Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC RÈN KĨ NĂNG VIẾT VĂN MIÊU TẢ CHO HỌC SINH LỚP 4

CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC RÈN KĨ NĂNG VIẾT VĂN MIÊU TẢ CHO HỌC SINH LỚP 4

Tải bản đầy đủ - 0trang

Tóm lại “Miêu tả là dùng lời văn có hình ảnh, làm hiện ra hay vẽ ra trước mắt

người đọc hoặc người nghe bức tranh cụ thể về một đối tượng (đồ vật, cây cối, loài

vật, con người...) làm ta chú ý và cảm xúc sâu sắc”.



1.1.1.3. Kĩ năng là gì ?

Theo“Từ điển tường giải và liên tưởng Tiếng Việt” (Nguyễn Văn Đạm) “Kĩ năng

là thói quen áp dụng thành thạo vào thực tiễn những kiến thức đã học hoặc những kết

quả của một quá trình luyện tập” [16,156].

1.1.1.4. Kĩ năng làm văn miêu tả

Theo “Từ điển tường giải và liên tưởng Tiếng Việt” (Nguyễn Văn Đạm), “Từ

điển tiếng Việt (Viện ngôn ngữ học) và Sách giáo khoa phổ thông... Nhìn chung, các

định nghĩa đều có cách nhìn giống nhau về ngôn ngữ miêu tả: Miêu tả là dùng ngôn

ngữ hoặc một phương tiện nghệ thuật nào đó làm cho người khác có thể hình dung

được cụ thể sự vật, sự việc, con người... Muốn miêu tả được, ta phải quan sát, tổ chức

sắp xếp các chi tiết theo lôgic, lựa chọn từ ngữ, cách đặt câu, dựng đoạn một cách có

nghệ thuật... cốt để làm nổi bật cái thần, cái hồn của đối tượng miêu tả.

Như vậy, ta hiểu rộng ra: Kĩ năng làm văn miêu tả là cách vận dụng thành thạo

các thói quen vào thực tiễn bằng cách sử dụng ngôn ngữ như một phương tiện nghệ

thuật để miêu tả làm cho người khác hình dung cụ thể được sự vật, sự việc, con

người... nhằm làm nổi bật cái thần, cái hồn của đối tượng miêu tả.

1.1.1.5. Lập luận là gì ?

Theo từ điển Tiếng việt, nhà xuất bản văn hóa thơng tin, 2004 “Lập luận là đưa

ra những lý lẽ nhằm dẫn dắt người nghe đến một kết luận hay chấp nhận một kết luận

nào đó mà người nói muốn đạt tới.”

1.1.1.6. Biện pháp là gì ?

Theo“Từ điển tường giải và liên tưởng Tiếng Việt”(Nguyễn Văn Đạm), Biện

pháp là cách làm, cách giải quyết một vấn đề cụ thể.[16, 250]

1.1.2. Đặc điểm của văn miêu tả

a. Văn miêu tả là một loại văn mang tính thơng báo, thẩm mỹ, chứa đựng tình cảm của

người viết



5



Bất kì sự vật, hiện tượng nào cũng có thể trở thành đối tượng của văn miêu tả.

Trong văn miêu tả, sự vật và hiện tượng không được tái hiện theo kiểu “chụp ảnh” hay

sao chép một cách máy móc, khơ cứng mà là kết quả của sự nhận xét, tưởng tượng,

đánh giá hết sức phong phú. Nó thể hiện cái nhìn, cái quan sát, cách cảm nhận mới mẻ

của người viết với đối tượng miêu tả. Cái mới, cái riêng bắt đầu có thể chỉ là ở những

quan sát và kết quả của sự quan sát, sau đó tiến lên thể hiện cái mới, cái riêng trong tư

tưởng, tình cảm đối với đối tượng miêu tả. Cùng một đối tượng quan sát nhưng giữa

hai người sẽ có cái nhìn, cách cảm nhận, ý nghĩ, cảm xúc khác nhau. Vì vậy mà văn

miêu tả bao giờ cũng mang đậm dấu ấn cá nhân, cảm xúc chủ quan của người viết.

Đây chính là điểm khác biệt giữa miêu tả trong văn học và miêu tả trong khoa học

thường mang tính chính xác cao, nhưng lại thiếu cảm xúc, thiếu tâm hồn.

b. Văn miêu tả mang tính sinh động tạo hình

Một bài văn miêu tả được coi là sinh động, tạo hình khi các sự vật, đồ vật, con

người,... được miêu tả hiện lên qua từng câu, từng dòng như trong cuộc sống thực,

tưởng như có thể nắm được, nhìn, ngắm hoặc ‘‘sờ mó’’ được. Làm nên sự sinh động,

tạo hình của văn miêu tả là những chi tiết sống, gây ấn tượng,... Tước bỏ nó đi, bài văn

miêu tả sẽ trở nên mờ nhạt, vô vị.

Sự sinh động, sáng tạo trong văn miêu tả bao giờ cũng bắt nguồn từ cảm xúc

chân thành của người viết. Nhà văn Tố Hữu đã từng viết : “Văn chương là sự sáng

tạo, là tưởng tượng nhưng đừng có nói dối, đừng có bịa đặt những điều mình khơng

nghĩ, khơng cảm thấy chân thật”. Văn miêu tả khơng hạn chế trí tưởng tượng, khơng

ngăn cản sự sáng tạo cái mới của người viết. Nhưng như vậy không có nghĩa là văn

miêu tả cho phép người viết “bịa đặt” hay miêu tả một cách tuỳ tiện, miêu tả thế nào

cũng được. Muốn miêu tả đúng, miêu tả hay, trước hết cần phải miêu tả chân thật. Tính

chân thật ở đây không chỉ được hiểu trong quan sát và sự thể hiện những điều quan sát

ấy mà còn được hiểu là sự chân thật trong cách cảm, cách nghĩ của người viết.

c. Ngôn ngữ bài văn trong miêu tả giàu cảm xúc và hình ảnh

Miêu tả chỉ trở thành miêu tả văn học khi mà ngôn ngữ miêu tả diễn đạt được

cảm xúc của người viết, vẽ được sinh động, tạo hình đối tượng miêu tả.

Do đó, ngơn ngữ miêu tả bao giờ cũng là sự phong phú đa dạng của các từ gợi

tả, gợi cảm, các tính từ, động từ, các phép nhân hóa, ẩn dụ, so sánh... Nhờ có sự phối

hợp giữa các tính từ, các động từ, từ tượng thanh, từ tượng hình, từ láy và các biện

6



pháp tu từ hoặc đan xen vào những những đoạn văn tường thuật, kể chuyện… mà ngôn

ngữ trong văn miêu tả ln gợi lên trong lòng người đọc những cảm xúc, tình cảm, ấn

tượng mạnh về sự vật được miêu tả. Trong SGK TV ở Tiểu học, các đoạn văn trong

chương trình cũng như những đoạn văn làm ngữ liệu trong giờ dạy văn miêu tả đều sử

dụng ngôn ngữ miêu tả giàu cảm xúc và hình ảnh.

1.1.3. Vai trò của văn miêu tả đối với học sinh tiểu học

Phù hợp với đặc điểm tâm lí tuổi thơ (ưa quan sát, thích nhận xét, sự nhận xét

thiên về cảm tính..), góp phần ni dưỡng mối quan hệ và tạo nên sự quan tâm của các

em với thế giới xung quanh, trong đó quan trọng nhất là với thiên nhiên, góp phần giáo

dục tình cảm thẫm mĩ, lòng u cái đẹp, góp phần phát triển ngơn ngữ ở trẻ… Học văn

miêu tả, HS có thêm điều kiện để tạo nên sự thống nhất giữa tư duy và những tình

cảm, ngơn ngữ và cuộc sống, con người với thiên nhiên, với xã hội, để khêu gợi ra

những tình cảm, cảm xúc, ý nghĩ cao thượng đẹp đẽ.

Ở tiểu học, việc học văn miêu tả góp phần rèn luyện tư duy hình tượng, từ óc

quan sát đến trí tưởng tượng, từ khả năng tái hiện các chi tiết đã quan sát được. Khả

năng tư duy lôgic của HS cũng được phát triển trong q trình phân tích đề, lập dàn ý.

Trong q trình sản sinh văn bản cũng giúp HS có kĩ năng phân tích, tổng hợp, phân

loại, lựa chọn. Thơng qua viết văn miêu tả HS có sự hiểu biết và tình cảm u mến,

gắn bó với đồ vật, cây cỏ thiên nhiên với con người và vạn vật xung quanh: Từ một

quyển sách, đến một cây hoa, một chú gà trống… Từ đây tâm hồn, nhân cách của các

em sẽ được hình thành và phát triển. Như vậy ta thấy rằng việc đưa văn miêu tả vào

ngay từ cấp tiểu học là một việc nên làm và đúng đắn. Bởi nó có vai trò rất quan trọng

và thật sự cần thiết cho sự phát triển toàn diện của HS.

1.1.4. Đặc điểm tâm lý học sinh tiểu học

Ở bậc Tiểu học, lần đầu tiên HS được học văn miêu tả. Các em gặp nhiều khó

khăn cả về tri thức lẫn phương pháp. Do đó việc nắm được đặc điểm tâm lí của HS sẽ

giúp cho GV có những phương pháp thích hợp trong việc giảng dạy trong các giờ học

TLV miêu tả.

1.1.4.1. Tri giác

Tri giác của HSTH mang tính chung chung, đại thể ít đi sâu vào chi tiết và mang

tính khơng chủ động. Nó còn mang tính tổng thể và chưa đạt trình độ của tri giác phân

biệt. Ở lứa tuổi này, nét đặc trưng nhất của tri giác là tính chất ít phân hóa của nó. Các

7



em khó phân biệt những đối tượng có nét và đặc điểm gần giống nhau. Khi tri giác sự

phân tích có tính chất định hướng, có tổ chức và sâu sắc của trẻ em còn yếu. Vì vậy,

mà khi tri giác một sự vật thì các em phải làm cái gì đó cụ thể với sự vật như: cầm,

nắm, sờ, mó… Các em tri giác những gì phù hợp với nhu cầu của các em, những gì các

em thường gặp trong cuộc sống và gắn với các hoạt động của chúng, những gì mà GV

trực tiếp chỉ dẫn thì các em mới tri giác tốt. Chúng ta thấy rằng, các em tri giác những

sự vật, những dấu hiệu, những đặc điểm nào trực tiếp gây cho các em xúc cảm. Vì vậy,

khi các em tri giác tính xúc cảm thể hiện rất rõ, mang dấu ấn chủ quan.

Chúng ta cũng thấy rằng tri giác khơng tự bản thân nó phát triển được, trong

q trình học tập tri giác trở thành hoạt động có mục đích đặc biệt, trở nên phức tạp và

sâu sắc. Chính GV là người tổ chức q trình hoạt động cho học sinh để tri giác những

đối tượng nào đó, dạy cho trẻ vạch ra những đối tượng, những thuộc tính, bản chất của

sự vật hiện tượng, chỉ dẫn cho HS tri giác một cách có hệ thống và kế hoạch.

1.1.4.2. Chú ý

Sự chú ý khơng có chủ định là đặc điểm cơ bản của HSTH. Khả năng điều

chỉnh chú ý một cách có ý chí, khả năng chú ý còn bị hạn chế ở HS. Tuy nhiên sự chú

ý có chủ định của trẻ đã được tăng lên, mặt khác sự chú ý của trẻ có khả năng phát

triển ở một số phẩm chất khác về mặt số lượng cũng như về mặt phân hóa chú ý. Sự

chú ý thiếu bền vững của HSTH là do quá trình ức chế còn yếu. HS lớp 1, 2 khơng thể

tập trung lâu dài vào công việc, chú ý của trẻ dễ bị phân tán. HS lớp 4, 5 có thể duy trì

sự chú ý liên tục trong suốt giờ học. Do vậy, GV cần đưa những tri thức, những hoạt

động mới mẻ nhằm gây sự kích thích chú ý và hứng thú học tập của HS.

1.1.4.3. Trí nhớ

So với lúc tuổi mẫu giáo thì ở HSTH ghi nhớ có chủ định đều đang phát triển.

Sự phát triển trí nhớ của HSTH có sự biến đổi về chất. Đó là sự hình thành và phát

triển của “ghi nhớ có chủ định” phát triển ở mức cao hơn. Tuy vậy, với HSTH cả ghi

nhớ khơng chủ định và ghi nhớ có chủ định vẫn còn tồn tại song song chuyển hóa và

bổ sung cho nhau trong quá trình học tập. Vì vậy, GV cần nắm chắc và rèn luyện cho

HS cách sử dụng hai loại trí nhớ này một cách hợp lý và hiệu quả.

Ngồi ra chúng ta thấy rằng ngơn ngữ của HSTH ở cuối cấp càng phát triển mạnh

hơn. Vì vậy, mà ngơn ngữ đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc thúc đẩy trí nhớ

có chủ định phát triển. Nhờ có ngơn ngữ các em diễn đạt những tri thức đã biết bằng

8



lời, bằng chữ viết của mình, điều này rất quan trọng cho sự phát triển trí nhớ mà còn

cho cả sự phát triển của trí tưởng tượng, tư duy cho các em sau này.

1.1.4.4. Tưởng tượng

Tưởng tượng là một trong quá trình tâm lý rất quan trọng trong hoạt động nhận

thức. Sự nắm vững kiến thức bất kì một lĩnh vực nào khơng thể thiếu hoạt động tích

cực của tưởng tượng. Để lĩnh hội được tri thức, HS phải tái tạo cho mình những hình

ảnh của hiện thực như: Những sự kiện đã xảy ra trong quá khứ, những quang cảnh

chưa từng thấy, những đường nét, hình vẽ trong hình học…tất cả những điều đó tạo

điều kiện cho tưởng tượng phát triển. Ở đầu cấp tiểu học, tưởng tượng của các em còn

mang tính trực quan, cụ thể. HS ở cuối bậc tiểu học thì sự hình dung được đối tượng

một cách tương đối đầy đủ trọn vẹn hơn, tưởng tượng càng gần hiện thực hơn. Mặt

khác, đó cũng là nhờ các em biết dựa vào ngơn ngữ để xây dựng hình tượng ngơn ngữ

mang tính khái quát cao và trừu tượng hơn. Trong quá trình phát triển, tưởng tượng

cũng đã dần dần thoát khỏi ấn tượng trực tiếp, hơn nữa tính hiện thực trong tưởng

tượng của HS gắn liền với sự phát triển của tư duy ngơn ngữ.

Từ những đặc điểm trên, trong q trình dạy học, GV cần tổ chức dạy học theo

hướng cho HS quan sát các sự vật, hiện tượng, mơ hình cụ thể cho HS làm các dạng

bài tập mở giúp HS phát triển tốt hơn trí tưởng tượng.

1.1.4.5. Tư duy

Tư duy cũng là một quá trình tâm lý. Nhưng khác với q trình nhận thức cảm

tính, q trình tư duy phản ánh dấu hiệu, mối liên hệ bản chất các sự vật hiện tượng

khách quan.

Tuy nhiên, theo các nhà tâm lý học thì sự phát triển tư duy của HSTH diễn ra

theo hai giai đoạn cơ bản (tư duy trực quan cụ thể và tư duy trừu tượng khái quát). Tư

duy của trẻ em ở tiểu học sẽ chuyển dần từ tính trực quan cụ thể sang trừu tượng khái

quát. HSTH khi tiến hành phân tính, tổng hợp, khái quát,…thường căn cứ vào đặc

điểm bên ngoài, cụ thể, trực quan. Nhất là đối với HS đầu bậc tiểu học lớp 1 – 3, tới

lớp 4 – 5 các em đã có thể thoát khỏi ảnh hưởng chủ quan của dấu hiệu trực tiếp, hoàn

toàn dựa vào những tri thức và những khái niệm đã được hình thành trong quá trình

học tập. Ở giai đoạn đầu tư duy của trẻ vẫn bị cái tổng thể chi phối, tư duy phân tích đã

hình thành nhưng còn non và yếu nên các biểu tượng ở trẻ chưa thật chính xác và vững

chắc. Sang giai đoạn hai của tư duy trừu tượng, khái quát thì thao tác của tư duy như

9



phân loại hay tính tốn, thao tác về khơng gian và thời gian đã hình thành và phát

triển. Sự kết hợp các thao tác tư duy là cơ sở của việc hình thành khái niệm. Trẻ đã có

thể thốt khỏi ảnh hưởng chủ quan của những dấu hiệu trực tiếp và hoàn toàn dựa vào

những tri thức, khái niệm đã được hình thành trong quá trình học tập.

Từ những sự phân tích trên ta thấy rằng, trong quá trình dạy học GV cần phải

sử dụng phù hợp các phương pháp dạy học nhằm phát triển năng lực trí tuệ cũng như

nhằm bồi dưỡng những phẩm chất của hoạt động trí tuệ cho HS. Có như vậy, mới nâng

cao chất lượng và hiệu quả trong dạy học.

1.2. Cơ sở thực tiễn

1.2.1. Vị trí, nhiệm vụ của phân môn tập làm văn ở trường tiểu học

Theo quan điểm của Lê Thị Phương Nga và Nguyễn Trí trong phương pháp dạy

học tiếng Việt 2 ở trường tiểu học thì vị trí và nhiệm vụ của phân mơn TLV được xác

định cụ thể như sau:

1.2.1.1. Vị trí phân mơn tập làm văn

Môn Tiếng Việt ở tiểu học được chia thành tám phân môn (hay bảy loại bài

học) khác nhau: Học vần, Tập đọc, Tập viết, Chính tả, Từ ngữ, Ngữ pháp, trong đó

TLV có vị trí đặc biệt trong việc dạy và học tiếng Việt xét trên hai phương diện:

- Tận dụng các hiểu biết và kĩ năng về tiếng Việt do các phân môn khác rèn luyện

hoặc cung cấp đồng thời góp phần hồn thiện chúng. Để làm được bài làm văn nói

hoặc viết, người làm phải hồn thiện cả bốn kĩ năng nghe, nói, đọc, viết, phải vận dụng

các kiến thức về tiếng Việt. Trong quá trình vận dụng này, các kĩ năng và kiến thức đó

được hoàn thiện và nâng cao dần.

- Rèn luyện cho học sinh các kĩ năng sản sinh văn bản (nói và viết). Nhờ vậy tiếng

Việt không chỉ là một hệ thống cấu trúc được xem xét từng phần, từng mặt qua từng

phân môn mà trở thành một công cụ sinh động trong q trình tư duy, giao tiếp, học

tập. Nói cách khác, phân mơn TLV đã góp phần hiện thực hóa mục tiêu quan trọng bậc

nhất của việc dạy và học tiếng Việt là dạy học sinh sử dụng tiếng Việt trong đời sống

sinh hoạt, trong quá trình lĩnh hội các tri thức khoa học.

1.2.1.2. Nhiệm vụ phân môn tập làm văn ở trường tiểu học

- TLV có nhiệm vụ rèn luyện kĩ năng viết và nói các kiểu bài miêu tả, kể

chuyện, tường thuật, viết thư. Ngoài các kĩ năng chung của việc viết một văn bản, để

viết được bài văn miêu tả, kể chuyện, tường thuật, GV cần rèn luyện cho HS các kĩ

10



năng đặc thù như kĩ năng quan sát, kĩ năng xây dựng cốt truyện và nhân vật…Bên

cạnh đó việc rèn luyện tâm hồn, cảm xúc, việc tăng vốn sống, vốn hiểu biết trực tiếp

đời sống… cũng là yêu cầu cần phải quan tâm thích đáng nếu GV muốn HS thực sự

viết được các bài văn thuộc kiểu có hồn.

- Ở tiểu học phân mơn TLV góp phần rèn luyện tư duy hình tượng; từ óc quan

sát tới trí tưởng tượng, từ khả năng tái hiện các chi tiết đã quan sát được tới khả năng

nhào nặn các vật liệu có thực trong đời sống để xây dựng nên nhân vật, xây dựng cốt

truyện. Khả năng tư duy lôgic của HS cũng được phát triển trong quá trình học các

kiểu bài có phong cách nghệ thuật, việc phân tích đề, lập dàn ý… giúp HS có khả năng

phân tích tổng hợp, phân loại lựa chọn... trở nên sắc bén hơn. Các kiểu bài miêu tả, kể

chuyện, tường thuật, viết thư, viết đơn… giúp HS phát triển vốn động từ, tính từ, tập

vận dụng các biện pháp tu từ như so sánh, nhân hóa, hốn dụ… và làm nảy sinh tình

cảm u mến và gắn bó với thiên nhiên, với mọi người và sự việc xung quanh. Từ đây

tâm hồn và nhân cách của các em hình thành và phát triển.

1.2.2. Nội dung chương trình Tập làm văn miêu tả lớp 4

- Bắt đầu từ tuần 14 HS lớp 4 bắt đầu học thế nào là văn miêu tả, cấu tạo bài

văn miêu tả đồ vật.

- Tuần 15 và 16: Quan sát và luyện tập miêu tả đồ vật.

- Tuần 17 và 18: Đoạn văn trong bài văn miêu tả đồ vật và luyện tập xây dựng

đoạn văn miêu tả đồ vật.

- Tuần 19 và 20: Luyện tập xây dựng mở bài, kết bài trong bài văn miêu tả đồ

vật và kiểm tra viết miêu tả đồ vật.

- Tuần 21 và 22: Trả bài văn miêu tả đồ vật, cấu tạo bài văn miêu tả cây cối, và

luyện tập quan sát, miêu tả các bộ phận của cây cối.

- Tuần 23 và 24: Luyện tập miêu tả các bộ phận của cây cối và xây dựng đoạn

văn miêu tả cây cối.

- Tuần 25 và 26: Luyện tập xây dựng mở bài, kết bài trong bài văn miêu tả cây

cối và luyện tập miêu tả cây cối.

- Tuần 27 và 28: Kiểm tra và trả bài viết miêu tả cây cối.

- Tuần 29 và 30: Cấu tạo của bài văn miêu tả con vật và luyện tập quan sát con

vật.



11



- Tuần 31 và 32: Luyện tập miêu tả các bộ phận của con vật, luyện tập xây dựng

đoạn văn miêu tả con vật và xây dựng mở bài, kết bài trong bài văn miêu tả con vật.

- Tuần 33 và 34: Kiểm tra và trả bài viết miêu tả con vật.



12



1.2.3. Mục tiêu dạy - học văn miêu tả

1.2.3.1. Kiến thức

- Học sinh phải hiểu thế nào là miêu tả ?

- Miêu tả đồ vật: Biết cách quan sát, tìm ý, lập dàn ý bài văn miêu tả đồ vật.

- Miêu tả cây cối: Biết cách quan sát, tìm ý, lập dàn ý bài văn miêu tả cây cối.

- Miêu tả con vật : Biết cách quan sát, tìm ý, lập dàn ý bài văn miêu tả con vật.

1.2.3.2. Kĩ năng

Chương trình TLV miêu tả (nhằm trang bị cho HS những kĩ năng sản sinh ngôn

bản), cụ thể:

- Kĩ năng định hướng hoạt động giao tiếp: Nhận diện đặc điểm văn bản, phân tích đề

bài, xác định yêu cầu.

- Kĩ năng lập chương trình hoạt động giao tiếp: Xác định dàn ý của bài văn đã cho,

quan sát đối tượng tìm ý và sắp xếp ý thành dàn ý trong bài văn miêu tả.

- Kĩ năng thực hiện hoá hoạt động giao tiếp: Đối chiếu văn bản nói, viết của bản thân

với mục đích giao tiếp và yêu cầu diễn đạt, sửa lỗi về nội dung và hình thức diễn đạt.

1.2.3.2. Thái độ

- Rèn cho HS có lòng u quý Tiếng Việt.

- Có ý thức rèn luyện văn miêu tả một cách thường xuyên và liên tục.

1.2.4. Các kiểu bài văn miêu tả trong phân môn tập làm văn ở lớp 4

* Miêu tả đồ vật.

* Miêu tả cây cối.

* Miêu tả con vật.

1.3. Thế nào là một bài văn miêu tả hay

Một bài văn hay phải đạt được 3 yêu cầu: Nội dung, hình thức và cách trình bày

* Nội dung:

- Ý tưởng phải ăn khớp với đề bài.

- Ý tưởng phải đúng, mới và đặc biệt.

- Ý tưởng phải súc tích (chứa nhiều ý trong một hình thức diễn đạt ngắn gọn).

- Ý tưởng phải xếp đặt có thứ tự và mạch lạc.

- Ý tưởng cuối cùng (ở phần kết bài) phải khái quát được các ý đã nêu ra.

* Hình thức:

- Viết đúng từ vựng (sử dụng đúng từ ngữ).

13



- Viết đúng nội dung (đặt câu đúng ngữ pháp, có đủ CN, VN).

- Viết đúng dấu câu (sử dụng đúng các dấu câu đã được học).

* Trình bày:

Chữ viết phải rõ ràng, ngay ngắn, đẹp; viết hoa đúng chỗ, các đoạn văn được

phân bố hợp lí (không nên quá dài hoặc quá ngắn).

* Cách dùng từ:

- Phải dùng từ cho chính xác, lựa chọn từ ngữ nào hay nhất để làm cho câu văn

có hồn.

* Một yêu cầu cuối cùng khi viết văn là phải hết sức tránh sự cẩu thả về chữ viết,

về cách trình bày, tránh các sai sót về chính tả. Muốn thế, trong khi viết, chúng ta phải

hết sức chú ý suy nghĩ và vận dụng cho đúng, trình bày cho sáng sủa. Đặc biệt, khi viết

xong bài, phải dành thời gian đọc lại để sửa lại những sai sót (nếu có thể).

1.4. Phương pháp chung khi làm một bài văn miêu tả

1.4.1. Đọc kĩ đề bài

Đọc kĩ đề bài để nắm vững ý nghĩa từng từ, từng câu và tự trả lời 4 câu hỏi sau:

- Đề bài thuộc thể loại văn nào ?

- Đề bài đòi hỏi ta giải quyết những vấn đề gì ?

- Phạm vi bài làm đến đâu ?

- Trọng tâm đề bài ở chỗ nào ?

1.4.2. Tìm ý – lập dàn bài

* Để lập dàn bài cho một bài văn, các em cần đi theo các bước sau:

- Bước 1: Chuẩn bị một tờ giấy nháp trắng để viết toàn bộ nội dung của dàn ý trên

cùng một mặt giấy để tiện theo dõi (không nên ghi dàn ý vào 2 mặt của tờ giấy vì như

thế sẽ khó quan sát được tồn bộ các ý chính cần có của bài văn).

- Bước 2: Ghi sẵn 3 phần lớn của bài văn: 1. Mở bài (MB), 2. Thân bài (TB), 3. Kết

bài (KB). Viết phần 1 xong để cách khoảng 2-3 dòng rồi mới ghi phần 2, phần 3 ghi

xuống cuối tờ nháp, chỉ cần 2-3 dòng là đủ. Các khoảng trống để ta nhập các ý cần

phải có ở mỗi phần vào.

- Bước 3: Nhớ lại những đặc điểm về thể loại, nhớ lại đặc điểm dàn bài chung của thể

loại, dựa vào ý chính của đề để lập một dàn bài chi tiết cho bài văn mình chuẩn bị viết.



14



1.4.3. Viết thành bài văn hoàn chỉnh

Đây là bước quan trọng nhất và cũng là khâu khó nhất. Trên cơ sở dàn bài vừa

lập, em viết thành một bài văn hoàn chỉnh gồm 3 phần (MB,TB, KB), 3 phần này nối

tiếp nhau tạo nên một văn bản thống nhất từ đầu đến cuối để giải quyết vấn đề nêu ra ở

đề bài. Khi viết, phải viết từng câu, nghĩ 2 – 3 câu liền rồi mới viết để các câu đứng

cạnh nhau không bị khập khiễng về cách diễn đạt ý. Khi đặt lời văn để diễn đạt các ý

(đã trình bày ở dàn bài chi tiết), các em lưu ý cách diễn đạt có hình ảnh, gợi cảm và

sinh động bằng cách sử dụng các biện pháp tu từ, các từ ngữ gợi tả, gợi cảm, các từ

tượng thanh, tượng hình,...Ý hay là nhờ ở lời văn rõ ràng, mạch lạc. Vì vậy, chúng ta

cần đặt câu đúng ngữ pháp, tránh viết câu quá dài, tạo nên những câu văn có nhiều ý, ý

luẩn quẩn, lộn xộn hoặc không rõ ràng. Đặc biệt, trong khi trình bày, cần đặt các dấu

câu đúng chỗ, thể hiện đúng nội dung đang trình bày. Sử dụng dấu câu hợp lí, đúng

chỗ cũng là một yếu tố quan trọng giúp cho bài văn của chúng ta trở nên rõ ràng, rành

mạch, quyết định tới 40% thành công của một bài văn. Khi trình bày lưu ý khơng viết

tắt, không viết chữ số, trừ những số về đo lường và ngày, tháng, năm.

1.4.4. Đọc lại bài văn

Sau khi viết xong, cần đọc lướt lại bài văn để sửa các lỗi về chính tả, dấu câu,

cách dùng từ, diễn đạt các ý liên quan đến đề bài TLV.

Tiểu kết chương 1

Văn miêu tả là một trong những kiểu văn bản có vị trí, vai trò quan trọng. Học

văn miêu tả, HS có thêm điều kiện để phát triển tư duy, tình cảm, năng lực quan sát,

tưởng tượng và hồn thiện ngơn ngữ tiếng mẹ đẻ. Vì vậy, mà văn miêu tả luôn được

các nhà giáo dục chú trọng và quan tâm. Đã có rất nhiều cơng trình nghiên cứu nhằm

mục đích phục vụ cho cơng việc dạy và học văn miêu tả cho GV và HS.

Rèn kĩ năng viết văn miêu tả là một trong những vấn đề trọng tâm và cần thiết

trong chương trình TLV miêu tả lớp 4. Trong thực tế dạy học, hoạt động rèn kĩ năng

viết văn cho HS còn nhiều hạn chế. GV thì dạy bằng kinh nghiệm của bản thân, chưa

có quy trình viết văn hồn chỉnh để đảm bảo cho q trình sản sinh văn bản của các

em. Kĩ năng viết văn của HS có quá nhiều khiếm khuyết: nghèo vốn từ, việc tìm từ, sử

dụng từ chưa chính xác, liên kết ý, câu trong đoạn còn lỏng lẻo, đơi khi mâu thuẫn lẫn

nhau khiến cho việc viết bài văn bị khập khiễng có khi bị lệch lạc. Các giờ học TLV

đơi khi biến thành những giờ đọc văn mẫu làm cho giờ học trở nên nhàm chán, buồn

15



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC RÈN KĨ NĂNG VIẾT VĂN MIÊU TẢ CHO HỌC SINH LỚP 4

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×