Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 3. CÁC BIỆN PHÁP RÈN KĨ NĂNG VIẾT VĂN MIÊU TẢ CHO HỌC SINH LỚP 4 VÀ THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM TẠI TRƯỜNG TIỂU HỌC KIM ĐỒNG, TAM KỲ, QUẢNG NAM

CHƯƠNG 3. CÁC BIỆN PHÁP RÈN KĨ NĂNG VIẾT VĂN MIÊU TẢ CHO HỌC SINH LỚP 4 VÀ THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM TẠI TRƯỜNG TIỂU HỌC KIM ĐỒNG, TAM KỲ, QUẢNG NAM

Tải bản đầy đủ - 0trang

góp phần rèn luyện tư duy hình tượng; từ óc quan sát đến trí tưởng tượng, từ khả năng

tái hiện các chi tiết đã quan sát được đến khả năng nhào nặn các chất liệu trong đời

sống thực để xây dựng một bài văn miêu tả sự vật. Khả năng tư duy của HS cũng phát

triển trong quá trình phân tích đề, lập dàn ý, viết đoạn. Văn miêu tả tạo cho HS có

những hiểu biết và tình cảm u mến, gắn bó với thiên nhiên, với con người, với vạn

vật xung quanh. Từ đây tâm hồn và nhân cách của các em được hình thành và phát

triển.

3.2. Đề xuất các biện pháp rèn kĩ năng viết văn miêu tả cho học sinh lớp 4 tại

trường tiểu học Kim Đồng, Tam kỳ, Quảng Nam

Căn cứ vào cơ sở lí luận, thực trạng và đặc điểm tâm sinh lí của HS đã được

trình bày ở phần trên chúng tơi đề xuất các biện pháp sau:

3.2.1. Biện pháp 1: Rèn kĩ năng xác định ý tưởng của bài qua các từ trọng tâm

Trong quá trình tìm hiểu đề, việc xác định trọng tâm miêu tả là một vấn đề

tương đối rộng, phức tạp, đơi khi trừu tượng. Tuy nó giúp người viết phác họa những ý

chính cần triển khai trong đoạn văn, nhưng lại phụ thuộc vào cảm nhận, ý thích chủ

quan của người viết. Đối với HS Tiểu học, do vốn hiểu biết, vốn sống còn hạn chế nên

HS sẽ rất khó khăn khi xác định được trọng tâm miêu tả.

Ví dụ : “Hãy viết đoạn văn ngắn tả hình dáng của một con vật mà em trông thấy ở sở

thú hoặc Thảo Cầm Viên”. Với dạng đề bài này, HS dễ dàng nhận ra trọng tâm miêu tả

là tập trung miêu tả hình dáng con vật.

Tuy nhiên, có rất nhiều đề bài chỉ nêu đối tượng miêu tả mà không nêu cụ thể trọng

tâm miêu tả. Nó khiến cho người viết cần phải suy nghĩ, cân nhắc khi xác định trọng

tâm miêu tả. Ví dụ :“Chọn một phần trong dàn ý bài văn tả cơn mưa em vừa trình bày

trong tiết trước, viết thành một đoạn văn”. Trọng tâm miêu tả những loại đề bài này

thường là những đặc điểm nổi bật giúp khắc họa đối tượng một cách rõ nét, hoặc có

thể là những đặc điểm mang dấu hiệu đặc trưng của đối tượng gây cho người viết

nhiều ấn tượng, cảm xúc nhất.

Để giúp HS xác định trọng tâm miêu tả của đề bài ta dựa vào một số cơ sở nhất định:

+ Trước hết là dựa vào kiểu bài văn miêu tả. Bởi vì mỗi kiểu bài văn miêu tả trong

chương trình Tiểu học (tả đồ vật, tả cây cối, tả con vật), bên cạnh những đặc điểm

chung còn có những đặc điểm riêng. Vì thế, cũng cần có những căn cứ riêng để xác

định trọng tâm miêu tả.

30



+ Cần có câu hỏi giúp các em xác định đúng trọng tâm miêu tả, cũng chính là xác định

phạm vi, giới hạn miêu tả như : Miêu tả những gì ? Miêu tả đến đâu ? Miêu tả trong

hồn cảnh nào ? Địa điểm miêu tả ? Những điểm nào là quan trọng cần phải tập trung

miêu tả ? Những điểm nào là thứ yếu cần tả sơ qua ? Mỗi đề bài cần đặt câu hỏi cho

phù hợp. Câu hỏi càng cụ thể, càng giúp HS xác định nhanh chóng và dễ dàng trọng

tâm miêu tả của đề bài.

3.2.2. Biện pháp 2: Giúp học sinh tích lũy vốn từ miêu tả, làm giàu trí tưởng

tượng của các em trong văn miêu tả

Muốn lựa chọn từ ngữ để đặt câu, viết thành những câu văn có hình ảnh, học

sinh phải có vốn từ phong phú. Do vậy, GV cần giúp học sinh tích luỹ vốn từ miêu tả

và làm giàu tưởng tượng của các em trong khi làm văn miêu tả theo các cách sau:

* Tích luỹ vốn từ:

- Vốn từ được tích luỹ từ nhiều nguồn: giao tiếp hàng ngày; đọc sách, báo; xem, nghe

truyền hình truyền thanh; trao đổi với bạn bè; cô giáo cung cấp…

- Ghi chép khi được nhận các từ ngữ dùng để miêu tả theo các chủ đề, cụ thể như:

+ Các từ thường dùng trong miêu tả cây cối: xanh mướt, mơn mởn; khẳng khiu; xum

xuê; rực rỡ; đo đỏ;…

+ Các từ thường dùng trong miêu tả đồ vật: tròn xoe, nhỏ nhắn,…

+ Các từ thường dùng trong miêu tả con vật: tinh nhanh, rón rén, oai vệ,…

- Các từ miêu tả đó thường là những từ láy, gợi lên hình ảnh, âm thanh,… để miêu tả

cho sinh động.

* Giúp học sinh làm giàu thêm trí tưởng tượng:

Tưởng tượng trong miêu tả rất quan trọng. Có tưởng tượng mới có hình ảnh hoàn

chỉnh về đối tượng miêu tả. Tưởng tượng như một sự hình dung về đối tượng mà ta

nhắm mắt lại thì đối tượng sẽ hiện ra rõ nét hơn, cụ thể hơn, gần gũi hơn. Tưởng

tượng giúp ta thấy được nét đặc sắc của đối tượng, thấy được những điểm tương đồng

với đối tượng khác, thấy được mối quan hệ của đối tượng với sự vật hiện tượng xung

quanh, với những kỉ niệm hay kí ức mang dấu ấn sâu sắc trong lòng người viết. Từ

tưởng tượng, HS sẽ cảm nhận được đối tượng miêu tả bằng tình cảm, tình u của

chính mình, thấy được tầm quan trọng của đối tượng được tả đối với chính mình và cả

với những người xung quanh. Miêu tả gắn với tưởng tượng là một cách bộc lộ cảm



31



xúc, tình cảm và khả năng cảm thụ cái đẹp của người viết văn miêu tả. Tưởng tượng

làm cho đối tượng miêu tả hoàn thiện hơn, sống động và gần gũi hơn.

GV có thể hướng dẫn học sinh tưởng tượng theo cách:

- Không trực tiếp quan sát, tập trung tất cả các giác quan vào đối tượng.

- Nhắm mắt, hình dung về đối tượng: hình ảnh, hoạt động của đối tượng, những ảnh

hưởng, tác động của đối tượng đến sự vật xung quanh.

- So sánh đối tượng được miêu tả với các đối tượng khác tương đồng.

- Phân tích, đánh giá cái hay, cái đẹp có ở đối tượng.

- Nhân hoá hay tự nhiên hoá một vài hình ảnh đặc sắc ở đối tượng.

- Dự đốn trước khả năng và những điều tốt đẹp mà đối tượng có thể vươn tới.

- Liên tưởng với những điều mình đã biết, đã nghe, đọc, cảm nhận được về đối tượng

từ trước tới nay.

- Ghi chép lại những gì mình đã tưởng tượng để lựa chọn, chắt lọc đưa vào bài viết

của mình.

* Ví dụ: Trò chơi

a, Đánh số thứ tự từ 1 đến 4 vào ơ tròn theo một chuỗi hành động hợp lí.

b, Tìm các từ tả hoạt động của con vật trong bức tranh.



* Hướng dẫn cách thực hiện

- Bước 1: GV hướng dẫn HS xác định yêu cầu trò chơi.

- Bước 2: GV hướng dẫn HS tưởng tưởng hoặc nhớ lại (nếu em đã từng gặp)

cách bắt chuột của con mèo, sau đó lần lượt lên điền các số thích hợp vào ơ tròn.

- Bước 3: Cho HS tìm ra các từ tả hoạt động của con vật trong tranh.

- Bước 4: Cho HS lần lượt lên ghi, GV nhận xét.

3.2.3. Biện pháp 3: Biết chọn lựa, sử dụng từ ngữ giàu tính gợi tả, gợi cảm, nói viết câu văn có dùng phép so sánh, nhân hóa, tưởng tượng phù hợp với đối tượng

miêu tả

Việc dùng từ ngữ giàu hình ảnh, gợi tả, gợi cảm, các biện pháp so sánh, nhân

hóa, tưởng tượng khi viết văn sẽ giúp cho câu văn, bài văn trở nên sinh động hơn,

mượt mà hơn, ý tứ hơn và thu hút người đọc, người nghe hơn. Như vậy, việc giúp các

32



em biết tìm từ ngữ, ý văn hay, hình ảnh đẹp, phù hợp để miêu tả sự vật cụ thể là vừa

giúp phát huy tốt năng lực của mỗi học sinh, vừa góp phần cung cấp ý văn, từ ngữ phù

hợp cho những học sinh khác.

GV có thể hướng dẫn HS theo cách sau:

+ Cùng với việc giới thiệu một số hình ảnh cụ thể cho học sinh quan sát, giáo viên có

thể gợi ý cho mỗi HS tự chọn chi tiết cụ thể của đối tượng cần miêu tả, rồi tìm những

từ ngữ, ý văn, câu văn, hình ảnh so sánh, nhân hóa mà mình cảm thấy phù hợp, hay có

thể sử dụng để miêu tả chi tiết đó của đối tượng.

+ Lớp nhận xét, bình và chọn những từ ngữ, ý văn hay, hình ảnh đẹp, phù hợp.

+ Vận dụng chính những từ ngữ, câu văn, ý văn được lớp đánh giá cao theo ý thích của

riêng mình đưa vào bài của mình, tạo ra nét riêng trong chính bài làm của mình.

* Ví dụ: Điền vào chỗ trống những từ ngữ : thoa son, hai hột nhãn, trái dừa xiêm,

mũm mĩm, phinh phính, chúm chím, bụ bẫm, trắng hồng để có đoạn văn tả ngoại hình

của một em bé.

Bé Nhật Linh trông rất..............(1) dễ thương. Bé thích mặc áo đầm. Làn da

bé..............(2). Nhìn bé, ai cũng muốn ơm bé vào lòng mà hơn lên đơi má..............(3)

còn thơm mùi sữa mẹ. Đầu bé Nhật Linh tròn tròn như ................(4). Tóc bé đen và

xoăn. Đơi mơi bé lúc nào cũng đỏ như ................(7). Tay, chân của bé ..............(8). Lúc

bế bé Linh, em rất thích nắm bàn tay của bé, để bé vỗ vỗ vào má em.

* Hướng dẫn cách thực hiện

- Bước 1: Cho HS xác định từ ngữ cần điền vào các chỗ trống.

- Bước 2: Cho HS điền thử, GV theo dõi và sửa chữa.

- Bước 3: Hoàn chỉnh bài viết và cho HS đọc lại, nhận xét.

* Ví dụ: Gạch dưới các từ ngữ có sử dụng biện pháp nhân hoá trong đoạn văn sau:

Sớm mai thức dậy, một cơn gió thoảng qua đưa cái lạnh đến. Mùa đông đã về. Trời âm

u, thật lạnh nên bác mặt trời cứ đắp cái chăn đen ngủ hoài mặc cho chú gà trống gọi.

Bé tung chăn đi rửa mặt và vui vẻ đến trường. Bác mặt trời xấu hổ vì thua bé nên vội

vàng chiếu những tia nắng vàng xuống đánh thức mọi vật.

(Mùa đông đến, Huỳnh Thị Phương Thảo)

* Hướng dẫn cách thực hiện:

- Bước 1: GV cho HS đọc đoạn văn, nêu yêu cầu.



33



- Bước 2: Cho HS nhắc lại như thế nào là nhân hóa, GV cho ví dụ về nhân hóa

để giúp HS hiểu rõ hơn.

- Bước 3: Gọi HS lên gạch chân các từ ngữ sử dụng biện pháp nhân hóa, nhận

xét.

3.2.4. Biện pháp 4: Biết diễn đạt câu văn (nói, viết) trọn ý, sắp xếp các ý, các câu

văn lôgic; biết kiểm tra, rà soát lại bài viết về nội dung, cách diễn đạt

3.2.4.1. Tập diễn đạt câu văn (nói, viết) trọn ý, sắp xếp các ý, các câu văn lôgic

Các em sẽ biết tự diễn đạt câu văn trọn ý khi các em biết sắp xếp các từ ngữ

thành câu văn đúng ngữ nghĩa, biết sắp xếp các câu văn thành đoạn văn lôgic, đúng

chủ đề. Tuy nhiên, đây là việc làm rất khó, cần được tập luyện thường xuyên và mất

khá nhiều thời gian, mà thời gian ở các tiết học TLV lại có hạn, vì vậy, chúng ta nên

thực hiện không chỉ ở các tiết TLV mà ở cả các tiết học khác như Luyện từ và câu hay

Chính tả.

Với những bài tập có u cầu liên quan đến việc phải trình bày, sắp xếp các ý, câu văn

lôgic, hoặc ở một số tiết TLV, GV cần phải:

+ Chủ động chuẩn bị các từ ngữ, câu văn theo chủ đề nhất định đủ dùng cho học sinh

hoạt động theo dự kiến.

+ Cho các từ ngữ, yêu cầu HS dùng những từ ngữ đó sắp xếp lại thành những câu văn

hoàn chỉnh (hoặc dùng những câu văn sắp xếp thành đoạn văn) theo chủ đề mà GV

yêu cầu.

+ Tiếp đó có thể tổ chức nhận xét, đánh giá, sửa chữa. Cần đánh giá, nhận xét trên sự

sáng tạo của học sinh, tôn trọng ý tưởng của HS, không nhất thiết phải đúng theo mẫu

ấn định sẵn. Tuy nhiên cũng cần phải điều chỉnh, sửa chữa nếu chưa phù hợp.

3.2.4.2. Tập kiểm tra, rà soát lại bài viết về nội dung, cách diễn đạt, cách trình bày

Đối với HS lớp 4 thì đây là việc làm rất khó khăn, ít em tự thực hiện được. Việc

tập cho các em biết tự kiểm tra, rà soát lại bài viết về cả nội dung và cách diễn đạt,

cách trình bày là rất cần thiết, nó khơng chỉ giúp các em nâng cao khả năng làm văn,

nâng cao chất lượng câu văn, đoạn văn, bài văn của các em mà còn giúp cho các em

rèn luyện kĩ năng trình bày, diễn đạt vấn đề.

Trong mỗi giờ TLV, nhất là văn viết, chúng ta nên hết sức chú trọng việc tập cho HS

biết tự cân nhắc, trau chuốt câu văn, ý văn cho phù hợp. Khi các em hồn thành bài

tập, thì GV nên tổ chức cho các em:

34



+ Đọc lại bài, đối chiếu với yêu cầu của đề bài để kiểm tra xem nội dung bài làm đã

đảm bảo chưa ?

+ Câu văn, ý văn đã rõ ràng, đủ ý chưa?...Thời gian đầu các em sẽ rất bỡ ngỡ, khó thực

hiện, nên tập cho cả lớp cùng thực hiện chúng trên một vài bài, sau đó là cùng thực

hiện trong nhóm, dần dần là mỗi cá nhân sẽ tự kiểm tra, rà soát trên bài làm của mình.

+ Ngay trong quá trình các em làm bài GV theo dõi, giúp các em tự nhận xét, kiểm tra,

điều chỉnh kịp thời những chỗ chưa hay, chưa phù hợp, tập cho các em biết chú trọng

đến cách diễn đạt sao cho đúng, đủ, rõ ý.

Ngoài ra, ngay cả khi các em trả lời câu hỏi của thầy (cô), của bạn bè hoặc khi yêu cầu

các em trình bày một vấn đề nào đó, GV đặc biệt chú trọng đến cách trình bày, diễn đạt

của các em (nhất là với những HS yếu). Khi thấy học trò trình bày vấn đề lủng củng,

khơng rõ ràng hoặc sử dụng từ ngữ không phù hợp, GV nhận xét khéo và gợi ý, tập

cho các em và cả các bạn khác cùng cân nhắc, diễn đạt lại vấn đề sao cho trôi chảy, rõ

ràng, đủ ý, và dễ hiểu.

* Ví dụ: Các em hãy sắp xếp các câu văn dưới đây cho lôgic, diễn đạt cho sinh động,

gợi cảm và viết thành đoạn văn hồn chỉnh.

Mùa đơng đến. Mẹ giục em lấy áo ấm ra mặc. Nhìn lên trời, em không thấy chim én

nữa. Em rất vui sướng khi mặc chiếc áo len mẹ mới đan cho em. Những cơn gió lạnh

tràn về.

* Hướng dẫn cách thực hiện

- Bước 1: Cho HS đọc đề, GV hướng dẫn phân tích yêu cầu của đề bài.

- Bước 2: GV hướng dẫn cho HS thực hiện lần lượt các yêu cầu.

- Bước 3: Sau khi các em đã sắp xếp các câu văn theo lôgic, GV cần hướng dẫn

cho các em thêm các từ ngữ để câu văn trở nên sinh động, và gợi cảm hơn.

- Bước 4: Cho HS rà soát lại bài viết về nội dung, cách diễn đạt.

- Bước 5: Cho nhiều HS lên trình bày, nhận xét.

* Gợi ý: Có phải mùa đơng lạnh lẽo đã đến rồi khơng ? Đúng rồi, những cơn gió

lạnh như dao cắt đã vội vã tràn về! Nhìn lên bầu trời xam xám như màu chì, em khơng

thấy những cánh én đang chao liệng nữa. Mẹ em giục: “Con hãy lấy chiếc áo mẹ vừa

đang xong ra mặc cho ấm đi!”.



35



3.2.5. Biện pháp 5: Rèn kĩ năng viết văn ở từng thể loại miêu tả



* Nội dung – Yêu cầu:

Khi viết văn miêu tả chúng ta cần phải: Tả giống với thực tế, tả cụ thể và có thứ

tự, tả gắn với tình người.

* Yêu cầu đối với học sinh giỏi:

Đối với HSG, những yêu cầu trên được nâng cao hơn, cụ thể:

- Tả có những nét tinh tế.

- Tả sinh động.

- Cảm xúc lồng vào các nét tả tự nhiên và đậm đà.

* Phương pháp chung

- Quan sát trực tiếp và tỉ mỉ cảnh, vật, người định tả, quan sát trực tiếp để cho ta

những cảm xúc "nóng hổi" để đưa vào bài viết, tránh cách viết tẻ nhạt.

- Quan sát tìm ý đi đơi với tìm từ ngữ để diễn tả đúng và sinh động điều đã quan

sát được.

- Cân nhắc để chọn được một thứ tự sắp xếp các chi tiết sẽ tả mà mình coi là

thích hợp hơn cả.

3.2.5.1 Tả đồ vật

Phương pháp làm bài

* Bước 1: Xác định đối tượng miêu tả: Đồ vật em định tả là cái gì ? Đồ vật đó của ai ?

Do đâu mà có ? Nó xuất hiện trong thời gian nào ?

* Bước 2: Quan sát đối tượng miêu tả:

- Quan sát kĩ: hình dáng, kích thước, màu sắc của đồ vật và chất liệu tạo nên nó.

- Ghi nhớ những nét bao quát và những nét cụ thể của đồ vật (cấu tạo bên ngoài, bên

trong, từng bộ phận....). Sắp xếp các chi tiết ấy theo một trình tự hợp lí cho dễ miêu tả.

- Cơng dụng của đồ vật ấy đối với người sử dụng.

* Bước 3: Lập dàn ý.

* Bước 4: Lựa chọn từ ngữ, hình ảnh để xây dựng thành một bài văn tả đồ vật

hoàn chỉnh.

Dàn bài chung

* Mở bài: Tên đồ vật được tả, đồ vật ấy của ai ? Nó được mua hay được làm,

trong thời gian nào ?

* Thân bài:

36



- Tả khái qt về hình dáng, kích thước, màu sắc, chất liệu và cấu tạo của đồ vật.

- Tả cụ thể từng bộ phận của đồ vật.

- Tác dụng của đồ vật.

* Kết bài: Nêu cảm nghĩ của bản thân đối với đồ vật được miêu tả.

* Ví dụ: Em hãy tả lại chiếc bút máy mà em đang sử dụng.

* Hướng dẫn cách thực hiện:

- Bước 1: Cho HS xác định yêu cầu của đề bài ? Đề bài thuộc kiểu bài văn gì ?

- Bước 2: GV hướng dẫn cho HS xác định vốn từ cần miêu tả trong đề bài này.

- Bước 3: Hướng dẫn HS lập dàn ý ra ngoài giấy nháp theo từng phần cụ thể bằng

cách mỗi ý cần phải gạch đầu dòng.

- Bước 4: Cho HS viết bài, và sau đó kiểm tra, rà sốt bài về nội dung cũng như cách

diễn đạt, lỗi chính tả…

* Gợi ý: Trong dịp thi đua kỷ niệm ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11 năm ngoái, em

được Trường Tiểu học Minh Khương tặng một chiếc bút máy màu vàng. Chiếc bút đã

được em dùng làm đồ dùng làm hành trang trong quá trình học tập tại trường đã gần 2

năm nay.

Trên thân bút, dưới nền màu vàng của vỏ bút là dòng chữ: “Nhớ ơn thầy cơ” làm em

ấn tượng sâu sắc. Mở nắp bút ra em thấy chiếc ngòi nhỏ vừa nhọn lại vừa sáng trắng,

hai bên hơi cong vào như ôm lấy chiếc lưỡi gà bằng nhựa màu đen có tác dụng ngăn

khơng cho mực xuống nhiều, cũng làm cho em viết trên giấy được nhẹ nhàng và trơn

hơn, ngòi bút viết rất đẹp lại khơng bị gai. Em ln viết bằng bút máy vì viết bút máy

sẽ giúp chữ em đẹp hơn, tập cho em tính nết cẩn thận hơn khi viết cũng như làm bài

tập.

3.2.5.2 Tả cây cối

Phương pháp làm bài

* Bước 1: Xác định đối tượng miêu tả: Cây định tả là cây gì ? Của ai ? Trồng ở

đâu ? Có từ bao giờ ?...

* Bước 2: Quan sát toàn diện và cụ thể đối tượng miêu tả.

- Tầm vóc, hình dáng, vẻ đẹp của cây (rễ, gốc, thân, cành, lá, hoa, quả,...).

- Màu sắc, hương thơm (tập trung nhất ở hoa, quả).

- Tác dụng của cây đó đối với mơi trường xung quanh và cuộc sống con người.



37



* Bước 3: Lập dàn ý: Sắp xếp các chi tiết đã quan sát được theo một trình tự

nhất định thành dàn ý.

* Bước 4: Làm bài: Lựa chọn từ ngữ, hình ảnh để từ dàn ý viết thành một bài văn

tả cây cối hoàn chỉnh.

Dàn bài chung

* Mở bài: Giới thiệu cây (tên gọi, nơi trồng, thời gian trồng,...).

* Thân bài: Tả cây (từ bao quát đến từng bộ phận cụ thể).

- Tầm vóc, hình dáng (lớn hay nhỏ, cao hay thấp, thanh mảnh hay sum sê,...).

- Rễ, thân, cành, lá,... có đặc điểm gì ?

- Hoa, trái có đặc điểm gì ? (về màu sắc, hương thơm, mùi vị,...). Thường ra vào

mùa nào trong năm ?

- Cây gắn bó với mơi trường sống và con người như thế nào ?

* Kết bài: Cảm nghĩ của em về cây đó (u thích, nâng niu, chăm sóc,...)

* Ví dụ 6: Nhà em ( hoặc gần nơi em ở) có nhiều cây to. Hãy viết một đoạn văn tả một

cây có nhiều kỉ niệm với em.

* Hướng dẫn cách thực hiện:

- Bước 1: Cho HS xác định yêu cầu của đề bài ? Đề bài thuộc kiểu bài văn gì ?

- Bước 2: Xác định vốn từ cần miêu tả trong đề bài này.

- Bước 3: GV hướng dẫn cho HS lập dàn ý ra ngoài giấy nháp theo từng phần cụ thể.

- Bước 4: Cho HS viết bài, và sau đó kiểm tra, rà sốt bài về nội dung cũng như cách

diễn đạt, lỗi chính tả.

* Gợi ý: Trong sân trường em có rất nhiều cây có bóng mát. Cây bàng này cao trên

năm mét, gốc cây to bằng một vòng tay của em. Lá bàng bóng, xanh, mát rười rượi.

Đẹp nhất là vào mùa xuân. Từ những bàn tay cỗi cằn, những búp non bắt đầu nhú lên,

dựng đứng. Tưởng như ai đã thả những mầm non này rơi xuống cành cây. Sang hè. Lá

lên thật dày, ánh sáng xuyên qua chỉ còn là màu ngọc bích. Mùa hè còn là mùa để bàng

đơm hoa, kết trái. Hoa bàng nhỏ xíu, kết thành chuỗi dài. Chỉ cần một làn gió nhẹ là có

ngay mấy bơng bàng lìa cành. Trái bàng nhỏ như cái cục tẩy mực của mẹ em, có điều

lớn hơn một chút. Vỏ và ruột giống hệt quả dừa. Chỉ khác có mỗi chỗ là bên trong

khơng có nước thơi. Em nghĩ : Rồi một ngày, em phải xa mái trường tiểu học thân yêu

này, em sẽ mãi mãi mang theo hình bóng đẹp của cây bàng và bao nhiêu kỉ niệm thân

thương của tuổi học trò.

38



3.2.5.3 Tả con vật

Phương pháp làm bài

* Bước 1: Xác định đối tượng miêu tả. Con vật em định tả là con gì ? Của ai ?

Nuôi đã được bao lâu ?...

* Bước 2: Quan sát con vật :

- Quan sát con vật trong môi trường sống của nó. Chú ý tới ngoại hình với những đặc

điểm tiêu biểu về hình dáng, màu sắc, đường nét,...

- Quan sát những đặc tính bên trong của con vật, thể hiện qua tính nết, hành động của

con vật. Chọn những nét thể hiện rõ nhất đặc tính chung của giống lồi và những nét

mang tính cá thể, riêng biệt của con vật.

- Nhận xét về mối quan hệ giữa con vật với môi trường xung quanh và đời sống con

người.

* Bước 3: Lập dàn ý chi tiết, ghi rõ những nội dung cần miêu tả.

* Bước 4: Lựa chọn từ ngữ, hình ảnh để phát triển dàn ý thành một bài văn tả loài

vật hoàn chỉnh.

Dàn bài chung

* Mở bài: Giới thiệu con vật (tên gọi). Con vật này của ai ? Nuôi từ bao giờ ?

* Thân bài: Tả con vật (từ bao quát đến từng bộ phận cụ thể).

- Tả ngoại hình: Hình dáng, tầm vóc, màu sắc, đường nét cùng các bộ phận đầu,

tai, mũi, miệng, chân, đi,...

Chú ý:

- Tuỳ từng con vật mà hình dáng bề ngoài được nhấn mạnh vào những chi tiết tiêu biểu

nhất. Không nhất thiết phải tả tỉ mỉ từng bộ phận.

- Tả đặc tính và hoạt động của con vật: Chọn ra những điểm tiêu biểu nhất thể hiện

được đặc tính chung của giống lồi (mèo khác chó, bò khác heo, gà khác vịt,...) và đặc

tính (tính nết) riêng của con vật trong ăn uống, hoạt động,...Tác dụng của con vật đối

với đời sống con người.

* Kết bài: Cảm nghĩ của em đối với con vật được tả.

* Ví dụ 7: Em hãy miêu tả con vật mà em yêu quý nhất.

* Hướng dẫn cách thực hiện:

- Bước 1: Cho HS xác định yêu cầu của đề bài ? Đề bài thuộc kiểu bài văn gì ?

- Bước 2: GV hướng dẫn HS xác định vốn từ cần miêu tả trong đề bài này.

39



- Bước 3: Cho HS lập dàn ý ra ngoài giấy nháp theo từng phần cụ thể.

- Bước 4: Cho HS viết bài, và sau đó kiểm tra, rà soát bài về nội dung cũng như cách

diễn đạt, lỗi chính tả.

* Gợi ý: Tháng trước, ba em về thăm nội. Bà nội gửi cho em một chú chó con, trơng

thật xinh xắn.

Em đặt tên nó là Mi-Na, Mi-Na có lơng màu vàng rơm. Nó mới được ba tháng

tuổi nên chỉ lớn bằng trái bầu vừa vừa. Em ơm gọn nó trong lòng. Cái đầu chú cún con

nhỏ, đơi tai vểnh và chiếc mòm đen ướt, cái lưỡi hồng hồng. Mi-Na tuy nhỏ nhưng

thân hình rất cân đối. Đám lông trắng ôm lấy cái ức nở, trông như chiếc yếu trẻ con.

Bụng nó thon, bốn chân cao và có móng đeo. Cái đi xù uốn cong thành một vòng

tròn trên lưng nó. Sáng sáng, chú Mi-Na hay nằm ngoài thềm sưởi nắng. Cái mõm gác

lên hai chân trước, mắt lim dim như ngủ, nhưng đôi tai vểnh lên nghe ngóng. Hễ có

người lạ vào nhà là nó sủa ngay. Trưa nào em đi học về, nó cũng lon ton ra tận cổng

đón mừng, cái đi ngốy tít và nó rít lên ư ử trong cổ họng.

Em thích Mi-Na lắm vì nó dễ thương và tinh khơn. Em thường cho nó ăn, còn chị

Hai vài ngày lại tắm cho nó một lần. Nó mến mọi người trong nhà, vì thế mà nó được

mọi người vuốt ve, âu yếm

3.2.6. Biện pháp 6: Rèn kĩ năng viết văn miêu tả thông qua hệ thống bài tập

3.2.6.1. Bài tập về phép viết câu

* Các biện pháp nghệ thuật thường sử dụng khi viết câu văn.

- Biện pháp so sánh:

VD:



Bà như quả ngọt chín rồi

Càng thêm tuổi tác, càng tươi lòng vàng.

(Võ Thanh An)



So sánh bà (sống lâu, tuổi đã cao) như quả ngọt chín rồi (quả đến độ già giặn, có giá

trị dinh dưỡng cao). So sánh như vậy để cho người người đọc sự suy nghĩ, liên tưởng:

Bà có tấm lòng thơm thảo, đáng q, có ích lợi cho cuộc đời, đáng nâng niu và trân

trọng.

- Biện pháp nhân hóa:

VD:



Ơng trời nổi lửa đằng đông

Bà sân vấn chiếc khăn hồng đẹp thay.

(Trần Đăng Khoa)

40



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 3. CÁC BIỆN PHÁP RÈN KĨ NĂNG VIẾT VĂN MIÊU TẢ CHO HỌC SINH LỚP 4 VÀ THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM TẠI TRƯỜNG TIỂU HỌC KIM ĐỒNG, TAM KỲ, QUẢNG NAM

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×