm, máy số hóa sách chuyên dụng

phục vụ cho quản lý thư viện, số hóa tài liệu còn rất hạn chế.

Thứ tư, chất lượng sản phẩm và các dịch vụ thông tin - tư liệu chưa cao.

Thư viện chưa triển khai được các hoạt động cung cấp thông tin chuyên sâu,

thông tin chọn lọc. Các dịch vụ thông tin hiện đại thực hiện không đồng bộ,

chưa khoa học, thiếu sự tuyên truyền giới thiệu tích cực nên chưa lơi cuốn được

nhiều sinh viên tham gia. Thư viện chưa phát huy hết việc cung cấp các dịch vụ

thông tin cho sinh viên, bằng chứng các dịch vụ còn rất nghèo nàn. Có thể thấy

rằng trung tâm thông tin – thư viện chưa phát huy đầy đủ vai trò của mình trong

bối cảnh đào tạo theo loại hình học chế tín chỉ.

Thứ năm, trình độ tin học, ngoại ngữ của cán bộ thư viện còn nhiều hạn

chế nên việc hỗ trợ người dùng tin khai thác hiệu quả nguồn thông tin của Thư

viện chưa đạt hiệu quả cao. Nhân sự chuyên trách thư viện có trình độ chun

mơn chưa cao.

Thứ sáu, Nhà trường chưa có nhiều giải pháp đồng bộ và hữu hiệu nhằm

khuyến khích sinh viên đến thư viện khai thác tư liệu học tập. Để có thể thực

hiện đúng vai trò và trách nhiệm của mình trong một trường đại học, thư viện

trường cần phải đáp ứng được nhiều tiêu chí khác nhau từ nguồn tài nguyên,

trang thiết bị, nhân sự cho đến các sản phẩm và dịch vụ khai thác cung cấp

thông tin. [19]

2.3.3.2. Nguyên nhân

Thứ nhất, yếu tố tự học, tự nghiên cứu và nhận thức về tầm quan trọng

việc khai thác tư liệu học tập tại thư việc của sinh viên chưa cao.



38

Nguyên nhân khiến cho sinh viên lười đến thư viện khai thác tư liệu học

tập: sinh viên nghe giảng nhiều hơn tự học, sinh viên ít có thời gian đến thư

viện, sinh viên không được yêu cầu hay bắt buộc phải tham khảo thêm tài liệu,

việc học và thảo luận theo nhóm không phổ biến… Các điều kiện này đã làm

hạn chế việc khai thác và sử dụng thư viện. Nếu sinh viên khơng có ý thức tự

giác thì dù cơ sở vật chất tốt đến mấy cũng không có kết quả gì. Trong quá trình

phỏng vấn, các giảng viên qua thực tiễn giảng dạy của mình phần lớn đều nhận

định rằng ý thức tự học của sinh viên còn rất kém, sinh viên vẫn còn giữ lối tư

duy và cách học ở nhà trường phổ thông, đó là phụ thuộc nhiều vào giảng viên

và học chỉ để hướng đến mục đích thi tốt mà khơng đầu tư vào việc tự đào sâu,

mở rộng kiến thức phục vụ cho nghề nghiệp sau này.

Thứ hai, kinh phí của Trường hiện nay còn gặp nhiều khó khăn, chưa huy

động được vốn để xây dựng thư viện

Hiện nay, thư viện của trường đang đứng trước vấn đề hết sức khó khăn

trong lựa chọn, bổ sung sách, giáo trình do mâu thuẫn khơng thể tự giải quyết

giữa kinh phí hoạt động được cấp còn eo hẹp với nguồn tài ngun thơng tin

trong và ngoài nước ngày càng có xu hướng tăng nhanh hàng năm. Sự phong

phú của tài liệu phụ thuộc vào ngân sách, nhưng nguồn tài chính hạn hẹp đã dẫn

đến tình trạng “nhỏ giọt” trong việc bổ sung tài liệu mới, trong khi lượng tài liệu

in ấn và điện tử phát hành hằng năm lại tăng theo cấp số nhân. Hệ quả là thư

viện không đáp ứng nhu cầu người dùng, và bộ ba “người dùng”, “nhà quản lý”

và “thư viện” lại rơi vào vòng luẩn quẩn “cung cầu bất cập”.

Cơ sở vật chất thư viện vẫn chưa được trang bị hiện đại nên chưa thu hút

sinh viên đến thư viện. Sinh viên cho rằng thư viện rất cần thiết phải có phòng tự

học cho sinh viên. Đây là nơi họ nghiên cứu, trao đổi những thông tin, kiến thức

về các môn học cũng như những nội dung phục vụ cho luận văn tốt nghiệp của

họ. Các nội dung khác cần phải thay đổi như thiết lập hệ thống tra cứu tài liệu

bằng máy tính, thiết lập thư viện điện tử, tài liệu số... cũng được cho là rất cần

thiết phải thay đổi. Đồng thời, nguồn lực thông tin chưa đầy đủ do kinh phí mua

tài liệu cấp cho thư viện còn hạn hẹp và khơng đều.



39

Thứ ba, bản thân hoạt động thư viện chưa có nhiều cải tiến, đổi mới

Thư viện hoạt động chưa hiệu quả do vẫn còn phục vụ hồn tồn thủ cơng

nên khơng đáp ứng được đầy đủ nhu cầu thông tin đa dạng của bạn đọc. Việc

đến thư viện khai thác tư liệu học tập chiếm tỷ rất ít đối với sinh viên. Chúng tơi

thấy rằng thực tế sinh viên tới thư viện ít như vậy có liên quan chặt chẽ với thực

tế thư viện không mở cửa vào các giờ nghỉ trưa, chiều tối và các ngày nghỉ cuối

tuần. Điều này có nghĩa là nếu thư viện thay đổi thời gian làm việc, mở cửa phục

vụ bạn đọc vào cả giờ nghỉ và ngày nghỉ thì chắc chắn sinh viên sẽ tới thư viện

nhiều hơn nhưng qua phỏng vấn cán bộ thư viện cho thấy điều kiện hiện tại của

thư viện không thể thực hiện mở cửa vào giờ nghỉ và ngày nghỉ được do còn hạn

chế về nhân sự.

Thứ tư, Nhà trường chưa thực sự quan tâm đúng mức đến thư viện, chưa

có chính sách đầu tư về cơ sở vật chất, tài chính và con người cho xứng đáng với

vị thế của thư viện.

Như vậy, cùng với ý thức tự học chưa cao nên khi gặp những khó khăn

khách quan về vốn tư liệu, cơ sở vật chất và dịch vụ thư viện còn nghèo nàn,

kinh phí eo hẹp đã dẫn đến thực trạng sinh viên lười đến thư viện khai thác tư

liệu học tập. Theo kết quả khảo sát thực tế sinh viên hầu hết đều mong muốn thư

viện thay đổi. Điều này có nghĩa là thư viện hiện nay chưa đáp ứng được nhiều

nhu cầu của sinh viên. Do đó, chưa khuyến khích sinh viên đến thư viện khai

thác tư liệu học tập.



40

Chương 3. MỘT SỐ GIẢI PHÁP KHUYẾN KHÍCH SINH VIÊN

KHAI THÁC NGUỒN TƯ LIỆU HỌC TẬP HIỆU QUẢ TẠI THƯ VIỆN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH – QUẢN TRỊ KINH DOANH

Để nắm bắt được mong muốn và nhu cầu hiện nay của sinh viên, nhóm

nghiên cứu đã tiến hành khảo sát ý kiến về đề xuất một số giải pháp cải tiến hoạt

động thư viện. Kết quả nhận được là phần lớn các bạn đều mong muốn cải tiến

thư viện hiện nay của trường. Để góp phần khuyến khích sinh viên đến khai thác

tư liệu học tập tại thư viện cần nhiều giải pháp đồng bộ. Trước hết, chúng ta cần

có biện pháp khuyến khích từ chính bản thân sinh viên thấy được tầm quan

trọng và nhu cầu khai thác tư liệu học tập tại thư viện. Sau đó là đáp ứng các sở

thích, thị hiếu đa dạng về tư liệu, tạo điều kiện thuận lợi cơ sở vật chất, hoạt

động quản lý phục vụ và dịch vụ tại thư viện. Đồng thời cần có sự phối hợp chặt

chẽ giữa nhà trường - sinh viên - thư viện.

3.1. Giải pháp đối với sinh viên

Thứ nhất, giáo dục ý thức khai thác nguồn tư liệu học tập cho sinh viên

Đối với sinh viên, thay vì học thuộc lòng bài giảng hay giáo trình của

thầy, họ cần phải đến thư viện tìm kiếm thông tin liên quan theo sự hướng dẫn.

Như vậy, thư viện sẽ là nơi cung cấp nhiều nguồn thông tin, tri thức khác nhau

và sinh viên phải biết chọn lựa, tham khảo, đánh giá, phân tích, tổng hợp, thảo

luận để đưa ra kết quả đúng đắn. Đồng thời, hoạt động nghiên cứu khoa học

được triển khai trong sinh viên bắt đầu 2016 là yếu tố quan trọng thúc đẩy sinh

viên đến thư viện khai thác nguồn tư liệu nghiên cứu.

Thứ hai, đẩy mạnh các hoạt động khuyến khích việc khai thác hiệu quả

thư viện bằng cách cộng điểm đối với những sinh viên tự học, tự nghiên cứu.

Cán bộ thư viện nên phối hợp giảng viên tích hợp kiến thức thông tin vào nội

dung giảng dạy, nhằm phát triển kỹ năng tự học cho sinh viên.

Thứ ba, trang bị kiến thức thông tin cho sinh viên



41

Tổ chức các buổi hướng dẫn sử dụng thư viện, cách thức tra cứu tìm tin

cho sinh viên năm thứ nhất lúc nhập học và tổ chức thường xuyên các lớp đào

tạo, huấn luyện người dùng tin về kiến thức thông tin. Tổ chức hướng dẫn sinh

viên các khai thác tư liệu hiệu quả.

Thứ tư, điều tra nhu cầu nguồn tư liệu của sinh viên

Tiến hành thăm dò, khảo sát nhu cầu tư liệu học tập là một việc làm cần

thiết để thư viện nắm bắt và đáp ứng kịp thời nhu cầu, tâm tư nguyện vọng của

sinh viên thơng qua hòm thư góp ý hoặc phiếu điều tra hàng năm trong sinh

viên. Việc thỏa mãn các u cầu thơng tin chính là một hoạt động để phát triển

thư viện, nâng cao vai trò của thư viện cũng như tạo mối quan hệ mật thiết giữa

sinh viên với thư viện.

3.2. Giải pháp vốn tư liệu học tập tại thư viện

Nguồn tư liệu là phần quan trọng cốt lõi của thư viện. Một chiến lược phát

triển nguồn tài liệu đúng hướng và phù hợp có vai trò quyết định chất lượng hoạt

động thơng tin - thư viện. Để thực hiện giải pháp này cần tiến hành những hành

động cụ thể sau:

Thứ nhất, hình thành chính sách phát triển nguồn tài liệu. Chính sách phát

triển nguồn tài liệu đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng nguồn tài liệu

và hiệu quả sử dụng tài liệu của thư viện. Phát triển có chọn lọc nhiều loại hình

tài liệu mới nhằm đa dạng hóa nguồn tài liệu. Đồng thời, cung cấp thêm tư liệu

về băng, đĩa giúp sinh viên có cái nhìn thiết thực, dễ tiếp thu kiến thức.

Thứ hai, thăm dò ý kiến giảng viên, sinh viên nhằm bổ sung nguồn tài liệu

phù hợp với xu hướng đổi mới phương pháp dạy và học. Mục đích, ý nghĩa biện

pháp tư liệu học tập là cơ sở quan trọng để sinh viên tự tìm tòi kiến thức. Do đó,

nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho sinh viên, nhà trường cần phải trang bị tài liệu

phong phú và đa dạng cho thư viện. Nội dung, cách thức thực hiện hàng năm,

thư viện trường đều gởi phiếu lấy ý kiến những đầu sách mà giảng viên các khoa

cần, nhưng số lượng phản hồi không nhiều. Nhóm nghiên cứu nhận thấy đây là

việc làm cần thiết và điều quan trọng là cần điều chỉnh cách làm cho thực chất



42

nhất có thể. Cụ thể, cuối mỗi năm học, thư viện nên gửi đến từng giảng viên thư

đề nghị cung cấp danh mục các đầu sách cần trang bị mới cho sinh viên, dựa

trên nguồn tài liệu chuyên ngành của khoa ấy đã có tại thư viện. Lãnh đạo các

khoa cũng cần hỗ trợ trong việc đốc thúc giảng viên nghiêm túc phối hợp làm tốt

công tác này.

Thứ ba, thiết lập mối quan hệ chặt chẽ với các giảng viên, những người

thường xuyên thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học, các giảng viên viết giáo

trình, sách chuyên khảo, tài liệu tham khảo, bài báo khoa học để họ tư vấn về

nguồn tài liệu cần bổ sung, đặc biệt là để bổ sung cho thư viện những tài liệu ít

gặp trên thị trường xuất bản và tài liệu mà giảng viên có được do các chuyến đi

công tác trong nước, học tập ở nước ngoài hoặc dự các hội nghị, hội thảo khoa

học.

Thứ tư, cần thường xuyên bổ sung các tài liệu mới, thanh lọc các tài liệu

cũ lỗi thời. Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn là 88% sinh viên thường khai thác tài

liệu giáo trình và tài liệu tham khảo thư viện cần tăng thêm số lượng, cũng như

sự đa dạng, cập nhật của tài liệu tại thư viện, đặc biệt là các tài liệu chuyên

ngành kế toàn, tài chính ngân hàng, quản trị kinh doanh, tài liệu phục vụ công

tác nghiên cứu, học tập của sinh viên. Đánh giá tính hiệu quả của nguồn tài liệu

sau một thời gian sử dụng.

Thứ năm, chia sẻ nguồn tài liệu giữa các thư viện nhằm tiết kiệm chi phí

bằng các hình thức trao đổi thông tin: dịch vụ mượn liên thư viện, mục lục liên

hợp trực tuyến, vấn đề hợp tác trong công tác bổ sung tài liệu, chia sẻ nguồn

thông tin số. Qua đó, thư viện trường ta có thể phối hợp, liên kết trong bổ sung

và chia sẻ nguồn tài liệu theo hướng các trường trong vùng hay cùng ngành đào

tạo trên cơ sở các trường cùng xác định nhu cầu thực tiễn của từng thư viện

trong việc trao đổi nguồn tài nguyên thông tin, khảo sát và đánh giá thực trạng

hợp tác trao đổi thông tin giữa thư viện.

Thứ sáu, trong điều kiện như hiện nay, nhà trường có thể đưa ra giải pháp

trước mắt bằng cách tự thiết lập thư viện số theo cách thủ công bằng cách nhân



43

viên thư viện tiến hành dowload những tài liệu liên quan đến môn học của sinh

viên và các khoa có thể gửi tài liệu về thư viện thành dạng file để từ đó làm

nguồn tư liệu cho thư viện số của riêng mình.

3.3. Giải pháp đối với nhà trường

Thứ nhất, nhà trường đề ra biện pháp hữu hiệu về đổi mới phương pháp

dạy và học cùng công tác kiểm tra đánh gia trong đó hướng người học làm trung

tâm và tăng cường hoạt động nghiên cứu khoa học trong sinh viên.

Việc thay đổi phương pháp giảng dạy theo hình thức chế tín chỉ, thay vì

lên lớp thuyết trình, diễn giải một vấn đề qua các đề cương bài giảng, giáo trình,

giảng viên đã dựa vào nguồn tài liệu có sẵn tại thư viện, nêu tình huống có vấn

đề để trợ giúp sinh viên tìm nguồn tài liệu tham khảo, sưu tầm, nghiên cứu…

Sinh viên tìm đến thư viện nhiều hơn là nhà trường, thầy cơ phải giúp các

em tìm được hứng thú trong việc khai thác tư liệu học tập, hiểu rằng đó là việc

quan trọng nâng cao kiến thức và kỹ năng tự học. Vì vậy cần tăng cường liên kết

chặt chẽ giữa thư viện với trường, giảng viên, sinh viên. Vấn đề này được xem là

tất yếu. Chúng ta nhận thấy rằng không ai có thể phát triển một cách cô lập, không

có mối liên kết với các yếu tố bên ngồi. Mơi trường giáo dục cũng khơng nằm

ngồi quy luật đó. Do vậy, nhà trường cần nhận thấy vai trò điều tiết, thúc đẩy

trong việc tăng cường hợp tác chặt chẽ của sinh viên và thư viện, cần nhìn nhận

sự phát triển thư viện song hành với sự phát triển của trường và nâng cao chất

lượng giáo dục. Tiến hành đổi mới phương pháp dạy và học hiệu quả nhằm phát

huy cao độ khả năng tự học, tự nghiên cứu của sinh viên. Bên cạnh đó, mở rộng

và tăng cường hoạt động nghiên cứu khoa học rộng rãi trong toàn thể sinh viên.

Người dạy cũng cần tham gia nhiều hơn đến các hoạt động thư viện như góp ý,

đề xuất bổ sung tư liệu, tận dụng nguồn tài liệu, dịch vụ của thư viện, khuyến

khích sinh viên sử dụng tư liệu của thư viện để đạt được những kết quả sau:

hoàn thiện bộ sưu tập, hiểu rõ hơn về thư viện của trường, có cái nhìn mới về

thư viện, sinh viên có thêm kiến thức ngoài giáo trình được quy định.



44

Thứ hai, nhà trường cần xem xét và đầu tư phát triển xây dựng, cải tạo cơ

sở vật chất và trang bị hạ tầng công nghệ thông tin bền vững và chia sẻ nguồn tài

nguyên thông tin nhằm khuyến khích sinh viên đến thư viện khai thác tư liệu

tập.

Một là, ứng dụng các nghiệp vụ thư viện hiện đại vào tổ chức và quản lý

kho tài liệu theo hướng chuẩn hóa và hiện đại hóa phù hợp với xu thế chung của

ngành Thư viện Việt Nam và thế giới. Xây dựng cơ sở dữ liệu số, các bộ sưu tập

số phục vụ cho công tác đào tạo và nghiên cứu khoa học. Đầu tư xây dựng các

phòng đọc sách chất lượng cao có kết nối hệ thống internet.

Hai là, việc đầu tư xây dựng cơ sở vật chất và trang bị hạ tầng công nghệ

thông tin mang tính bền vững và chia sẻ nguồn tài nguyên thông tin là một trong

những nhân tố cần thiết thúc đẩy hoạt động thông tin phát triển. Cần lưu ý một

số yếu tố khi thực hiện được giải pháp này làm nền tảng cho sự phát triển “bền

vững” như sau: Đầu tư xây dựng cơ sở mới hay cải tạo lại các phòng chức năng

của thư viện tạo thành một khơng gian học tập năng động tích hợp trong thư

viện với nhiều bộ phận hỗ trợ học tập khác nhằm đáp ứng mọi nhu cầu sinh viên

trong việc học tập, nghiên cứu, vv… Qua quá trình khảo sát kết quả phụ lục 2

phần lớn sinh viên mong muốn nhu cầu có phòng tự học chiếm tỷ lệ 54,23%

hồn tồn đồng ý và 25,87% đồng ý với đề xuất này. Thư viện hiện nay có thể

sơn sửa lại, lắp điều hòa tạo khơng khí thống mát vào ngày hè. Như vậy, thu

hút sinh viên đến thư viện. Trên cơ sở kết hợp những dịch vụ thư viện, công

nghệ trong cùng một tòa nhà thư viện, sinh viên sẽ dễ dàng tìm thấy tất cả những

tài nguyên cần thiết phục vụ việc học tập và soạn thảo những bài khóa luận, tiểu

luận.

Bên cạnh trang thiết bị hiện đại, các công cụ hỗ trợ để cung cấp thông tin

cho người dùng tin cũng cần phải quan tâm đến, đó là các phần mềm ứng dụng

chuyên biệt cho hệ thống cơ quan thông tin – thư viện. Thực tế, công nghệ thông

tin đã và đang giúp cho đội ngũ giảng viên hay sinh viên ngày càng nâng cao và

cập nhật kiến thức chuyên môn trong hoạt động nghiên cứu của mình. Trách



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bảng 3: Hoạt động quản lý – phục vụ tại thư viện

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×
x