Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT CHÍNH QUYỀN CƠ SỞ

CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT CHÍNH QUYỀN CƠ SỞ

Tải bản đầy đủ - 0trang

6



cũng chính là cơng việc của chính quyền. Cán bộ, công chức cấp xã hàng ngày sinh

hoạt cùng với nhân dân, mà còn có những mối quan hệ gia tộc, làng xóm lâu đời,

với những ràng buộc về truyền thống, phong tục, tập qn.

- Chính quyền cấp cơ sở có chức năng, thẩm quyền giải quyết những công

việc gắn với thực hiện phƣơng châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”,

đồng thời cũng là cơ sở đảm bảo cho việc thực hiện phƣơng châm này một cách có

hiệu quả nhất.

1.1.1.2. Đội ngũ cán bộ chủ chốt chính quyền cơ sở

Khái niệm cán bộ theo quy định tại Luật cán bộ, cơng chức

Kỳ họp thứ 4, Quốc hội khố XII đã thơng qua Luật cán bộ, cơng chức có

hiệu lực thi hành vào ngày 01/01/2010, quy định: „„Cán bộ là công dân Việt Nam,

đƣợc bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ

quan của Đảng Công sản Việt Nam, Nhà nƣớc, tổ chức chính trị - xã hội ở trung

ƣơng, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ƣơng (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở

huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong

biên chế và hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc” [23].

Với quy định này, khái niệm cán bộ đã đƣợc làm rõ hơn, bằng việc có định

nghĩa riêng thế nào là cán bộ, thế nào là công chức.

Cán bộ cấp xã theo qui định của Luật cán bộ, công chức

„„Cán bộ xã, phƣờng, thị trấn (sau đây gọi chung là cán bộ cấp xã), là công

dân Việt Nam, đƣợc bầu giữ chức vụ theo nhiệm kỳ trong Thƣờng trực Hội đồng

nhân dân, Ủy ban nhân dân, Bí thƣ, Phó Bí thƣ Đảng ủy, ngƣời đứng đầu tổ chức

chính trị - xã hội ‟‟ [23].

Tại Nghị định số 92/2009/NĐ-CP ngày 22/10/2009 của Chính Phủ về chức

danh, số lƣợng, một số chế độ, chính sách đối với cán bộ, công chức ở xã, phƣờng,

thị trấn và những ngƣời hoạt động không chuyên trách ở cấp xã thì: Cán bộ cấp xã

có các chức vụ sau đây:

- Bí thƣ, Phó Bí thƣ Đảng ủy;

- Chủ tịch, Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân;



7



- Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân;

- Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam;

- Bí thƣ Đồn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh;

- Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam;

- Chủ tịch Hội Nông dân Việt Nam (áp dụng đối với xã, phƣờng, thị trấn có

hoạt động nơng, lâm, ngƣ, diêm nghiệp và có tổ chức Hội Nông dân Việt Nam);

- Chủ tịch Hội Cựu chiến binh Việt Nam [28].

1.1.2. Lý luận về năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ chủ chốt chính quyền cơ sở

1.1.2.1. Khái niệm năng lực

Năng lực nói chung và năng lực quản lý nói riêng là những khái niệm quen

thuộc đối với mọi ngƣời. Tuy nhiên thực chất năng lực là gì? Năng lực quản lý là

gì? Có thể đang là những vấn đề còn bỏ ngỏ đối với nhiều ngƣời. Để trả lời câu hỏi

“năng lực quản lý là gì?” trƣớc hết chúng ta phải hiểu rõ năng lực là gì. Có rất nhiều

khái niệm về năng lực:

- Năng lực là tập hợp các khả năng, nguồn lực của một con ngƣời hay một tổ

chức nhằm thực thi một cơng việc nào đó.

- Theo quan điểm của những nhà tâm lý học: “năng lực là tổ hợp các thuộc

tính độc đáo của cá nhân, phù hợp với những yêu cầu của một hoạt động nhất định,

đảm bảo cho hoạt động đó đạt hiệu quả cao” [17].

Các năng lực hình thành trên cơ sở của các tƣ chất tự nhiên của cá nhân nó

đóng vai trò quan trọng, năng lực của con ngƣời khơng phải hồn tồn do tự nhiên

mà có, phần lớn do cơng tác, do tập luyện, đào tạo, bồi dƣỡng mà có. Đào tạo “là

q trình hoạt động có mục đích, có tổ chức, nhằm hình thành và phát triển có hệ

thống các tri thức, kỹ năng, kỹ sảo, thái độ…để hoàn thiện nhân cách cho mỗi cá

nhân, tạo tiền đề cho họ có thể vào đời hành nghề một cách có năng suất và hiệu

quả” [16]. Bồi dƣỡng “là quá trình nâng cao trình độ chun mơn, kiến thức, kỹ

năng nghề nghiệp một cách thƣờng xun, q trình tăng cƣờng năng lực nói chung

trên cơ sở kiến thức, kỹ năng đã đƣợc đào tạo” [16].

Tâm lý học chia năng lực thành 02 loại: năng lực chung và năng lực chuyên

môn (năng lực chuyên biệt).



8



“Năng lực chung: là năng lực cần thiết cho nhiều lĩnh vực hoạt động khác

nhau, chẳng hạn những thuộc tính về thể lực, về trí lực, về trí tuệ (quan sát, trí nhớ,

tƣ duy, tƣởng tƣợng, ngơn ngữ…) là những điều kiện cần thiết để giúp cho nhiều

lĩnh vực hoạt động có kết quả.

Năng lực riêng biệt (năng lực chuyên môn): là sự thể hiện độc đáo các phẩm

chất riêng biệt, có tính chun mơn, nhằm đáp ứng u cầu của một lĩnh vực hoạt

động chuyên biệt với kết quả cao chẳng hạn nhƣ: năng lực tổ chức, năng lực âm

nhạc, năng lực kinh doanh, hội hoạ, toán học...” [12].

Năng lực chung và năng lực chun mơn có quan hệ qua lại hữu cơ với nhau,

năng lực chung là cơ sở của năng lực chuyên môn, nếu chúng càng phát triển thì

càng dễ thành đạt đƣợc năng lực chun mơn. Ngƣợc lại sự phát triển của năng lực

chuyên môn trong những điều kiện nhất định lại có ảnh hƣởng đối với sự phát triển

của năng lực chung. Trong thực tế mọi hoạt động có kết quả và hiệu quả cao thì mỗi

ngƣời đều phải có năng lực chung phát triển ở trình độ cần thiết và có một vài năng

lực chuyên môn tƣơng ứng với lĩnh vực công việc của mình. Những năng lực cơ

bản này khơng phải là bẩm sinh, mà nó đƣợc giáo dục, đào tạo, bồi dƣỡng và phát

triển ở mỗi ngƣời. Năng lực của một ngƣời phối hợp trong mọi hoạt động là nhờ

khả năng tự điều khiển, tự quản lý, tự điều chỉnh ở mỗi cá nhân đƣợc hình thành

trong quá trình sống và giáo dục của mỗi ngƣời. Để nắm đƣợc cơ bản các dấu hiệu

khi nghiên cứu bản chất của năng lực ta cần phải xem xét trên một số khía cạnh sau:

Năng lực là sự khác biệt tâm lý của cá nhân ngƣời này khác ngƣời kia, nếu

một sự việc thể hiện rõ tính chất mà ai cũng nhƣ ai thì khơng thể nói về năng lực.

Năng lực chỉ là những khác biệt có liên quan đến hiệu quả việc thực hiện một hoạt

động nào đó chứ khơng phải bất kỳ những sự khác nhau cá biệt chung chung nào.

Khái niệm năng lực không liên quan đến những kiến thức kỹ năng, kỹ xảo đã

đƣợc hình thành ở một ngƣời nào đó, năng lực chỉ làm cho việc tiếp thu các kiến

thức kỹ năng, kỹ xảo trở nên dễ dàng hơn.

1.1.2.2. Năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ chủ chốt chính quyền cơ sở

Năng lực quản lý của cán bộ là sự phối hợp giữa các yếu tố kiến thức, kỹ



9



năng, thái độ của ngƣời cán bộ để hoàn thành nhiệm vụ đƣợc giao. Năng lực của

ngƣời cán bộ là nguồn lực chủ yếu của tổ chức để có thể vận hành và thực thi nhiệm

vụ của mình. Năng lực quản lý là tổng hợp các kiến thức, kỹ năng và hành vi thái độ

mà một nhà quản lý cần có. Nhƣ vậy để trở thành một nhà quản lý, ngƣời quản lý

cần có các kiến thức nền tảng cũng nhƣ chuyên sâu để chỉ đạo, điều hành một tổ

chức. Kiến thức của một nhà quản lý cần có có thể trải dài từ kiến thức cơ bản

(tốn, lý, hóa…), kiến thức cơ sở (kinh tế học, luật học, hành chính học, quản trị

học…), cho đến các kiến thức thuộc về chun mơn nhƣ hoạch định chính sách,

hoạch định chiến lƣợc, thuật quản lý, giải quyết vấn đề và ra quyết định, động viên

khuyến khích…Để đảm bảo cho hoạt động quản lý có hiệu quả bên cạnh những gì

thuộc về công việc, chuyên môn, nghiệp vụ, cán bộ quản lý còn phải trang bị cho

mình những kiến thức thuộc về các lĩnh vực khác nhƣ văn hóa - xã hội, lịch sử,

nghệ thuật, tự nhiên…nhằm làm giàu thêm vốn sống của mình.

Năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ chủ chốt chính quyền cơ sở gồm: nhóm

năng lực quản lý cơ bản (hay còn gọi là năng lực quản lý chung), nhóm năng lực

quản lý chuyên biệt.

+ Nhóm năng lực cơ bản: Hoạch định (lập kế hoạch); Điều hành (tổ chức);

Lãnh đạo và điều hòa, phối hợp hoạt động; Kiểm tra, giám sát...

+ Nhóm năng lực quản lý chuyên biệt: Năng lực hiểu pháp luật và áp dụng

thực hiện đúng pháp luật; Năng lực phân tích, dự báo các vấn đề kinh tế - xã hội;

Năng lực giao tiếp ứng xử; Năng lực thuyết phục, động viên cấp dƣới; Năng lực

giải quyết khiếu nại, tố cáo; Năng lực sử dụng nhân viên; Kỹ năng nói và viết; Kỹ

năng ra quyết định...

- Ngoài ra, năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ chủ chốt chính quyền cơ sở

cần một số yếu tố khác nhƣ: tổ chức bộ máy, cơ chế hoạt động, chế độ tiền lƣơng...

Nhƣ vậy, tác giả cho rằng: "Năng lực quản lý của cán bộ chủ chốt chính

quyền cơ sở là khả năng biết vận dụng kiến thức và kinh nghiệm để thực hiện và

hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình phù hợp với mục tiêu của tổ chức".



10



1.1.2.3. Các yếu tố cơ bản tạo nên năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ chủ chốt

chính quyền cơ sở

Hiệu quả của mỗi hoạt động phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó năng lực,

kỹ năng góp phần quan trọng để khẳng định cái “tơi” của mỗi cá nhân trong xã hội.

Cùng đƣợc đào tạo chuyên môn, cùng một môi trƣờng công tác nhƣ nhau nhƣng họ

khác nhau về phƣơng pháp làm việc, về cách thức đạt đƣợc kết quả dẫn tới hiệu quả

công việc của họ rất khác nhau. Mỗi nghề cần có những yêu cầu về năng lực, kỹ

năng đặc thù để thích ứng. Việc xác định những năng lực, kỹ năng cần thiết cho một

nghề để từ đó đặt ra mục tiêu rèn luyện, phấn đấu, mặt khác để các nhà quản lƣ có

kế hoạch đào tạo, bồi dƣỡng những kiến thức, những kỹ năng còn chƣa đáp ứng u

cầu cơng việc cho họ là một việc làm có ý nghĩa xã hội to lớn.

Năng lực là thƣớc đo khả năng thực hiện cơng việc, nó đƣợc tạo thành do sự

kết hợp của kiến thức, kỹ năng và thái độ giúp ngƣời đó thực hiện các vai trò và

nhiệm vụ cơng việc đƣợc giao. Từ đó, chúng ta có thể rút ra kết luận sau đây:

Năng lực = Kiến thức + Kỹ năng + Thái độ

Kiến thức: là sự hiểu biết chuyên ngành về một lĩnh vực cụ thể. Kiến thức của

mỗi ngƣời là tập hợp tất cả những gì thuộc về quy luật hoặc có tính quy luật của thế

giới xung quanh đƣợc ngƣời đó thừa nhận. Kiến thức là một khái niệm rất rộng, tuy

nhiên kiến thức có thể chia thành 03 mảng chính: (1) kiến thức chun mơn, (2) kiến

thức về văn hóa - xã hội, (3) kiến thức về khoa học tự nhiên - địa lý. Kiến thức là

điều hiểu biết do tìm hiểu, học tập mà nên, những hiểu biết thu nhân đƣợc từ sách vở,

từ học hỏi và từ kinh nghiệm cuộc sống của mình. Kiến thức chun mơn (về quản

lý) - khoa học quản lý (trình độ đào tạo chuyên môn, nghiệp vụ, bao gồm cả khoa học

pháp luật, hành chính, thơng tin... tạo nên các năng lực về quản lý nói chung).

Kỹ năng: Cho đến nay khái niệm kỹ năng với tƣ cách là khả năng biến kiến

thức thành hành động đƣợc nhiều tác giả đồng ý là: "Khả năng của chủ thể thực

hiện thuần thục một hay một chuỗi hành động trên cơ sở hiểu biết (kiến thức) và

kinh nghiệm nhằm tạo ra kết quả mong đợi"; “là khả năng, sự thành thạo trong áp

dụng các kỹ thuật, phƣơng pháp và công cụ để giải quyết công việc”. Kỹ năng đối



11



với ngƣời quản lý đƣợc hiểu là khả năng vận dụng một cách thuần thục những kiến

thức, kinh nghiệm thu đƣợc của cá nhân trong lĩnh vực quản lý nhằm tăng hiệu quả,

hiệu lực cơng việc. Một năng lực có thể bao gồm nhiều kỹ năng, kỹ năng đƣợc hình

thành qua quá trình học hỏi, đào tạo và tích luỹ kinh nghiệm. Kỹ năng cũng là một

nhân tố vô cùng quan trọng đảm bảo cho sự thành công đối với bất cứ một hoạt

động quản lý nào. Kỹ năng chính là thâm niên, kỹ năng chính là kinh nghiệm và kỹ

năng chính là mức độ thành thạo trong cơng tác quản lý. Vì vậy kỹ năng về thực

chất, chính là hiện thân của kiến thức và kỹ năng chính là biểu hiện cao nhất của

việc vận dụng các kiến thức đã có vào thực tiễn. Bởi vậy, kỹ năng thành thạo ở mức

độ cao sẽ trở thành phản xạ có điều kiện.

Thái độ, hành vi: Thái độ (còn gọi là tố chất) chính là quan điểm, ý thức, tính

cách của mỗi một con ngƣời. Là khả năng làm chủ thái độ, hành vi, trạng thái tinh thần

của bản thân trong giải quyết công việc nhằm đạt mục tiêu đặt ra. Nói cách khác, thái

độ, hành vi chính là đạo đức, là văn hóa của con ngƣời. Bởi vậy, hành vi, thái độ tích

cực là nhân tố vô cùng quan trọng tạo nên năng lực thực sự và trọn vẹn cho bất cứ một

cá nhân nào. Đối với đội ngũ cán bộ quản lý thì thái độ đối với bản thân, với nền hành

chính, với dân. Do đó có thể nói rằng hành vi, thái độ tích cực là điều kiện tiên quyết

đảm bảo cho sự thành công trong dài hạn, sự thành công bền vững.

1.1.3. Nội dung nghiên cứu năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ chủ chốt chính

quyền cơ sở

1.1.3.1. Năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ chủ chốt chính quyền cơ sở

Năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ chủ chốt chính quyền cơ sở đƣợc chia

thành 2 nhóm:

a. Nhóm năng lực quản lý cơ bản

Hoạch định (lập kế hoạch): Là kỹ năng xác định con đƣờng, biện pháp, cách

thức, thời gian, nguồn lực phù hợp để thực hiện tốt nhất mục tiêu đề ra, biết lựa

chọn phƣơng án tối ƣu trong điều kiện có thể. Biết tính đến hoạt động nào là cần

thiết và để đạt hiệu quả cao cần phải khai thác những nguồn lực và vật lực nhƣ thế

nào. Điều này lại liên quan đến việc đánh giá đúng khả năng và biết phát huy sức



12



mạnh của cá nhân và các nhóm dân cƣ trên địa bàn, muốn làm tốt công tác lập kế

hoạch nhà quản lý cần phải có kiến thức và kỹ năng. Lập kế hoạch là chức năng cơ

bản nhất trong các chức năng quản lý, là quá trình kết hợp đồng bộ nhiều mặt của tổ

chức hành chính nhà nƣớc, đồng thời nó là cơ sở cho việc thực hiện các chức năng

còn lại. Lập kế hoạch bao gồm ba hoạt động cơ bản: thứ nhất, xác định mục tiêu;

thứ hai, xây dựng các kế hoạch hành động nhằm thực hiện mục tiêu; thứ ba, thẩm

định và phê duyệt kế hoạch.

Chấp hành - Điều hành (tổ chức):Tính chấp hành của hoạt động quản lý nhà

nƣớc thể hiện trong việc những hoạt động này đƣợc tiến hành trên cơ sở pháp luật

và nhằm mục đích thực hiện pháp luật, cho dù đó là hoạt động chủ động sáng tạo

của chủ thể quản lý thì cũng khơng đƣợc vƣợt q khn khổ pháp luật, điều hành

cấp dƣới, trực tiếp áp dụng pháp luật hoặc tổ chức những hoạt động thực tiễn…,

trên cơ sở quy định pháp luật nhằm hiện thực hóa pháp luật.

Lãnh đạo và điều hòa, phối hợp hoạt động: Hoạt động lãnh đạo bao gồm

việc hƣớng dẫn và thúc đẩy mọi ngƣời làm việc vì mục tiêu chung của tổ chức.

Hoạt động này bao gồm các công việc nhƣ: Thuyết phục các thành viên vì mục tiêu

của tổ chức; Hƣớng dẫn các thành viên thực hiện công việc; Chỉ đạo các cấp dƣới

trong việc thực hiện các công việc đã phân công thông qua việc ra các mệnh lệnh,

chỉ thị; Khuyến khích, động viên, tạo cơ hội cho mỗi thành viên tham gia vào hoạt

động của tổ chức.

Điều hòa, phối hợp hoạt động: Thông qua sự phối hợp này mà hoạt động của các cá

nhân, bộ phận trong cơ quan ăn khớp với nhau; tránh những hoạt động trùng lắp,

lệch lạc trong hoạt động hành chính do qui trình, thủ tục rƣờm rà phức tạp gây nên.

Điều hòa, phối hợp là một trong những cơng việc chính của ngƣời quản lý, vì có

điều hồ đƣợc các hoạt động của các cá nhân, đơn vị trực thuộc mới có thể kiểm

sốt và điều khiển các đơn vị đó. Muốn phối hợp, ngƣời quản lý phải có một tầm

nhìn tổng qt và hiểu rõ quy trình giải quyết cơng việc. Điều hòa, phối hợp hành

chính bao gồm các cơng việc: Xây dựng cơ chế phối hợp hoạt động giữa các cá

nhân, bộ phận trong cơ quan hành chính. Cơ chế phối hợp thƣờng đƣợc thể hiện cụ



13



thể trong nội quy, quy chế hoạt động của cơ quan; Thiết lập mối quan hệ hiệu quả

giữa các các nhân, bộ phận trong cơ quan thơng qua hình thức giao ban định kỳ, cơ

chế thơng báo, báo cáo.

Kiểm tra, giám sát: Kiểm tra là một trong những chức năng cơ bản của quản

lý, việc tiến hành kiểm tra đúng, kịp thời, có hiệu quả sẽ có tác dụng giáo dục, điều

chỉnh cá nhân hồn thành tốt các quyết định ban hành. Ngƣời cán bộ quản lý nếu

khơng kiểm tra chính là làm mất đi quyền quản lý của mình. Quá trình kiểm tra là

một quá trình gắn liền với cơng tác hoạch định, tổ chức và chỉ đạo công việc, kiểm

tra, giám sát là công việc mà cán bộ chủ chốt chính quyền cơ sở không thể không

làm trong công tác điều hành công việc. Kiểm tra, giám sát nhằm ngăn ngừa các sai

phạm, phát hiện kịp thời những chỗ không phù hợp trong chƣơng trình, kế hoạch để

điều chỉnh kịp thời, là cơ sở để đánh giá kết quả, chỉ dẫn cho hoạt động của bộ máy

đƣợc thực hiện đúng hƣớng.

b. Nhóm năng lực quản lý chuyên biệt

Năng lực quản lý chuyên biệt là những phẩm chất, khả năng riêng biệt phù

hợp với nhiệm vụ (nghề) của mỗi ngƣời nhằm bảo đảm hoàn thành tốt cơng việc.

Từ đó, tác giả cho rằng, những năng lực quản lý chuyên biệt chủ yếu của cán bộ chủ

chốt chính quyền cơ sở ở huyện Đoan Hùng gồm:

+ Hiểu pháp luật và áp dụng, thực hiện đúng pháp luật: Cán bộ chủ chốt

chính quyền cơ sở phải là ngƣời hiểu biết pháp luật vì pháp luật là cơng cụ, đồng

thời là phƣơng tiện để cán bộ chính quyền cơ sở thực thi nhiệm vụ, để đảm bảo việc

thực hiện quyền lợi, nghĩa vụ chính đáng của nhân dân, cán bộ chủ chốt chính

quyền cơ sở có kỹ năng này sẽ làm cho đối tƣợng quản lý hiểu đúng, hiểu đầy đủ

chủ trƣơng, chính sách, đƣờng lối, Nghị quyết của Đảng và Nhà nƣớc trên cơ sở đó

tham gia đóng góp vào việc thực hiện thắng lợi chủ trƣơng, đƣờng lối [7] .

Cán bộ chính quyền cơ sở là ngƣời gần dân nhất, trực tiếp tiếp xúc với nhân

dân, giải quyết những vấn đề liên quan trực tiếp đến sinh hoạt hàng ngày của ngƣời

dân. Là ngƣời tổ chức, vận động nhân dân thực hiện chủ trƣơng, đƣờng lối, chính

sách của Đảng và Nhà nƣớc. Vì vậy, cán bộ chủ chốt chính quyền cơ sở hiểu đúng,



14



hiểu đầy đủ pháp luật để từ đó áp dụng pháp luật vào thực tiễn có hiệu quả.

+ Phân tích, dự báo các vấn đề kinh tế - xã hội:Cán bộ chủ chốt chính quyền

cơ sở nghiên cứu những vấn đề kinh tế - xã hội thế giới và trong nƣớc, Chủ động

nắm bắt tình hình kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội để từ đó đề xuất những giải

đáp đúng đắn, kịp thời phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội địa phƣơng. Phân tích,

dự báo các vấn đề kinh tế - xã hội để kịp thời phát hiện và giải quyết đúng đắn

những vấn đề mới nảy sinh. Mỗi chủ trƣơng, chính sách, biện pháp kinh tế - xã hội,

dù là đúng đắn nhất, thì trong quá trình thực hiện, bên cạnh mặt tích cực là chủ yếu

cũng thƣờng có những hệ quả tiêu cực nhất định, những vấn đề mới nảy sinh, cần

phải dự kiến trƣớc và theo dõi để chủ động ngăn ngừa, giải quyết tránh suy nghĩ

đơn giản, một chiều, đến khi thấy có vấn đề mới nảy sinh, có mặt tiêu cực mới xuất

hiện thì khơng biết cách giải quyết.

+ Kỹ năng tiếp dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân:

Tiếp dân là quá trình tiếp xúc, giao tiếp giữa một bên là công dân, tổ chức

của công dân (các hội, các tổ chức nghề nghiệp,v.v.) với một bên là đại diện của cơ

quan nhà nƣớc có thẩm quyền. Trong trƣờng hợp cấp xã, đó là chủ tịch Ủy ban

Nhân dân xã hoặc cán bộ, công chức đƣợc chủ tịch phân công tiếp dân.

Tiếp dân là một hoạt động nhằm: tạo cơ hội để công dân phản ảnh tâm tƣ

nguyện vọng của cơng dân; Là cơ hội để chính quyền có thêm đƣợc thơng tin về xã

hội, ý kiến của cơng dân. Cán bộ chủ chốt chính quyền cơ sở cần có kỹ năng tiếp

dân nhƣ: Nghi thức xã giao trong giao tiếp chào hỏi, cách giới thiệu, cách bắt

tay…kỹ năng lắng nghe dân nói (ngƣời đến khiếu nại, tố cáo hoặc đƣa ra kiến nghị,

yêu cầu) và nói cho dân nghe, nói để dân hiểu pháp luật, nói giải thích, nhƣng cũng

cần "lựa lời", khơng căng thẳng;

Cán bộ chủ chốt chính quyền cơ sở phải là ngƣời thực hiện tốt các kỹ năng

giải quyết khiếu nại, tố cáo theo các quy trình: Thứ nhất: quản lý nhà nƣớc về công

tác giải quyết khiếu nại, tố cáo ở địa phƣơng. Thứ hai: thực hiện đúng quy trình giải

quyết khiếu nại, tố cáo ở địa phƣơng.

+ Kỹ năng giao tiếp hành chính, thuyết phục, động viên cấp dưới (và dân):



15



- Giao tiếp hành chính: giao tiếp đƣợc hiểu là q trình xác lập và vận hành

các mối quan hệ, qua đó các bên tham gia có thể có chung quan điểm, nhận thức về

vấn đề đƣợc đề cập. Quá trình giao tiếp đƣợc tiến hành bằng nhiều phƣơng tiện và

công cụ khác nhau nhƣ: ngơn ngữ nói, ngơn ngữ viết, phi ngôn ngữ (cử chỉ, hành

động, điệu bộ, trang phục…).

- Thuyết phục: là đƣa ra các tình tiết, sự kiện, phân tích, giải thích làm cho

ngƣời khác thấy đúng, thấy hay mà tin và làm theo. Điều này đòi hỏi sự khéo léo,

tài ngoại giao và một số kỹ năng làm việc với con ngƣời. Thuyết phục khơng chỉ

bằng lời nói mà quan trọng hơn là bằng việc làm. Sự gƣơng mẫu và uy tín của bản

thân ngƣời cán bộ tạo nên khả năng lôi cuốn quần chúng nhân dân tham gia phong

trào.

- Động viên, khuyến khích: là q trình động viên cổ vũ nhằm truyền nhiệt

huyết cho cấp dƣới để cấp dƣới thực thi công việc đƣợc giao một cách tự nguyện.

Chỉ có thơng qua động viên, khuyến khích thì cán bộ chủ chốt chính quyền cơ sở

mới có thể khai thác, phát huy tối đa sức ngƣời, sức của trong tổ chức. Động viên

cấp dƣới đóng vai trò to lớn trong công tác quản lý, cán bộ chủ chốt chính quyền cơ

sở có thể sử dụng một số phƣơng pháp, cách thức để động viên cấp dƣới nhƣ các

yếu tố vật chất, tiền lƣơng hoặc các khoản đãi ngộ, cán bộ chủ chốt chính quyền cơ

sở có thể sử dụng các yếu tố tinh thần nhƣ khen ngợi, biểu dƣơng, bổ nhiệm…việc

sử dụng yếu tố vật chất hay tinh thần tùy thuộc vào từng tình huống cụ thể để áp

dụng cho phù hợp.

+ Sử dụng nhân viên: Để hoạt động quản lý chính quyền cơ sở đạt hiệu quả

thì cán bộ chủ chốt chính quyền cơ sở cần có kỹ năng trong sử dụng nhân viên. Việc

sử dụng nhân viên cũng là một nghệ thuật đòi hỏi đội ngũ cán bộ chủ chốt chính

quyền cơ sở phải có kỹ năng sử dụng nhân viên, phải bố trí ngƣời đúng việc và bố

trí việc đúng ngƣời. Có sự phân cơng nhiệm vụ và bố trí cơng việc khoa học phù

hợp với năng lực sở trƣờng của mỗi ngƣời. Điều này cho phép mỗi nhân viên phát

huy tối đa tiềm năng của mình và tạo điều kiện cho sự phối hợp nhịp nhàng giữa các

cá nhân trong hoạt động quản lý. Phải căn cứ vào nhiệm vụ cụ thể của từng chức



16



danh đƣợc quy định để phân công, song phải đảm bảo khơng để sót việc và tránh

tình trạng ngƣời đƣợc giao q nhiều việc, ngƣời lại phân cơng ít việc.

Kỹ năng nói, viết: Trong cơng tác chun mơn của ngƣời cán bộ chính quyền

cơ sở gần nhƣ bất cứ việc làm nào cũng thể hiện qua hai cách: nói và viết. Thế

nhƣng, nói nhƣ thế nào và viết ra làm sao để nhân dân (đồng nghiệp, lãnh đạo) dễ

đọc, dễ hiểu, dễ nghe. Bác Hồ thƣờng dạy: “Nói và viết làm sao cho dân hiểu đƣợc,

nhớ đƣợc và làm theo”, “Nói và viết sao cho ý nhiều hơn lời”. Với cán bộ chính

quyền cơ sở kỹ năng nói và viết càng cần thiết hơn. Nói rõ ràng, mạch lạc, đủ ý,

viết ngắn ngọn, súc tích. Một ngƣời lãnh đạo có ý tƣởng tốt mà không làm cho quần

chúng và nhân viên hiểu đƣợc ý tƣởng đó, sẽ gặp rắc rối trong điều hành, quản lý.

Cán bộ chủ chốt chính quyền cơ sở mà nói nhạt, nói lặp, nói dài, nói rỗng, nói

khơng chuẩn mực, gây cho ngƣời nghe sẽ buồn ngủ, chán nản, thậm chí xem

thƣờng. Vì vậy, trong kỹ năng nói và viết cán bộ chủ chốt chính quyền cơ sở cần:

xác định đúng và trúng đối tƣợng; phải ngắn gọn, súc tích; vấn để gì cũng cần phải

giản dị, dễ hiểu; nói và viết đều nên cẩn trọng, phải kiên trì và cơng phu; muốn nói

và viết tốt nhất thiết phải chịu khó học hỏi, tích lũy, phải khơng ngừng nâng cao vốn

liếng hiểu biết. Vì vậy, với những cán bộ chủ chốt chính quyền cơ sở của nền hành

chính nhà nƣớc cần phải khắc phục thói quen “ngại đọc”, lƣời đọc, đọc chỉ cho vui,

cho qua th giờ, thói quen bàn giấy, quan liêu, ngại đi thực tế, ngại về cơ sở…để

cùng với sự trải nghiệm ngày càng phong phú, chất lƣợng nói và viết của đội ngũ

này ngày càng đƣợc nâng lên.

+ Ban hành quyết định:Đây là hoạt động cơ bản của quản lý hành chính nhà

nƣớc. Hoạt động ra quyết định hành chính bao gồm các công việc sau: Xác định vấn

đề ra quyết định; Dự kiến mục tiêu giải quyết vấn đề; Xây dựng các phƣơng án giải

quyết vấn đề; Đánh giá lựa chọn phƣơng án tối ƣu bằng việc ban hành quyết định.

Vì vậy, ra quyết định trong hoạt động quản lý hết sức quan trọng, nó là sản

phẩm của ngƣời lãnh đạo quản lý, nó quyết định sự thành bại, đến hiệu quả cao thấp

của tồn bộ q trình quản lý.

+ Lòng đam mê cơng việc: Lòng đam mê cơng việc của cán bộ chính là lòng



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CỦA ĐỘI NGŨ CÁN BỘ CHỦ CHỐT CHÍNH QUYỀN CƠ SỞ

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×