Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bốn là, quy hoạch lại mạng lưới, đa dạng hóa các loại hình trường, lớp dạy nghề. Sắp xếp lại hệ thống trường và cơ sở dạy nghề theo hướng chuyên sâu. Phương thức hoạt động của trung tâm dạy nghề phải thực hiện theo quy định của pháp luật về đào tạo; ...

Bốn là, quy hoạch lại mạng lưới, đa dạng hóa các loại hình trường, lớp dạy nghề. Sắp xếp lại hệ thống trường và cơ sở dạy nghề theo hướng chuyên sâu. Phương thức hoạt động của trung tâm dạy nghề phải thực hiện theo quy định của pháp luật về đào tạo; ...

Tải bản đầy đủ - 0trang

84



nghề nghiệp thƣờng rất hạn chế, thƣờng xuyên thay đổi cơng việc hoặc cơng

việc làm chƣa ổn định.

Thứ hai: Nhóm tuổi từ 21-25 có 43,75% số ngƣời đƣợc hỏi đủ việc

làm,còn lại 50% thiếu việc làm và 6,25% thất nghiệp. Đối với các đối tƣợng sử

dụng lao động, nhóm tuổi này chiếm số lƣợng khá hạn chế trong tổ chức. Đây là

nhóm lao động có tuổi đời trẻ, có sức khỏe, một bộ phận có trình độ và đã tích

lũy đƣợc một ít kỹ năng sống, kinh nghiệm. Tuy nhiên, nhóm TNNT ở lứa tuổi

này thƣờng mới lập gia đình nên gặp nhiều khó khăn về kinh tế, trách nhiệm, thu

nhập, đời sống chƣa ổn định nên thƣờng có tâm lý thay đổi cơng việc, gắn bó với

tổ chức khơng lâu dài.

Thứ ba: Nhóm tuổi từ 26-30, đây là nhóm tuổi chiếm số lƣợng khá lớn

trong tổng số lao động của tổ chức và có tỷ lệ đủ việc làm cao nhất trong số 3

nhóm tuổi. TNNT ở độ tuổi này thƣờng đã lập gia đình, đã tích lũy đƣợc kỹ năng

sống, kinh nghiệm, vốn.

b) Trình độ của lao động thanh niên nơng thơn

Những năm gần đây, trình độ chun môn kỹ thuật của TNNT huyện

Đoan Hùng đã đƣợc nâng cao với tỷ lệ TNNT có trình độ đƣợc nâng lên đáng

kể. Tuy nhiên, với đặc thù là khu vực nơng nghiệp, nơng thơn do vậy về mặt

trình độ chun mơn kỹ thuật của TNNT trong vùng điều tra còn rất thấp, nó

phản ánh chất lƣợng lao động trong vùng điều tra.



85



Bảng 3.24: Ảnh hưởng của trình độ chun mơn

kỹ thuật đến việc làm của thanh niên nông thôn



(Đơn vị tính: Ngƣời )

Trình độ CMKT



Tổng số



Đại học, cao đẳng



19



Đủ

Tỷ lệ

việc

%

làm

23,75 9



Trung cấp



14



17,5



7



8,75



7



8,75



Sơ cấp



13



16,25



4



5



9



11,25



Công nhân kỹ thuật



13



16,25



5



6,25



8



10



Chƣa qua đào tạo chuyên môn



21



26,25



2



2,5



19



23,75



Cộng



80



100



27



33,75



53



66,25



11,25



Thiếu

việc

làm

10



Tỷ lệ

%



Tỷ lệ

%

12,5



(Nguồn: Số liệu điều tra)

Qua kết quả điều tra trình độ chun mơn kỹ thuật của lao động TNNT

trong vùng khảo sát cho thấy: tỷ lệ ngƣời thiếu việc làm ở lao động thanh niên

chƣa qua đào tạo - tức là khơng có trình độ chun mơn kỹ thuật - lớn hơn

nhiều so với lao động đã qua đào tạo. Trong tổng số 80 ngƣời đƣợc hỏi thì 9

ngƣời có trình độ Đại học, cao đẳng đủ việc làm (chiếm 11,25%), có 7 ngƣời

có trình độ Trung cấp đủ việc làm (chiếm 8,75%), có 4 ngƣời có trình độ Sơ

cấp đủ việc làm (chiếm 5%), có 5 ngƣời có trình độ Cơng nhân kỹ thuật đủ

việc làm (chiếm 6,25%) và chỉ có 2 ngƣời chƣa qua đào tạo chuyên môn đủ

việc làm (chiếm 2,5%). Trong tổng số 80 ngƣời khảo sát thì lao động chƣa

qua đào tạo chiếm 26,25% trong tổng số lao động và số lƣợng TNNT thiếu

việc làm ở đây chiếm số lƣợng lớn nhất. Vì chƣa đƣợc đào tạo nên vấn đề tìm

việc làm của lao động gặp nhiều khó khăn, các DN, tổ nhóm sản xuất trên địa

bàn chủ yếu cần tuyển dụng lao động có nghiệp vụ chun mơn kỹ thuật nên

bộ phận lao động phổ thông không đáp ứng đƣợc yêu cầu của nhà tuyển dụng



86



do vậy ngƣời thiếu việc làm chủ yếu tập trung ở nhóm này.

Trong thực tế đa số TNNT có trình độ văn hóa khơng cao, ít đƣợc trang

bị về trình độ CMKT. Nhiều ngƣời đã qua đào tạo ở các cấp trình độ cao

đẳng, đại học, song phần lớn họ đều thoát li khỏi địa phƣơng, tham gia lao

động, công tác ở các khu vực khác, số còn lại đã qua đào tạo nhƣng khơng

phù hợp với cơ cấu ngành nghề và yêu cầu của sản xuất nên chƣa tìm đƣợc

cơng việc làm thích hợp nên thu nhập, công việc chƣa ổn định.

Từ số liệu và phân tích trên cho thấy trình độ chun mơn kỹ thuật có

ảnh hƣởng rất lớn đến việc làm của lao động TNNT. Yêu cầu lao động qua

đào tạo, lao động có nghề đang là nhu cầu cấp bách và khách quan của thị

trƣờng lao động nói chung và TNNT nói riêng, do vậy, việc tăng cƣờng

công tác đào tạo nghề, chuyên môn cho lực lƣợng lao động TNNT của

trong những năm tới phải đƣợc xem là hƣớng ƣu tiên trọng điểm.

3.1.3.5. Các nhân tố khác

Bên cạnh các nhân tố nêu trên còn một số nguyên nhân ảnh hƣởng đến

tạo việc làm cho TNNT huyện Đoan Hùng nhƣ: sự tác động của biến đổi khí

hậu, thời tiết đặc biệt là thiên tai hạn hán, lũ lụt dịch bệnh; tác động do canh

tác của con ngƣời dẫn đến bạc màu, rửa trôi đất làm cho một số diện tích đất

khơng thể canh tác đƣợc; q trình đơ thị hóa, sự phát triển q nhanh của dân

số dẫn đến quỹ đất dùng trong canh tác phải chuyển đổi mục đích sử dụng, và

việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng ngồi ra q trình tích tụ đất vì một số lí do

nào đấy dẫn đến một bộ phận lớn lao động ở khu vực nông thơn thiếu việc

làm. Bên cạnh đó, sự khác nhau giữa vùng miền trong huyện đã gây ra sự ảnh

hƣởng không nhỏ đến việc làm và thu nhập của thanh niên ở khu vực nơng

thơn, huyện cần có sự đầu tƣ để tạo việc làm, đặc biệt phải tăng cƣờng hỗ trợ

cho các xã khó khăn nhằm tạo việc làm và tăng thu nhập để ngày càng rút

ngắn khoảng cách chênh lệch giữa các vùng trong toàn huyện.



87



3.1.4. Đánh giá chung về công tác tạo việc làm cho thanh niên nông thôn

tại huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ

3.1.4.1. Những thành công

Trong những năm qua, đƣợc sự quan tâm nỗ lực của các cấp ủy Đảng,

chính quyền, các ban ngành đồn thể; sự chủ động tích cực của bản thân gia

đình và TNNT; trình độ, nhận thức của thanh niên nói chung và của TNNT

nói riêng đã đƣợc nâng lên nên kéo theo việc làm có nhiều chuyển biến theo

chiều hƣớng tích cực, cụ thể nhƣ sau:

- Quan niệm về việc làm và tạo việc làm cho thanh niên nói chung và

TNNT nói riêng đã có sự thay đổi căn bản về nhận thức của các cấp, của các

tổ chức, trong đó có đồn TNCS Hồ Chí Minh; ngƣời lao động và ngƣời sử

dụng lao động trong độ tuổi thanh niên ở nông thôn. Ngƣời lao động trong độ

tuổi thanh niên đã đƣợc đặt ở vị trí trọng tâm và ln năng động, chủ động

trong việc tự tạo việc làm và tìm kiếm việc làm cho mình, cho ngƣời khác

trong các thành phần kinh tế, trong các ngành kinh tế; không trông chờ ỷ lại

vào gia đình, vào sự bố trí sắp xếp của Nhà nƣớc nhƣ trƣớc đây. Mặt khác,

cùng với các chính sách hỗ trợ các nguồn lực của Nhà nƣớc, vai trò của Đồn

TNCS Hồ Chí Minh đã có những chủ trƣơng, giải pháp tạo nhiều cơ hội, điều

kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân tự do kinh doanh, tổ chức sản xuất,

mở rộng quy mô sản xuất, đầu tƣ máy móc thiết bị để thuê mƣớn nhiều lao

động trẻ để giải quyết đƣợc nhiều việc làm cho TNNT. Đây là một trong

những yếu tố rất quan trọng mang tính đột phá tạo mơi trƣờng hành lang pháp

lý thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân, DN trên địa bàn, tận dụng đƣợc các nguồn

lực trong xã hội để phát triển SXKD tạo nhiều việc làm tại chỗ cho TNNT.

- Cơ cấu lao động TNNT chuyển dịch theo hƣớng tích cực do tác động

của q trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn. GQVL,

tạo việc làm cho TNNT đã có những chuyển biến tích cực, số việc làm mới và



88



số TNNT có việc làm ngày càng tăng. Việc làm ở khu vực nông thôn giờ đây

không chỉ dừng lại ở những việc làm thuần nông mà phát triển với nhiều lĩnh

vực mới, ngành nghề mới, đa dạng và phong phú hơn, góp phần giải quyết

đƣợc ngày càng nhiều việc làm cho TNNT, đồng thời tạo ra nhiều sản phẩm

mang tính hàng hóa và đem lại nguồn thu nhập ổn định. Tỷ trọng lao động

của thanh niên thuần túy làm nông nghiệp cũng giảm dần, thay vào đó là mơ

hình VAC, trang trại với việc đẩy mạnh nuôi trồng cây trồng, vật nuôi đặc sản

mang lại lợi ích kinh tế nhƣ bƣởi, nhãn, đinh lăng, cá, lợn rừng ....; tỷ trọng

làm trong ngành công nghiệp, TTCN có xu hƣớng tăng do có chính sách hỗ

trợ phát triển làng nghề truyền thống (nghề mộc ở Tiêu Sơn, chế biến gỗ ở

Ngọc Quan, làm mành - đũa xuất khẩu ở Quế Lâm ..) cùng với sự hình thành

và mở rộng của cụm cơng nghiệp xã Sóc Đăng đã tạo việc làm cho nhiều

TNNT trong và ngoài địa bàn huyện.

- Công tác trợ giúp vốn, đặc biệt là nguồn vốn vay ủy thác của ngân

hàng chính sách – xã hội, hỗ trợ đào tạo cho TNNT đã giúp và tạo điều kiện

thuận lợi cho thanh niên có nhiều cơ hội tìm kiếm việc làm ở thị trƣờng lao

động trong và ngoài nƣớc. Trung tâm dạy nghề hoạt động có hiệu quả đã thực

hiện tốt các chức năng hƣớng nghiệp, tƣ vấn, giới thiệu việc làm tham gia đào

tạo và tổ chức liên kết đào tạo nghề giúp cho TNNT có nhiều cơ hội tìm kiếm

việc làm. Các chƣơng trìn hỗ trợ, GQVL cho thanh niên nói chung và TNNT

nói riêng đã có sự vào cuộc và xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của các

ngành, các cấp, tổ chức chính trị - xã hội với hệ thống văn bản, kế hoạch phối

hợp cụ thể, rõ ràng.

3.1.4.2. Những tồn tại

Bên cạnh những kết quả đạt đƣợc, vấn đề tạo việc làm cho TNNT

huyện Đoan Hùng vẫn còn bộc lộ những hạn chế, tồn tại nhƣ sau:



89



- Tỷ lệ thất nghiệp và thiếu việc làm của TNNT vẫn còn cao và chuyển

dịch chậm; chất lƣợng,trình độ lao động thấp. Sự chuyển biến về nhận thức,

nhất là nhận thức của một bộ phận thanh niên nhất là thanh niên các xã vùng

khó khăn còn chậm và vẫn còn có tƣ tƣởng thụ động, ỷ lại, trơng chờ; ít có

tính đột phá. Cơ cấu lao động TNNT mất cân đối, tỷ lệ lao động phổ thông

chƣa qua đào tạo chiếm đa số, trình độ lao động có chun mơn kỹ thuật, nhất

là trình độ đại học nơng nghiệp làm việc ở nơng thơn có tỷ lệ rất thấp.

- Cơng tác truyền thông giáo dục về việc làm cho TNNT và các chính

sách tạo việc làm chƣa thực sự đƣợc coi trọng, do đó chƣa huy động đƣợc hết

mọi nguồn lực của xã hội để phát triển kinh tế tạo việc làm cho TNNT. Sự

phối hợp trong GQVL cho TNNT giữa các ngành, các cấp các đoàn thể trong

việc xây dựng chiến lƣợc, kế hoạch đầu tƣ, trong việc lồng ghép các chƣơng

trình dự án tạo mở việc làm cho thanh niên chƣa thật tốt. Vai trò của tổ chức

đồn thanh niên trong công tác tham gia GQVL cho thanh niên ở một số địa

phƣơng chƣa tốt, chƣa thực sự đồng hành cùng thanh niên trên con đƣờng lập

thân, lập nghiệp.

- Công tác cho thanh niên vay vốn từ Ngân hàng chính sách, từ nguồn

của Trung ƣơng đoàn để GQVL cho TNNT triển khai chƣa sâu rộng, công tác

tổ chức thực hiện chƣa kiên quyết, thiếu những giải pháp để giúp thanh niên

sử dụng nguồn vốn vay có hiệu quả; nhiều địa phƣơng để tồn đọng vốn do

khơng có dự án kinh tế khả thi hiệu quả GQVL từ các dự án còn thấp.

- Cơng tác hƣớng nghiệp, tƣ vấn giới thiệu việc làm chƣa thực sự coi

trọng và chƣa mang lại hiệu quả cao. Hoạt động dạy nghề chƣa đƣợc sắp xếp

hợp lý theo hƣớng chuyên sâu, chƣa đƣợc đầu tƣ đúng mức về cơ sở vật chất,

trang thiết bị dạy học; đội ngũ giáo viên, nội dung chƣơng trình đào tạo còn

nhiều hạn chế, bất cập. Do đó, chất lƣợng đào tạo còn thấp, chi phí đào tạo

cao, chƣa đáp ứng đƣợc nhu cầu của thị trƣờng lao động.



90



3.1.4.3. Những nguyên nhân của tồn tại

- Đoan Hùng là một huyện miền núi có nền kinh tế phát triển còn chậm,

chƣa ổn định và chƣa đồng đều giữa các xã; do những đặc điểm về địa lý,

thiếu những tiền đề điều kiện vật chất cần thiết để thay đổi nhanh về cơ cấu

kinh tế theo hƣớng CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn, đặc biệt là cơ sở hạ

tầng, vốn, khoa học - công nghệ, giáo dục - đào tạo, nguồn nhân lực trẻ có

chất lƣợng cao. Đó là nguyên nhân cơ bản làm hạn chế khả năng phát triển

SXKD, tạo mở việc làm cho TNNT huyện Đoan Hùng. Bên cạnh đó, q

trình CNH, đơ thị hóa diễn ra khá chậm và không đều, các cơ sở sản xuất

công nghiệp phát triển và tăng nhanh về số lƣợng nhƣng quy mô tƣơng đối

nhỏ vì thế giải quyết đƣợc rất ít việc làm cho TNNT.

- Năng lực lãnh đạo, quản lý của các cấp, các ngành trong đó có vai trò

tham mƣu và tham gia GQVL cho TNNT của Đoàn thanh niên và các phòng

ban còn bộc lộ những yếu kém, cơ chế phối hợp chƣa đồng bộ, nhịp nhàng và

cụ thể; một số chƣơng trình kế hoạch về tƣ vấn, hỗ trợ vốn vay, việc làm và

dạy nghề đã đƣợc triển khai cho Đồn viên thanh niên nhƣng còn mang tính

hình thức, chƣa mang lại hiệu quả.

- Ngƣời lao động trong độ tuổi thanh niên sống ở nông thôn nên chƣa

nêu cao đƣợc ý thức trách nhiệm trong việc chuẩn bị kiến thức, kỹ năng, tính

chủ động trong việc tìm việc làm và tự tạo việc làm trên thị trƣờng lao động.

Trình độ chun mơn kỹ thuật còn nhiều hạn chế, đây là yếu tố tạo nên rào

cản đối với ngƣời lao động ở khu vực nông thôn trong việc tiếp cận những

thành tựu tiến bộ của khoa học cho SXKD.

- Một số nguyên nhân khác nhƣ: Diện tích đất canh tác cho ngƣời lao

động ít và ngày càng bị thu hẹp, manh mún và phân tán trong khi số lao động

không những khơng thay đổi mà còn tăng lên, trong khi thời gian cần thiết để

tiến hành lao động sản xuất thì q ít dẫn đến thời gian nhàn rỗi trong năm



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bốn là, quy hoạch lại mạng lưới, đa dạng hóa các loại hình trường, lớp dạy nghề. Sắp xếp lại hệ thống trường và cơ sở dạy nghề theo hướng chuyên sâu. Phương thức hoạt động của trung tâm dạy nghề phải thực hiện theo quy định của pháp luật về đào tạo; ...

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×