Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
* Mối quan hệ giữa các biện pháp trên

* Mối quan hệ giữa các biện pháp trên

Tải bản đầy đủ - 0trang

3.3.2. Nội dung thực nghiệm

Tiến hành các tiết dạy của phân môn TLV gồm 2 giáo án TN (phụ lục 4)

+ Tiết tập làm văn bài “ Luyện tập xây dựng mở bài trong bài văn miêu tả

cây cối ”

+ Tiết tập làm văn bài: “ Luyện tập xây dựng kết bài trong bài văn miêu tả cây cối ”

3.3.3. Đối tượng thực nghiệm

Đối tượng chúng tôi lựa chọn thực nghiệm là HS hai lớp 4/4 và 4/5 trường tiểu

học Kim Đồng - Thành phố Tam Kỳ - Tỉnh Quảng Nam. Trong đó có một lớp TN và

một lớp ĐC, hai lớp này cân bằng nhau về số lượng HS (mỗi lớp 31 em); học lực

tương đối đồng đều.

Lớp thực nghiệm (lớp 4/5): Giáo viên chủ nhiệm là cô Trần Thị Tường Vy.

Lớp đối chứng (lớp 4/4 ): Giáo viên chủ nhiệm là cơ Trần Thị Phương Hòa.

Hai lớp trên tương đối đồng đều nhau về mức độ nhận thức cũng như kết quả học

tập các môn học của các em.

3.3.4. Phương pháp thực nghiệm

Quá trình thực nghiệm được tiến hành ở hai lớp 4/4 và 4/5 trường

Tiểu học Kim Đồng. Đối với lớp TN, việc dạy học được tổ chức theo

cách thức, quy trình đã được chuẩn bị, đối với lớp đối chứng thì tiến

hành dạy bình thường.

3.3.5. Tổ chức thực nghiệm

* Thời gian tiến hành thực nghiệm

Quá trình TN được tiến hành bình thường theo thời khóa biểu

chung của trường thực nghiệm, không làm thay đổi và ảnh hưởng

đến các hoạt động của nhà trường cũng như quá trình học tập của

học sinh.

Thời gian thực nghiệm từ tuần 25 đến tuần 26 (từ ngày

24/2/2014 đến ngày (07/3/2014).

* Chọn bài thực nghiệm

Sau khi đã hồn thành xong cơng việc lựa chọn lớp TN và lớp

ĐC, chúng tôi tiến hành chuẩn bị giáo án để dạy thực nghiệm. Trên

48



cơ sở nghiên cứu nội dung chương trình chúng tơi đã chọn các tiết

sau để dạy thực nghiệm:

+ Tiết tập làm văn bài “Luyện tập xây dựng mở bài trong bài văn miêu tả cây

cối”

+ Tiết tập làm văn bài: “Luyện tập xây dựng kết bài trong bài văn miêu tả cây cối”

* Soạn giáo án thực nghiệm

Sau khi hoàn thành việc chọn bài thực nghiệm, chúng tôi tiến

hành thiết kế giáo án. Để thuận lợi cho việc dạy học chúng tôi thiết

kế giáo án một cách chi tiết, cụ thể đồng thời có sự hướng dẫn, góp ý

của GV trường thực nghiệm để giáo án được hoàn chỉnh hơn. (Phụ lục

4)

3.3.6. Tiến hành thực nghiệm

* Quá trình thực nghiệm.

 Bước thứ nhất: Tiến hành thành lập tổ thực nghiệm gồm GV

chủ nhiệm hai lớp 4/4, 4/5 và người thực hiện đề tài này.

 Bước thứ hai: Trình bày mục đích, nội dung và phương pháp

thực nghiệm.

 Bước thứ ba: Tiến hành khảo sát tình hình học tập của học

sinh hai lớp trước khi thực nghiệm.

 Bước thứ tư: Bắt đầu tiến hành dạy thực nghiệm.

+ Đối với lớp TN: Tiến hành dạy và tổ chức cho HS làm các bài tập

trên cơ sở hệ thống bài tập đã được xây dựng.

+ Đối với lớp ĐC: Tiến hành dạy như bình thường.

 Bước thứ năm: Tiến hành kiểm tra: Cho HS hai lớp làm bài tập.

* Các tiêu chí đánh giá kết quả thực nghiệm.

Để đảm bảo tính khách quan, chúng tơi tiến hành đánh giá về

cả hai mặt định lượng (nội dung kiến thức và kĩ năng mà các em lĩnh

hội được) và định tính (sự hứng thú học tập của học sinh).

 Về mặt định lượng, chúng tôi tiến hành đánh giá theo các mức

độ:

+ Mức độ Giỏi: Bài làm của các em đạt từ 9 - 10 điểm.

+ Mức độ Khá: Bài làm của các em đạt từ 7 - 8 điểm.

49



+ Mức độ Trung bình: Bài làm của các em chỉ đạt từ 5 - 6 điểm.

+ Mức độ Yếu: Bài làm của các em chỉ đạt dưới 5 điểm.

 Về mặt định tính, chúng tơi tiến hành đánh giá theo các mức

độ:

+ Mức độ hứng thú: Các em chăm chú lắng nghe GV giảng bài, tích

cực phát biểu ý kiến xây dựng bài và làm bài, không làm việc riêng

trong lớp.

+ Mức độ bình thường: Lắng nghe GV giảng bài, phát biểu ý kiến xây

dựng bài và làm bài, không làm việc riêng trong lớp.

+ Mức độ không hứng thú: Các em không chú ý lắng nghe GV giảng

bài, không tham gia phát biểu ý kiến xây dựng bài, không tự giác

làm bài, làm việc riêng trong lớp.

3.3.7. Kết quả thực nghiệm

3.3.7.1. Kết quả lĩnh hội tri thức

Sau khi tiến hành dạy thực nghiệm (lớp thực ngiệm), dự giờ (lớp đối chứng) và

tiến hành khảo sát chúng tôi thu được kết quả sau:

 Bảng 4: Kết quả kiểm tra thực nghiệm 1(Phụ lục 5)



Lớp



Số HS



Giỏi



TN



31



HS

7



ĐC



31



3



Khá



Trung bình



Yếu



%

22,6



HS

15



%

48,4



HS

9



%

29



HS

0



%

0



9,7



11



35,4



15



48,4



2



6,5



* Bảng 4 cho thấy:

- Tỉ lệ HS giỏi ở lớp TN cao hơn lớp ĐC 6,4%, HS khá cũng cao hơn 16,2%,

còn tỉ lệ HS trung bình thì lớp TN thấp hơn lớp ĐC rất nhiều 16,1%, lớp TN khơng

còn HS đạt yếu nhưng lớp ĐC vẫn còn chiếm 6,5%.

 Bảng 5: Kết quả kiểm tra thực nghiệm 2.(Phụ lục 5)



Lớp



Số HS



Giỏi



Khá



Trung bình



Yếu

50



HS



%



HS



%



HS



%



HS



%



TN



31



8



25,8



16



51,6



7



22,6



0



0



ĐC



31



4



12,9



12



38,7



14



45,2



1



3,2



* Bảng 5 cho thấy:

- Tỉ lệ HS giỏi ở lớp TN cao hơn lớp ĐC 12,9%, HS khá cũng cao hơn 19,4%,

còn tỉ lệ HS trung bình thì lớp TN thấy hơn lớp ĐC là 29,1%, lớp TN khơng còn HS

đạt yếu nhưng lớp ĐC vẫn còn chiếm 3,2%.

* Dựa vào kết quả 2 lần thực nghiệm trên chúng tôi lập biểu đồ so sánh kết quả dạy

học thực nghiệm như sau:



* Nhận xét:

Qua các bảng thống kê kết quả điều tra hai lớp TN và ĐC, chúng

ta có thể thấy rõ sự khác biệt giữa một bên là việc vận dụng hệ

thống các hệ thống bài tập kết hợp với lý thuyết để luyện viết văn miêu tả

cho HS và một bên là không vận dụng.

Tỉ lệ HS đạt loại giỏi, khá qua các lần kiểm tra ở lớp TN ln cao

hơn lớp ĐC, loại trung bình thì thấp hơn rất nhiều. Ở lớp TN khơng

còn HS yếu nhưng lớp ĐC thì vẫn còn.

Sự thay đổi về tỉ lệ HS đạt loại giỏi, khá, trung bình và yếu qua

các lần thực nghiệm trên cho thấy những dấu hiệu tích cực trong



51



việc vận dụng hệ thống bài tập kết hợp với lý thuyết để luyện viết

văn miêu tả cho HS.

3.3.7.2. Đánh giá về hứng thú học tập của học sinh

 Bảng 3: Bảng thống kê mức độ hứng thú học tập của học sinh đối với các bài

học.



31



Rất thích

SL

TL %

15

48,4



Thích

SL

TL %

13

42



31



12



10



Lớp



Số HS



TN

ĐC



38,7



32,3



Khơng thích

SL

TL %

3

9,6

9



29



* Từ bảng thống kê trên ta lập được biểu đồ:



* Nhận xét:

Nhìn vào bảng ta thấy, mức độ hứng thú đối với bài học của HS ở nhóm lớp TN

và lớp ĐC có sự khác nhau rõ rệt. Ở lớp TN, tỉ lệ HS rất thích và thích rất cao (rất

thích: 48,4%; thích: 42%). Hầu hết, các em phấn khởi, hào hứng tự tin sau bài học, số

HS khơng thích và thích bài học ở lớp ĐC lại thấp (rất thích 38,7%; thích 32,3%) số

HS tỏ ra không hào hứng với bài học chiếm tỉ lệ cao hơn (29%).

Kết quả trên cho thấy, để tạo được hứng thú học tập, GV phải biết cách lựa chọn

các phương pháp dạy học phù hợp, linh hoạt, phù hợp với tâm lí và trình độ nhận thức

của HS.

52



Tiểu kết chương 3

Nhìn vào kết quả khảo sát giữa hai lớp TN và lớp ĐC cho thấy

độ chênh lệch về kết quả rèn kĩ năng. Điều đó chứng tỏ lớp TN đã

biết cách làm một bài văn miêu tả hay như biết cách xác định ý tưởng

của đề bài qua các từ trọng tâm, biết diễn đạt câu văn (nói, viết) trọn ý, sắp xếp các ý,

các câu văn lơgic; biết kiểm tra, rà sốt lại bài viết về nội dung, cách diễn đạt, biết

chọn lựa, sử dụng từ ngữ giàu tính gợi tả, gợi cảm, nói viết câu văn có dùng phép so

sánh, nhân hóa, tưởng tượng phù hợp với đối tượng miêu tả thông qua hệ thống hướng

dẫn lý thuyết.

Qua TN chúng tôi thấy việc áp dụng hệ thống bài tập rèn kĩ năng viết văn miêu

tả cho HS lớp 4 bước đầu đem lại hiệu quả rõ rệt, việc biết cách sử dụng các kĩ năng

để viết văn của HS đã có nhiều tiến bộ, các bài văn miêu tả của các em tốt hơn và hay

hơn. Để HS viết văn đạt kết quả GV cần phối kết hợp nhiều phương pháp dạy học

khác nhau, trong đó việc rèn các kĩ năng viết văn cho các em là rất quan trọng.

Đối với GV trực tiếp đứng lớp, các bài tập mà đề tài đưa ra mới chỉ là những

gợi ý cơ bản. Người GV trong thực tế giảng dạy cần sử dụng linh hoạt, sáng tạo hoặc

có thể bổ sung những bài tập khác cho phù hợp với đặc điểm và trình độ nhận thức của

HS nơi mình làm việc để giờ học đạt hiệu quả cao hơn.



53



C. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ

1. Kết luận

Trong nhà trường Tiểu học, văn miêu đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành và

phát triển các kĩ năng : nghe, nói, đọc, viết, một số năng lực cần thiết như quan sát, hồi

tưởng, tưởng tượng,... và đặc biệt góp phần vào việc bồi dưỡng tình cảm, xây dựng

nhân cách cho HS. Và cũng là để thực hiện nhiệm vụ “giữ gìn sự trong sáng của tiếng

Việt”, để “nói và viết tiếng Việt sao cho đúng, cho hay”. Trong thực tế, việc rèn luyện

kĩ năng viết văn miêu tả còn nhiều hạn chế. Việc hướng dẫn HS rèn kĩ năng viết văn

miêu tả phần lớn đều dựa vào kinh nghiệm giảng dạy của mỗi GV. GV chưa có một

biện pháp cụ thể đảm bảo tính khoa học trong việc rèn luyện cũng như nâng cao kĩ

năng viết văn miêu tả cho HS. Các tiết học TLV đôi khi biến thành những tiết đọc văn

mẫu làm cho giờ học trở nên nhàm chán, buồn tẻ. Bài văn miêu tả HS viết ra thường

nghèo nàn nàn về mặt ý, câu đoạn lỏng lẻo, đôi khi mâu thuẫn nhau. Xuất phát từ yêu

cầu cấp thiết đó nên tơi chọn đề tài “Rèn kĩ năng viết văn miêu tả cho học sinh lớp 4

trường tiểu học Kim Đồng, thành phố Tam Kỳ, Quảng Nam ” nhằm góp phần

nâng cao chất lượng dạy văn miêu tả trong chương trình Tiểu học

hiện nay.

Qua thực nghiệm sư phạm tôi thấy việc áp dụng các biện pháp cũng như hệ thống bài

tập rèn kĩ năng viết văn miêu tả của HS có nhiều tiến bộ đáng kể, học sinh tỏ ra hứng

thú với các biện pháp mà chúng tơi đưa ra, bài viết của học sinh có nhiều sáng tạo, một

54



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

* Mối quan hệ giữa các biện pháp trên

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×