Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KHUYẾN KHÍCH SINH VIÊN KHAI THÁC NGUỒN TƯ LIỆU HỌC TẬP TẠI THƯ VIỆN

Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KHUYẾN KHÍCH SINH VIÊN KHAI THÁC NGUỒN TƯ LIỆU HỌC TẬP TẠI THƯ VIỆN

Tải bản đầy đủ - 0trang

7

Tư liệu nói chung là một khái niệm tương đối rộng. Tư liệu là những

thông tin rút ra từ tài liệu viết tay, in ấn, từ các đồ vật như: cơng cụ sản xuất,

cơng trình kiến trúc, đồ dùng cá nhân, phim ảnh, băng hình, internet… và là

những thơng tin sống động từ con người.

Tư liệu xuất phát từ 3 nguồn cơ bản: Con người, môi trường vật chất xung

quanh và các văn bản, sách báo, giấy tờ... Phân chia theo tính chất tồn tại của tư

liệu gồm tư liệu động: là những tư liệu sống động từ thực tế và tư liệu tĩnh: là tư

liệu cố định trong các văn bản, giấy tờ…

Theo nhóm nghiên cứu từ khái niệm tư liệu thì tư liệu học tập là các

phương tiện vật chất lưu giữ, mang hoặc phản ánh nội dung học tập của mơn học

thuộc chương trình giáo dục được người học sử dụng làm phương tiện và nguồn

để học tập theo mục tiêu và nội dung của chương trình và được giáo viên sử dụng

làm căn cứ để tổ chức, hỗ trợ học tập theo đúng mục tiêu và nội dung dạy học.

Khuyến khích là một q trình tác động đến tinh thần để khuyên và động

viên khích lệ tạo sự hăng hái, phấn chấn, tin tưởng mà cố gắng. Đồng thời tạo

điều kiện thuận lợi để phát triển nhằm đạt được mục đích.

Khuyến khích sinh viên khai thác nguồn tư liệu học tập tại thư viện là tác

động đến nhận thức và hành vi của sinh viên nhằm thu hút họ đến thư viện. Tại

thư viện sinh viên khai thác các thông tin, tư liệu khoa học và công nghệ, nghiên cứu

và học tập của giảng viên và sinh viên; lưu trữ bản gốc các luận văn thạc sĩ, luận án

tiến sĩ đã bảo vệ tại trường, các kết quả nghiên cứu khoa học, các ấn phẩm của

trường. Thơng qua biện pháp khuyến khích động viên sẽ ni dưỡng thói quen

và sự hứng thú cho sinh viên đến thư viện khai thác nguồn tư liệu phục vụ học

tập. Đồng thời phát triển tính tự giác, tích cực và tính độc lập nhận thức, khắc

phục tính thụ động, ỷ lại vào thầy hoặc người khác. Giúp sinh viên làm quen với

cách làm việc độc lập, cơ sở để nâng cao học vấn đáp ứng sự phát triển của khoa

học kỹ thuật trong thực tiễn công tác sau này. Bồi dưỡng hứng thú học tập, rèn

luyện ý chí phấn đấu, đức tính kiên trì, óc phê phán, nâng cao niềm tin và năng

lực bản thân.



8

Sinh viên đến thư viện khai thác tư liệu là hoạt động không thể thiếu để

đảm bảo cho sinh viên hoàn thành tốt các nhiệm vụ của q trình học tập nên

việc khuyến khích sinh viên đến thư viện giúp sinh viên không ngừng nâng cao

chất lượng và hiệu quả học tập, nâng cao trình độ văn hố chung cho mình để

đáp ứng u cầu của cuộc sống đặt ra có thói quen và có phương pháp tự học

suốt đời.

1.2. Vai trò của thư viện trường đại học

Trong sự nghiệp đổi mới giáo dục đại học ở Việt Nam hiện nay, với vai

trò là “giảng đường thứ 2”, là “trái tim của trường đại học”, hoạt động thư viện

trong các trường đại học đóng vai trò quan trọng, là điều kiện cần thiết đáp ứng

yêu cầu đổi mới phương pháp dạy - học và nâng cao chất lượng đào tạo. Chính

vì vậy, những năm qua việc đầu tư nâng cao năng lực, hiện đại hoá hoạt động

thông tin thư viện trong các trường đại học luôn được sự quan tâm, chỉ đạo sát

sao của Đảng, Nhà nước và các ngành, các cấp, điều này đã được thể hiện trong

các Văn kiện đại hội Đảng; Pháp lệnh thư viện; Chiến lược phát triển giáo dục;

Các văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hành chính. Quyết định số

37/2013/QĐ-TTg ngày 26/6/2013 của Thủ tướng Chính phủ về điều chỉnh quy

hoạch mạng lưới các trường đại học và cao đẳng giai đoạn 2006 - 2020 đã khẳng

định: “Tăng cường năng lực và nâng cao chất lượng hoạt động của thư viện ở

các trường, hình thành hệ thống thư viện điện tử kết nối các trường trên cùng

địa bàn, cùng một vùng và trên phạm vi toàn quốc; Thiết lập mạng thơng tin

tồn cầu và mở rộng giao lưu quốc tế cho tất cả các trường đại học, cao đẳng

trong cả nước; Quy hoạch, sắp xếp lại công tác xuất bản giáo trình, sách và tài

liệu tham khảo...”.[13, tr.3]

Quyết định số 70/2014/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ban hành Điều

lệ trường đại học, quy định tổ chức và hoạt động của trường đại học, tại khoản 1,

điều 18, đã quy định: “Thư viện, trung tâm thông tin tư liệu của nhà trường có

nhiệm vụ cung cấp các thơng tin, tư liệu khoa học và công nghệ phục vụ giảng dạy,

nghiên cứu và học tập của giảng viên và sinh viên; lưu trữ bản gốc các luận văn



9

thạc sĩ, luận án tiến sĩ đã bảo vệ tại trường, các kết quả nghiên cứu khoa học, các ấn

phẩm của trường. Thư viện, trung tâm thông tin tư liệu hoạt động theo quy chế do

Hiệu trưởng ban hành, phù hợp với pháp luật về thư viện, pháp luật về lưu trữ và

các quy định của pháp luật hiện hành có liên quan”. [14, tr5]

Bên cạnh nhiệm vụ cung cấp thông tin phục vụ hoạt động đào tạo và

nghiên cứu tại trường đại học, thư viện còn là một tiêu chí quan trọng để đánh

giá trong kiểm định chất lượng và xếp hạng trường đại học. Bộ giáo dục và đào

tạo đã ban hành Quyết định số 65/2007/ QĐ-BGDĐT, ban hành Quy định về

tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường đại học. Tại Điều 12, Tiêu chuẩn

9: Thư viện, trang thiết bị học tập và cơ sở vật chất khác quy định: “Thư viện

của trường đại học có đầy đủ sách, giáo trình, tài liệu tham khảo tiếng Việt

và tiếng nước ngồi đáp ứng yêu cầu sử dụng của cán bộ, giảng viên và

người học. Có thư viện điện tử được nối mạng, phục vụ dạy, học và nghiên

cứu khoa học có hiệu quả”. [2, tr4]

1.2.1. Vai trò của thư viện trong công tác đổi mới phương pháp học tập

Đổi mới giáo dục Đại học trong những năm gần đây đặt ra yêu cầu bức

thiết phải đổi mới phương pháp giảng dạy và học tập. Để hoạt động giảng dạy và

học tập đạt chất lượng cao mỗi giảng viên và sinh viên phải hồn thành tốt

nhiệm vụ của mình.

Trong cơng tác đổi mới phương pháp học tập, nhiệm vụ của sinh viên là

nhận nội dung bài tập, các vấn đề, câu hỏi mà giảng viên giao sau đó tiến hành

tự học, tự nghiên cứu theo phạm vi vấn đề, định hướng câu hỏi của giảng viên.

Kết quả của phương pháp học tập như vậy sẽ hình thành cho người học kỹ năng

chọn lựa thơng tin, phân tích, so sánh, đánh giá tổng hợp những kiến thức thu

thập được để đưa ra những kết luận cần thiết. Với phương pháp học tập như thế

người học luôn phải chủ động trong việc chiếm lĩnh các tri thức. Để thực hiện

tốt hình thức đào tạo mới này, giảng viên lên lớp không diễn giải lý thuyết dài

dòng mà nêu vấn đề để cả lớp cùng thảo luận hay ấn định một vấn đề cần nghiên

cứu để các sinh viên cùng thảo luận trong các buổi học sau.



10

Ở môi trường Đại học, thư viện trở thành một trong những nơi cung cấp

tri thức hiệu quả nhất cho sinh viên. Thư viện phải đóng vai trò quan trọng trong

cơng tác hỗ trợ học tập. Thư viện tìm cách thu hút người đọc bằng tiện ích mà

cơng nghệ thông tin đem lại, tạo ra không gian cho việc đọc sách, tự học, phòng

truy cập internet, tạo điều kiện cho sinh viên có thể đến thư viện học một mình,

học theo nhóm, hoặc trao đổi những thơng tin thu nhận được từ kho tài liệu của

thư viện. Bên cạnh đó, vai trò cán bộ thư viện sẽ năng động hơn, không đơn

thuần chỉ là thủ thư trông coi kho sách mà phải là người hướng dẫn bạn đọc tìm

kiếm, khai thác thông tin, tư vấn cho bạn đọc các tài liệu cần cho môn học. Qua

tầm vóc, quy mô của thư viện ta cũng có thể đánh giá được phần nào quy mô,

chất lượng đào tạo của trường Đại học đó. Với phương pháp học tập mới, mỗi

sinh viên cần phải coi thư viện là “giảng đường thứ hai” thì mới có thể hồn

thành được những u cầu về khối lượng cũng như chất lượng kiến thức của các

môn học. Thư viện là nền tảng phục vụ việc học tập, giảng dạy và nghiên cứu tại

trường đại học.

1.2.2. Vai trò của thư viện trong cơng tác nghiên cứu khoa học của sinh viên

Hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên đòi hỏi ở thư viện một khả

năng cung cấp thông tin và các dịch vụ kèm theo ngày càng mở rộng và ở trình

độ cao. Đồng thời, chính từ việc nghiên cứu đó đã trực tiếp tạo ra nguồn thông

tin khoa học ngay tại thư viện nhà trường một khối lượng ngày càng lớn. Nhìn

chung, có thể thấy: khả năng cung cấp và quản lí thơng tin của thư viện ln đòi

hỏi ngày một cao hơn, đa dạng hơn, phức tạp hơn. Đó là thực tế và nó luôn đặt

ra thách thức to lớn đối với hoạt động của thư viện. Vì vậy vai trò của thư viện

được đặt ra trong vấn đề nghiên cứu khoa học là :

- Bảo đảm việc đáp ứng các nhu cầu thông tin được hình thành trong các

quá trình nghiên cứu.

- Cung cấp điều kiện khai thác, truy cập và các dịch vụ tương ứng đến

nguồn thông tin theo yêu cầu sinh viên.



11

- Cung cấp các dịch vụ thông tin cần thiết để sinh viên có khả năng kiểm

soát và khai thác được các nguồn thông tin hiện có làm tư liệu cho hoạt động

nghiên cứu của mình.

- Cung cấp các dịch vụ trao đổi thông tin, giúp sinh viên thuận lợi trong

q trình nghiên cứu

1.3. Các biện pháp khuyến khích sinh viên khai thác nguồn tư liệu

học tập tại thư viện

1.3.1. Biện pháp đổi mới phương pháp dạy và học

Nói đến đổi mới phương pháp dạy và học là nói đến đổi mới hoạt động

của cả giảng viên và sinh viên. Thư viện đại học đóng một vai trò đặc biệt quan

trọng đối với cả giảng viên và sinh viên trong quá trình đổi mới phương pháp

dạy và học. Theo Quyết định số 43/2007/QĐ-BGDĐT ngày 15/08/2007 của Bộ

Giáo dục và Đào tạo, bắt đầu từ năm học 2007-2008 Bộ Giáo dục và Đào tạo đã

đưa ra lộ trình đào tạo học chế tín chỉ trong hệ thống giáo dục Đại học Việt Nam

[1]. Để thực hiện tốt quy chế này đòi hỏi phải có sự chuyển biến toàn diện về

cách vận hành chương trình đào tạo, mơ hình quản lý đào tạo cũng như cơ sở vật

chất phục vụ học tập trong các trường Đại học và Cao đẳng; đặc biệt, vai trò của

thư viện đối với hình thức đào tạo tín chỉ sẽ ngày càng trở nên quan trọng.

Để thực hiện tốt hình thức đào tạo mới này sinh viên phải tham gia học

tập với thái độ tích cực, chủ động vào thư viện tìm kiếm và tham khảo sách báo,

thông tin điện tử, nghiên cứu các báo cáo, luận văn các cơng trình khoa học liên

quan đến đề tài ấn định sau đó thực hiện phân tích, so sánh, phê bình đánh giá

các dữ liệu, tổng hợp kiến thức để đưa đến nhận định chung. Việc sinh viên phát

kiến, tự tìm hiểu sẽ khắc sâu vào tâm trí sinh viên hơn là việc vừa lắng nghe vừa

chép kiến thức từ giảng viên.

Như vậy, đòi hỏi sinh viên đến thư viện thu thập thông tin, tài liệu để giải

quyết những bài tập, những vấn đề mà giảng viên yêu cầu. Từ đó, giúp sinh viên

bổ sung nội dung học tập một cách đầy đủ, chuyên sâu mà còn là nơi giúp sinh

viên phát triển tri thức về ngành nghề, về khoa học; từ đó đảm bảo để sinh viên



12

có được một khối lượng kiến thức cần thiết, vững vàng bước vào đời. Ngoài ra,

với phương pháp học tập này, giảng viên và sinh viên đều là người cùng tìm

kiếm những thông tin mới, những tri thức mới về ngành nghề, về khoa học. Như

vậy mới phát huy được tư duy sáng tạo của sinh viên trong quá trình học tập.

1.3.2. Biện pháp đổi mới công tác kiểm tra, đánh giá

Đổi mới phương pháp dạy đại học phải đi đôi với việc đổi mới cách thức

đánh giá kết quả học tập của sinh viên. Trước đây cánh thức đánh giá kết quả

học tập của sinh viên chỉ chú trọng vào kết quả kỳ thi cuối khóa và việc đánh giá

chỉ chú trọng đến kiến thức chứ chưa chú trọng đến việc phát huy tư duy, khả

năng sáng tạo, khả năng làm việc nhóm, … Trong bối cảnh mới, với việc đổi

mới phương pháp dạy học, việc đánh giá kết quả học tập của sinh viên cần thiết

phải đổi mới theo hướng nhà trường và giảng viên có thể sử dụng các loại kiểm

tra khác nhau trong đánh giá quá trình đã được sử dụng ở các đại học nước ngoài

như kiểm tra ngắn, kiểm tra đột xuất, bài tập làm ở nhà, báo cáo nghiên cứu

khoa học, tiểu luận, thảo luận nhóm, thi giữa học kỳ... Cách kiểm tra đánh giá

này sẽ làm cho sinh viên chú ý việc suy luận, nghiên cứu, phân tích giải quyết

vấn đề một cách thường xuyên trong quá trình học tập, và sẽ chấm dứt tình trạng

học vẹt, học tủ, hay dùng phao để gian lận thi cử. Khi đó giảng viên sẽ khuyến

khích sinh viên tham khảo nhiều tài liệu khi làm bài ở nhà, có thể cho sinh viên

hợp tác theo nhóm, và có thể cho sinh viên sử dụng tài liệu trong các kỳ kiểm tra

đó. Với hình thức kiểm tra, đánh giá có sự thay đổi như vậy đòi hỏi sinh viên

tăng cường đến thư viện tham khảo tư liệu phục vụ cho việc học tập của mình

đạt hiệu quả.

1.3.3. Biện pháp tăng cường hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên

Căn cứ Thông tư số 19/2012/TT-BGDĐT ngày 01/6/2012 của Bộ Giáo

dục và Đào tạo về việc ban hành quy định về hoạt động nghiên cứu khoa học

của sinh viên trong các cơ sở giáo dục đại học. Hiện nay, nghiên cứu khoa học

của sinh viên là một nội dung quan trọng trong chương trình đào tạo ở trường

đại học, là nhiệm vụ của mọi sinh viên. [3]. Qua đó hình thành tư duy và



13

phương pháp nghiên cứu khoa học. Vì vậy, bên cạnh việc chú trọng phát triển và

nâng cao chất lượng hoạt động đào tạo, các trường đại học hiện nay đang ngày

càng chú tâm vào hoạt động học tập nghiên cứu khoa học của sinh viên. Muốn

thế, tạo môi trường học tập và nghiên cứu cho sinh viên là vấn đề mà các trường

đại học cần quan tâm. Sinh viên muốn làm nghiên cứu khoa học điều tất yếu

phải có tài liệu. Thư viện là một trong những môi trường học tập tốt, là địa chỉ

đáng tin cậy trong việc cung cấp thông tin, tạo động cơ học tập, hình thành kĩ

năng đọc tài liệu, kĩ năng tìm kiếm, khai thác các nguồn tài liệu đáp ứng yêu cầu

hoạt động nghiên cứu khoa học. Đây là giải pháp tạo nhu cầu kích thích sinh

viên đến thư viện.

1.3.4. Biện pháp đổi mới hoạt động thư viện

Thư viện, với chức năng cung cấp hệ thống tri thức khoa học đầy đủ và

cập nhật, là bộ phận quan trọng không thể xem nhẹ của một môi trường giáo

dục. Đối với trường Đại học, nơi mà khả năng tự học và tự nghiên cứu được đề

cao, thì vai trò của thư viện càng đề cao. Quyết định số 10/2007/QĐ-BVHTT

ngày 04/5/2007 của Bộ Văn hóa - Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du

lịch) đã yêu cầu: “Hết sức coi trọng vị trí thư viện trường đại học trong công tác

đào tạo và nghiên cứu khoa học; nâng cấp thư viện các trường đại học; xây dựng

mới, tu bổ lại trụ sở thư viện, tạo cho các thư viện hiện đại về cơ sở vật chất và

trang thiết bị; phong phú về tài liệu. Xây dựng một hệ thống thư viện đại học

mạnh, phát triển theo hướng hiện đại, thư viện điện tử, thư viện số. Có khả năng

đáp ứng các nhu cầu thông tin của người sử dụng một cách dễ dàng, nhanh

chóng”. [5]. Vì vậy, đầu tư xây dựng một thư viện với vốn tư liệu phong phú, đa

dạng; cơ sở vật chất hiện đại, nhiều chức năng, nhiều dịch vụ, đáp ứng nhu cầu

học tập và nghiên cứu ngày càng cao, có sức thu hút mạnh mẽ đối sinh viên là

hướng đi vô cùng hợp lý và đúng đắn.

1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc khuyến khích sinh viên khai thác

nguồn tư liệu học tập tại thư viện

1.4.1. Yếu tố chủ quan



14

Yếu tố chủ quan ảnh hưởng đến việc khuyến khích sinh viên khai thác

nguồn tư liệu học tập tại thư viện bao gồm: Nhận thức và nhu cầu của sinh viên

về việc khai thác nguồn tư liệu học tập tại thư viện.

Thứ nhất, trình độ nhận thức của sinh viên

Trình độ nhận thức và khả năng tự học, tự rèn luyện của sinh viên là yếu

tố quan trọng khuyến khích sinh viên đến thư viện khai thác nguồn tư liệu học

tập. Đối với những sinh viên có trình độ nhận thức tốt thì dễ thấy có hứng thú

học tập, họ ln tích cực, chủ động và khát khao tìm kiếm tri thức. Do vậy, họ

muốn đến thư viện khai thác nguồn tư liệu học tập hiệu quả. Ngược lại, khả

năng nhận thức không tốt dẫn đến tâm lý thiếu phấn đấu trong học tập và khơng

muốn đến thư viện.

Về bản chất, q trình học tập của sinh viên ở bậc đại học là quá trình

nhận thức có tính nghiên cứu. Điều này đã được thể chế hóa trong Luật giáo dục

như sau: “Phương pháp giáo dục đại học phải coi trọng bồi dưỡng năng lực tự

học, tự nghiên cứu, tạo điều kiện cho người học phát triển tư duy sáng tạo, rèn

luyện kỹ năng thực hành, tham gia nghiên cứu, thực nghiệm, ứng dụng”. Một

trong những yếu tố giúp sinh viên tự học, tự nghiên cứu đó là đến thư viện khai

thác tư liệu học tập. Bên cạnh sự hướng dẫn của giảng viên, sự quản lý của nhà

trường thì việc đến thư viện khai thác tư liệu học tập chỉ có thể thực sự đem lại

hiệu quả khi sinh viên nhận thức đầy đủ tầm quan trọng của nó và có sự nỗ lực

từ chính bản thân sinh viên. Khi chuyển sang phương thức đào tạo theo tín chỉ,

sinh viên phải thay đổi nhận thức, xóa bỏ sức ỳ để có những phương pháp học

tập tích cực, thái độ tự chủ - tự chịu trách nhiệm nhằm thích ứng với những yêu

cầu học tập mới.

Thứ hai, nhu cầu sinh viên về khai thác nguồn tư liệu học tập tại thư viện

Để sinh viên đến thư viện học tập, trước hết họ có nhu cầu đến thư viện.

Nhu cầu là yếu tố quan trọng thúc đẩy sinh viên tích cực đến thư viện khai thác

nguồn tư liệu học tập. Hiện nay, phương pháp giáo dục truyền thống, giáo dục

thụ động khơng còn phù hợp, thay vào đó là phương pháp giáo dục chủ động,



15

giáo dục khả năng tự học, tự nghiên cứu của sinh viên. Với phương pháp giáo

dục mới, giảng viên là người thiết kế, hướng dẫn, sinh viên phải tự tìm kiếm tri

thức, tham khảo các vấn đề liên quan đến môn học trước khi đến lớp, tự hoạt

động theo cách riêng, độc lập và sáng tạo. Như vậy nhu cầu sinh viên về khai

thác tư liệu học tập tại thư viện tăng cao nhằm phục vụ việc học tập, nghiên cứu

khoa học, tìm tòi tri thức.

1.4.2. Yếu tố khách quan

Yếu tố khách quan tác động đến việc khuyến khích sinh viên khai thác

nguồn tư liệu học tập tại thư viện bao gồm: hệ thống tư liệu tại thư viện, cơ sở

vật chất và hoạt động quản lý phục vụ tại thư viện.

Thứ nhất, mức độ đáp ứng hệ thống tư liệu tại thư viện

Nguồn tư liệu là cốt lõi của thư viện nên tư liệu phong phú và đáp ứng yêu

cầu của sinh viên là yếu tố tạo nên đặc tính của thư viện để thu hút sinh viên.

Với mơ hình đào tạo theo tín chỉ, một lần nữa vai trò của nguồn tư liệu lại

được khẳng định và nó có thể quyết định đến sự thành bại của mơ hình đào tạo

này. Do đó, sinh viên muốn học tập tốt trên lớp và tự học thì cần tìm đến các

nguồn học liệu do giáo viên cung cấp. Để làm được điều này, thư viện sẽ là môi

trường giúp sinh viên có thể tìm tài liệu phục vụ cho việc học tập hiệu quả. Thư

viện phải là nơi cung cấp đầy đủ các tài liệu cần thiết và không gian học tập cho

sinh viên, là nơi tư vấn thông tin giúp sinh viên có thể tự học và tự nghiên cứu.

Do đó, đối với một trường đại học, xây dựng nguồn học liệu khoa học và đa

dạng cần được chú trọng để giúp cho việc học và dạy theo tín chỉ hiệu quả và

thành cơng. Trong tiến trình chuyển đổi mơ hình đào tạo từ niên chế sang tín chỉ,

song hành với sự thay đổi về nội dung và phương pháp dạy - học, các trường đại

học cũng tập trung phát triển các nguồn tư liệu trong thư viện. Dựa vào danh

mục các tài liệu tham khảo của các môn học thuộc các ngành học được đào tạo

tại trường, trung tâm thông tin – thư viện tại các trường đại học sẽ tiến hành bổ

sung các tài liệu vật lý (sách, báo và tạp chí) hoặc đăng ký mua quyền khai thác

và sử dụng các cơ sở dữ liệu thích hợp. Đó là nơi bổ sung các tài liệu vật lý cũng



16

như nguồn tài nguyên số ở cấp độ chi tiết sâu hơn và sát hơn với nhu cầu tin của

sinh viên.

Thứ hai, mức độ đáp ứng cơ sở vật chất

Thư viện phải đóng vai trò quan trọng trong cơng tác hỗ trợ học tập và

giảng dạy. Thư viện tìm cách thu hút người đọc bằng cơ sở vật chất và không

gian đáp ứng nhu cầu của sinh viên. Thư viện phải trở thành trung tâm nghiên

cứu trong các trường Đại học, phải tạo được sự hấp dẫn đối với giáo viên và

sinh viên bởi tính chuyên dụng, tiện nghi và mỹ quan.

Khi thư viện xây dựng những cơ sở dữ liệu và tổ chức thành các nguồn

tin, các chủ đề liên quan đến việc giảng dạy và nghiên cứu. Trang thiết bị của

thư viện đầy đủ tạo mọi điều kiện sinh viên học tập và nghiên cứu. Đồng thời,

thư viện tạo ra không gian cho việc đọc sách, tự học, phòng truy cập internet, tạo

điều kiện cho sinh viên có thể đến thư viện học một mình, học theo nhóm, hoặc

trao đổi, tọa đàm những thông tin thu nhận được từ kho tài liệu của thư viện.

Như vậy, cơ sở vật chất thư viện hiện đại đáp ứng yêu cầu của sinh viên sẽ

khuyến khích họ đến thư viện.

Thứ ba, hoạt động quản lý - phục vụ tại thư viện

Người cán bộ thư viện đại học sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc

hướng dẫn đối với các sinh viên trong và khuyến khích họ sử dụng sách báo, tài

liệu của thư viện để tham khảo, sưu tầm, học hỏi.

Với vai trò đóng góp vào sự đổi mới phương pháp giảng dạy và học tập

tại trường, cán bộ thư viện phải chủ động giới thiệu, cung cấp nguồn thông tin

phong phú, đa dạng. Đồng thời, cán bộ thư viện tạo mơi trường thân thiện, thơng

thống, chun nghiệp khơng chỉ bằng khả năng chun mơn, nghiệp vụ giỏi mà

còn bằng khả năng giao tiếp tốt. Các cán bộ thư viện ngày nay khơng thể chỉ

bằng lòng là những người “thủ kho giữ tài liệu” với phương châm “vui vẻ, hòa

nhã, nhiệt tình” mà còn phải mà phải là người hướng dẫn bạn đọc tìm kiếm, khai

thác thơng tin, tư vấn cho bạn đọc các tài liệu cần cho môn học; năng động, thạo

nghề, có trình độ ngoại ngữ, tin học để chỉ ra những tài liệu độc giả cần một



17

cách nhanh nhất, chính xác nhất. Như vậy, khi thư viện đáp ứng được nhiều tiêu

chí khác nhau từ nguồn tài nguyên, trang thiết bị, nhân sự, thái độ phục vụ cho

đến các sản phẩm và dịch vụ khai thác cung cấp thông tin sẽ là yếu tố quan

trọng thúc đẩy sinh viên đến thư viện khai thác nguồn tư liệu học tập vơ giá.

Tóm lại, để khuyến khích sinh viên đến thư viện khai thác nguồn tư liệu

học tập chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, cả chủ quan lẫn khách quan. Mỗi yếu

tố có vị trí, vai trò khác nhau song chúng có quan hệ chặt chẽ, bổ sung và tác

động qua lại lẫn nhau. Vì vậy, muốn nâng cao sự tích cực sinh viên đến thư viện

phải xem xét đồng thời tác động vào nhiều yếu tố theo hướng tích cực hóa.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KHUYẾN KHÍCH SINH VIÊN KHAI THÁC NGUỒN TƯ LIỆU HỌC TẬP TẠI THƯ VIỆN

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×
x