Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Một số loài khác như Ráy leo lá lớn, Dứa dại... quả thích nghi với hình thức phát tán nhờ Động vật, quả thường có màu sắc sặc sỡ, có mùi thơm, vị ngọt.

Một số loài khác như Ráy leo lá lớn, Dứa dại... quả thích nghi với hình thức phát tán nhờ Động vật, quả thường có màu sắc sặc sỡ, có mùi thơm, vị ngọt.

Tải bản đầy đủ - 0trang

2.4.2. Chân rết[Xem phụ lục ..., Hình ...]

* Dạng sống: Cây thảo mảnh, mọc thành cụm.

* Thân: Thân gần hình trụ và mảnh ở gốc, leo dài 20-40m.

* Lá: Lá có phiến hình thn nhọn; hơi hình lưỡi hái, xếp hai dãy, dài 40mm,

rộng 7mm, màu xanh lục.Cuống hình dải thn, gân hình tim ngược ở đỉnh.

* Rễ: Rễ chùm, khá phát triển, từng rễ bám lên tảng núi đá chiều dài trung bình

khoảng 2-3cm

* Hoa [Xem phụ lục...., Hình...]

Cụm hoa ở nách hay đỉnh cành, rất dài (15-20cm) có 4-5 vẩy hình dải, lợp lên

nhau. Mo hình dải, có mũi. Trục cụm hoa nạc, mang nhiều hoa; bao hoa có 6 mảnh;

nhị 6. Quả mọng hình trái xoan, khi chín có màu đỏ.

Mùa hoa quả: Tháng 3 – 7

* Quả và hạt: Quả có 3 cạnh, màu đen nhạt, chứa 1 hạt

2.4.3. Cây Dứa dại [Xem phụ lục..., Hình...]

* Dạng sống: Dứa dại thường mọc thành từng bụi lớn, cao từ 1-2m, có khi cao

hơn.

* Thân: Thân cây nhỏ,phân nhánh ở ngọn.

* Lá: Lá mọc tập trung ở ngọn.Phiến lá dẹp, dài từ 0,7-1m, chính giữa phiến lá

có đường gân, mặt trên phiến lá có một khe lõm chạy dọc từ chóp lá đến gốc lá.

Những rãnh này có tác dụng như những chiếc máng thu gom, dẫn nước về gốc khi có

mưa (đặc biệt có tác dụng khi mưa nhỏ) nhằm bổ sung nguồn nước cho cây. Dọc hai

bên mép lá và đường gân chính giữa phiến lá ở mặt sau có nhiều gai nhỏ, sắc. Mặt

trên của lá có màu xanh đậm, nhẵn bóng có tác dụng làm giảm bức xạ mặt trời, mặt

dưới có màu xanh nhạt hơn.

* Rễ: Có nhiều rễ phụ mọc thòng lọng xuống đất, giúp cây chống sự tác động

của thời tiết làm gãy đổ ở địa hình nhấp nhơ.

* Hoa: Hoa đơn tính, khác gốc. Hoa đực nhỏ, màu trắng, có mùi thơm, mọc

thành cụm ở đỉnh sinh chồi. Hoa cái có cấu tạo tương tự hoa Dứa...



22



* Qủa: Cụm quả tạo thành một khối hình trứng dài 16-22 cm. Có cuống màu da

cam. Gồm những quả hạch có góc, xẻ thành nhiều ô.Khi non màu xanh, khi già màu

nâu đến nâu-đỏ, trên quả có nhiều mắt nhỏ. Ra quả vào mùa hè.

2.4.4. Cây Giáng Hương [Xem phụ lục...., Hình...]

* Dạng sống: Cây thân gỗ lớn, sống nhiều năm.

* Thân: Cây cao tới 20-25m, đường kính thân 0,9m; Tán dày. Cành non mảnh

và có lơng, cành già nhẵn, có vỏ sẫm màu và nứt dọc.

* Lá: Gồm 5-9-11 lá chét, hình trái xoan thn, gốc tròn hoặc tù, đầu nhọn có

mũ cứng, hơi có lơng, mặt trên sáng bóng, mặt dưới nhạt và tối

* Rễ: Cây rễ cọc, bộ rễ phát triển mạnh nên sẽ giúp giảm khả năng đổ, ngã. Rễ

cây giáng hương có sinh vật cộng hưởng còn có khả năng cố định đamh cải tạo đất

* Hoa: Ra hoa tháng 2-3.Cụm hoa chùy ở nách, không phân nhánh, phủ lơng

màu nâu. Hoa màu vàng, thơm. Đài có lơng ở mặt ngồi, răng nhọn. Cánh hoa có

móng. Nhị 1 bó. Bầu có lơng

* Qủa: Có quả từ tháng 7 đến tháng 12. Tròn dẹt, có mũi nhọn cong về phía

dưới hạt,1-2 ơ, mỗi ơ chưa 1-2 hạt,

2.4.5. Cây Bơng ổi (ngũ sắc) [Xem phụ lục..., Hình ...]

* Dạng sống: Cây bụi, thân gỗ, sống nhiều năm.

* Thân: Cây cao từ 1,5-2 m, hay có thể hơn một chút. Thân có gai, cành dài

hình vng có gai ngắn và lơng ráp.

* Lá [Xem phụ lục ..., Hình...]

Lá mọc đối, khía răng, mặt dưới có lơng. Lá hình trái xoan, nhọn đầu, gốc

hình tim- dày, xanh nhạt, mặt trên phủ lơng ngắn, mặt dưới có lơng mềm, mặt lá xù xì,

nếp lá có năng cưa...

* Rễ: Rễ phát triển nhanh. Rễ cọc bám chặt vào đất. Rễ cây bơng ổi có sinh vật

cộng hưởng còn có khả năng cố định đạm cải tạo đất.

* Hoa: Cụm hoa là những bông co lại thành dầu giả mọc ở nách các lá ở ngọn

Hoa lưỡng tính, khơng đều, thoạt tiên vàng lợt rồi vàng kim, vàng tươi, sau

cùng đỏ chói, ít khi tồn hoa trắng. Cụm hoa dạng tán hình cầu mang nhiều hoa sát

nhau- hoa nở từ vòng ngồi, lần lần vào trong. Hoa khơng có cuống, có cánh hoa dạng

ống hẹp màu trắng, vàng cam và đỏ xen lẫn nhau. Hoa nở từ tháng 6 đến tháng 10.



23



* Qủa: Quả hạch hình cầu nằm trong lá dài, khi chín màu đen, nhân gồm 1-2

hạt cứng, xù xì.

2.4.6. Lu Lu đực [Xem phụ lục..., Hình...]

* Dạng sống: Cây thảo cao 30-100cm, sống hằng năm hoặc lâu năm

* Thân: Thân phân cành, cành lá và phần non có phủ lớp lơng mỏng. Thân

cành tròn hoặc hơi có khía cạnh. Thân

* Lá: [Xem phụ lục..., Hình...]

Lá đơn, nguyên, mọc cách. Phiến lá hình trứng hoặc trứng mũi mác, mép phiến

lá có răng cưa thưa, kích thước phiến lá dài 2,5 – 7 cm và rộng 2-4,5 cm. Cuống lá dài

từ 2 – 5 cm.

* Rễ: Rễ cọc cứng chắc, xung quanh có nhiều rễ phụ giúp bám chặt vào lớp đất

đá

* Hoa:

Hoa nở từ tháng 6 đến tháng 10, hoa tự dạng chùm mọc từ nách lá, chùm hoa

thường từ 3 bông hoa. Đài hoa gồm 5 cánh đài hình trứng dài 1,2 – 2,5 mm tồn tại

theo hoa và quả, khi quả chín thì lá đài hơi uốn cong. Tràng hoa gồm 5 cánh màu

trắng hoặc phớt xanh, chiều dài của cánh tràng hoa từ 4 – 9 mm, thường gấp 1,5 – 3

lần chiều dài cánh đài hoa. Hoa có 5 nhị màu vàng, dài từ 1,5 – 2,5 mm. Cây thụ phấn

nhờ cơn trùng và ong bướm

* Qủa: Khi chín có hình cầu, đường kính từ 6 – 8 mm, thường màu tím đen

hoặc đen.

2.4.7. Đơn nem [Xem phụ lục...., Hình....]

* Dạng sống: Cây bụi hay cây gỗ nhỏ

* Thân: Cao tới 3m, cành non khơng lơng hoặc có lơng thưa

* Lá: Lá mọc so le. Mặt dưới lá, cuống lá và cụm hoa có lơng mịn. Lá hình

bầu dục dài, hơi nhọn hay gần tròn ở gốc, thót nhọn và có mũi sắc ở đầu, có răng ít ở

2/3 trên, mỏng dạng màng, dài 6-11cm, rộng 2,5- 5cm, mặt trên lục đậm, mặt dưới lục

vàng; gân bên 6-9 đôi

* Rễ: Có dạng rễ cọc, rễ to khỏe đâm xuống lòng đất, bám chặt vào lớp đất

đá,có chức năng hút nước và các chất dinh dưỡng từ trong đất.Về cấu trúc thì tương tự

như rễ của thực vật có hạt.



24



* Hoa: Cụm hoa hình chùy ở nách lá dài 3- 10cm; hoa dài cỡ 2mm; Lá bắc

hình thn nhọn, dài 1 mm; lá bắc con hình trái xoan, nhọn. Lá đài 5, dài 1mm, đầu

tròn, mép gợn sóng, có gân tuyến, ống dài 1mm. Nhị 5, dài 1mm, đầu tròn, mép gợn

sóng, có gân tuyến, ống dài 1mm. Nhị 5, dài 1mm, bao phấn hình trái xoan, tù. Bầu

hình trứng rộng, cao 0,5 mm, vòi nhụy hình sợi dài bằng đầu, đầu nhụy hình đầu. Ra

hoa tháng 4-5

* Qủa và hạt:

- Quả hình trứng có vòi nhụy và lá đài tồn tại rộng cỡ 4mm, màu trắng vàng, có

vỏ quả giữa nạc. Có quả tháng 8-11.

- Hạt nhiều, dài 0,5mm, màu đen, sần sùi, có gai.

2.4.8. Cây Móng bò [Xem phụ lục...,Hình...]

* Dạng sống: Cây gỗ leo

* Thân: Thân cây sần sùi, màu xám với cành nhánh nhiều và dài lan trên các

tảng núi đá vôi, tán lá rộng, thưa.

* Lá: Lá cây móng bò to, Hình tim ở góc, dài khoảng 6-15cm, có màu xanh

đậm, nhẵn ở mặt trên, có từ 9-11 gân bên nổi rõ ở mặt dưới của lá, cuống lá dài từ 24cm. Lá của cây phân làm 2 thùy, trơng giống móng chân bò nên người ta dùng cái

tên tượng hình” cây móng bò” giúp chúng dễ nhận dạng.

* Rễ: Có chức năng hút nước và các chất dinh dưỡng từ trong đất. Chúng luôn luôn là

rễ cọc bám sâu vào lớp đất đá và về cấu trúc thì tương tự như rễ của thực vật có hạt.

* Hoa: Hoa móng bò có dạng chùm thưa, dạng hoa lưỡng tính với những bơng

to, 5 cánh mềm màu đỏ tím trơng rất đẹp. Những chùm hoa móng bò mọc ở nách lá

hoặc đầu cànhh có hương thơm dịu nhẹ lan tỏa trong khơng khí.

* Qủa và hạt:

Quả của cây móng bò dẹt, thn dài chứa nhiều hạt bên trong.

2.4.9. Mảnh bát [Xem phụ lục..., Hình...]

* Dạng sống: Cây thảo leo sống nhiều năm

* Thân: [Xem phụ lục..., Hình...]

Thân mảnh, có lơng.



25



* Lá: Phiến lá đa dạng, có 3-5 thùy sâu ít hay nhiều, dài 10-15 cm, mép có

năng thưa nhọn, gân gố 5, mặt trên nhám, mặt dưới có lơng sát dày; cuống 4-6cm; tua

cuốn chẻ 2

* Rễ: [Xem phụ lục..., Hình...]

Hệ rễ cây mảnh bát nhiều nhưng mỏng, ít phát triển, từng sợi rễ mảnh, bám

nhẹ trên tảng đá vôi, lan đi khắp nơi.

* Hoa: [Xem phụ lục..., Hình...]

Chùm hoa đực dài đến 20cm; hoa 4-10; Cánh hoa trắng, hình trái xoan tam

giác, phần nguyên đài đến 8mm, phần có rìa dài 10-12 mm. Hoa cái đơn độc, cuống

dài 2-3 cm

* Quả: Mọng hình bầu dục, dài 8-10 cm, rộng 2,5- 3cm, không lông; hạt dài 67 mm, có phần giữa thn, bao bởi một dải ngang gồ lên

2.4.10. Chó đẻ răng cưa(Vitex rotundifolia L. f.) [Xem phụ lục..., Hình...]

* Dạng sống: Cây thân thảo sống một năm (đơi khi lâu năm), mọc thẳng hay

nằm bò, cao tới 80 cm.



* Thân: Thân cây tạo nhiều nhánh ở gần gốc; các nhánh nằm sóng sồi hay

thẳng, có cánh, có lơng cứng dọc theo một bên

* Lá: Các lá xếp thành hai dãy; các lá kèm hình trứng-mũi mác, khoảng

1,5 mm, gốc lá kèm có tai dễ thấy; cuống lá kèm rất ngắn; phiến lá mỏng như giấy,

thuôn dài hay thuôn dài-trứng ngược hoặc gần như thẳng, đôi khi hơi cong hình lưỡi

liềm, kích thước 4-10 x 2–5 mm, phần xa trục màu lục xám hoặc nhợt nhạt, hoặc đôi

khi nhuốm màu ánh đỏ, phần gần trục màu lục tươi hay sẫm, gốc lá chủ yếu tù, đôi

khi khơng đối xứng dễ thấy, mép lá có lơng rung, đỉnh lá thn tròn, tù hoặc có chóp

nhỏ nhọn đầu; các gân lá bên 4-5 cặp, dễ thấy

* Rễ : Bộ rễ phát triển, rễ cọc có rễ cái khỏe đâm sâu trong lớp đất đá, ngồi ra

còn có nhiều rễ phụ bám chặt. Chính vì vậy, sức sống của nó khỏe hơn so với các lồi

thực vật hoang dại khác

* Hoa [Xem phụ lục..., Hình...]



26



Cây đơn tính cùng gốc. Hoa đực mọc thành chùm 2-4 hoa dọc theo phần ngoại

biên của các cành nhỏ, lá đài 6, hình elip tới thn dài-trứng ngược, kích thước 0,30,6 x 0,2-0,4 mm, màu trắng hơi vàng, đỉnh tù; các tuyến đĩa mật hoa 6, màu lục; nhị

hoa 3; chỉ nhị hợp nhất hoàn toàn thành cột mảnh dẻ. Hoa cái dọc theo phần giữa và

phần dưới của cành nhỏ, 1 hoa; cuống hoa khoảng 0,5 mm, với 1-2 lá bắc con ở gốc

cuống. Cuống hoa khoảng 0,5 mm; lá đài 6, hình trứng tới hình trứng-mũi mác, gần

bằng nhau, khoảng 1 mm, mép lá đài dạng màng, màu trắng hơi vàng, không rụng

trên quả; đĩa mật hình tròn, ngun; bầu nhụy hình trứng hay hình cầu, với các vảy

nổi dễ thấy; vòi nhụy 3, tự do, chẻ đôi ở đỉnh, các thùy cuốn ngoài. Ra hoa trong

khoảng tháng 4- 6

* Qủa: Quả nang hình cầu, đường kính 2-2,5 mm, với các vết nổi hơi đỏ, nốt

sần có vảy. Hạt hình 3 mặt, kích thước 1-1,2 x 0,9–1 mm, màu nâu đỏ hơi xám nhạt,

với 12-15 lằn gợn ngang rõ nét ở lưng và các mặt, thường với 1-3 vết lõm sâu hình

tròn trên mặt.Kết quả tháng 7-11



2.5. Vai trò và thực trạng của thảm thực vật trên vùng đất cát ven biển

tỉnh Quảng Bình

2.5.1. Vai trò của thảm thực vật trên vùng đất cát ven biển

Thảm thực vật ven biển có một vai trò hết sức quan trọng trong việc bảo vệ

vùng núi đá vôi. Sự tồn tại của thảm thực vật núi đá vơi có ý nghĩa khơng chỉ về vấn

đề đa dạng sinh học, về mơi trường mà còn cả về vấn đề kinh tế xã hội

- Thứ nhất, đối với vấn đề đa dạng sinh học: Có thể thấy rằng thảm thực vật

ven biển khá đơn điệu, số lượng lồi ít và khơng thể so sánh với các thảm thực vật của

rừng mưa nhiệt đới hay một số thảm thực vật khác, tuy vậy khơng thể phủ nhận vai

trò của nó đối với vấn đề đa dạng sinh học. Ở vùng núi đá vơi có nhiều lồi đặc trưng

như cây Ráy leo lá lớn, huyết giác, giáng hương... chúng góp phần rất lớn trong sự đa

dạng của giới thực vật, tạo nên sự phong phú của hệ gen thực vật.

- Thứ hai, đối với mơi trường: Các lồi thực vật như Đơn nem, châm chim, dứa

dại, cơm lá bàng...thích nghi khá tốt với vùng núi đá vôi, chúng sinh trưởng, phát triển

tốt, chịu sự bất lợi về địa hình... vì vậy chúng có tác dụng bao phủ, cố định trên các



27



tảng đá, hạn chế hiện tượng đá rơi, xói lở đất đá. Thảm thực vật còn có tác dụng điều

hòa khí hậu nơi đây và thiết lập cân bằng sinh thái tại khu vực núi đá.

- Thứ ba, đối với kinh tế xã hội: Một số loài thực vật có giá trị đối với đời sống

của con người. Một số loài thực vật như Dứa dại, Ngũ sắc, giáng hương, sim, chân

trau thảo có thể dùng làm thuốc chữa một số bệnh. Một số loài cây như dẻ, sim,

hương giáng lấy gỗ dùng để trang trí, làm nguyên liệu sản xuất đồ dùng như tủ, bàn

ghế... Cây gỗ Giáng Hương là cây gỗ quý trong các 3 nhóm gỗ quý như Đinh hươngXến- Táu và có giá trị kinh tế cao trong sản xuất hàng tiêu dùng mỹ nghệ và xuất khẩu

. Một số loài cây thân gỗ bụi cung cấp củi cho người dân sống ven biển.

2.5.2. Thực trạng thảm thực vật ở vùng đất cát ven biển tỉnh Quảng Bình

Qua q trình nghiên cứu, tơi nhận thấy rằng thảm thực vật trên vùng núi đá

vôi xã Mai Hóa đang càng ngày càng bị suy giảm về số lượng cá thể cũng như số

lượng loài. Mức độ dạng của thảm thực vật ngày càng giảm do hai nguyên nhân chính

[Xem bảng 2.4.2], đó là: (1) do tác động bất thường của thiên nhiên và (2) do những

hoạt động có tính chất thường xun, mạnh mẽ và kéo dài của con người. Trong đó

nguyên nhân chủ yếu là do những tác động của con người.

Bảng 2.4.2: Tác động của thiên nhiên và con người đối với thảm thực vật trên vùng

đất cát ven biển tỉnh Quảng Bình

Tác động của thiên nhiên và con

người

Tác động của



Mưa lớn, gió mạnh



thiên nhiên



thất thường, bão ...



Hậu quả đối với hệ TV

- Làm cho kết cấu đất bị phá vỡ và các

tầng đất không ổn đỉnh, thực vật khó cố định

vị trí, các cây lớn dễ bị bật gốc và gãy đổ.



28



Khai thác đá làm

nguyên liệu sản xuất

xi măng

Tác động của

con người



- Làm giảm nhanh chóng một diện tích lớn

khu vực sinh sống của TV, dẫn đến số lượng

loài cũng như thành phần loài TV giảm đi

đáng kể. Một số khu vực đã làm biến mất một

số lồi TV (ví dụ: Vừa rồi người dân ồ ạt chăt



Khai thác các nguồn

lợi thực vật. Săn bắt

động vật quý hiếm.

Chặt phá cây làm củi



cây giáng hương làm giảm số lượng cây đáng

kể).

- Phá vỡ cân bằng sinh thái trong tồn bộ

khu vực



Chính từ những hoạt động trên của con người đã làm cho diện tích thảm thực

vật trên vùng núi đá vôi bị thu hẹp, độ che phủ thảm thực vật thấp, sự xói mòn và

thối hố đất xảy ra nghiêm trọng. Thành phần lồi trong các thảm thực vật còn lại

khá đơn giản, nhiều thảm thực vật chỉ có một hoặc vài lồi cây chính, khả năng tái

sinh tự nhiên rất hạn chế.

2.5.3. Giải pháp khắc phục hiện trạng thảm thực vật trên vùng đất cát ven

biển tỉnh Quảng Bình

Thảm thực vật núi đá vơi có vai trò rất quan trọng đối với đời sống con người,

vì vậy chúng ta cần có những biện pháp nhằm phục hồi và quản lý chặt chẽ hơn thảm

thực vật nơi đây. Căn cứ vào thực trạng của hệ thực vật núi đá vơi xã Mai Hóa, tơi đưa

ra một số đề xuất như sau:

- Tuyên truyền, nâng cao ý thức của người dân về vai trò của các lồi TV từ đó

chung sức cùng nhau bảo vệ các khu vực TV bị biến mất hay đã bị chết. Nhằm bảo vệ

rừng, bảo vệ đa dạng sinh học.

- Khai thác các nguồn thực vật có giá trị kinh tế và các lồi có tác dụng làm

thuốc một cách hợp lí.



29



- Hoạt động lâm nghiệp phòng hộ phải đi trước một bước để tạo tiền đề cần

thiết cho sự phát triển sản xuất trên vùng núi đá vơi.

- Cần có các đề án, những quy hoạch chi tiết, cụ thể đối với việc khai thác đá

tránh việc khai thác tràn lan dẫn đến làm suy thoái hệ thực vật trên vùng núi đá vôi.



PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

1. Kết luận

1.1. Vùng núi đá vơi xã Mai Hóa ln chịu tác động của điều kiện khí hậu khắc

nghiệt nhưng thảm thực vật ở đây vẫn khá đa dạng và phong phú. Trong q trình

điều tra, chúng tơi đã thống kê được 42 loài nằm trong 31 chi, thuộc bộ và 26 họ. Tất

cả đều là thực vật hạt kín.

1.2. Sự phân bố các lồi giữa các vị trí điều tra là khơng đồng đều. Vị trí đỉnh

núi có mức độ đa dạng cao nhất. Vị trí chân núi có mức độ đa dạng thấp nhất. Điều

này là do vị trí và mức độ tác động của con người, giá súc và một số điều kiên khác ở

mỗi vùng là khác nhau.

1.3. Đặc điểm hình thái thích nghi của các lồi thực vật sống trên vùng núi đá

vơi xã Mai Hóa:

1.3.1. Dạng sống:



30



Dạng sống chủ yếu của các lồi thực vật chủ yếu là gỗ bụi, thân thảo hoặc dây

leo thân gỗ. Đặc điểm thích nghi nổi bật về dạng sống của các lồi thực vật trên vùng

núi đá vơi là khuynh hướng gỗ leo của các cây thân gỗ bụi. Nhiều lồi thân gỗ như

Móng bò có khuynh hướng phát triển phân thành nhiều cành và bò khắp các tảng đá

vơi.

1.3.2. Lá

Lá của các lồi thực vật thể hiện sự thích nghi khá cao đối với mơi trường sống

của chúng. Lá của các loài thực vật sống trên vùng núi đá vơi có hướng thích nghi chủ

yếu nhằm hạn chế sự mất nước:

Hầu hết thực vật là dạng thích nghi với mơi trường ít dinh dưỡng, có lá nhỏ,

dày để giảm sự mất nước.

Cây cần nhiều năng lượng hơn để tạo ra lá trong môi trường này và do đó

nhiều cây tạo ra các hợp chất đọc thứ yếu để đuổi các động vật ăn lá. Một số thì lấy

thêm dinh dưỡng bằng cách quang hợp từ vỏ và cành

1.3.3. Hệ rễ

Nhìn chung, hệ rễ của thực vật sống trên vùng đất cát ven biển khá phát triển.

Hầu hết thực vật mọc trên núi đá vơi thích nghi với điều kiện ít nước và ít chấ

dinh dưỡng và có nồng độ canxi và magie cao. Rễ luồn sâu vào các khe đá của núi đá

vôi để tiếp cận với các nguồn nước bên dưỡi mặt đất như rễ cây mùi, cây giáng

hương, dứa dại....

Trong rừng, hiện tưởng rễ nổi, rễ bạnh rất phát triển . Trên cách vách đá vẫn có

nhiều cây bám trên các hẻm nhỏ và phát triển, các rễ lan nhanh chằng chịt để tìm đến

nơi có đất hút các chất dinh dưỡng,nhưng hầy hết là các cây nhỏ như cây bụi, thân

cong vặn, tuổi thọ lâu năm. Nếu vì lý do nào đó loại rừng này bị tiêu diệt có lẽ phải

mất vài trăm năm mới hồi phục lại.

1.3.4. Hoa

Hoa của các loài thực vật ven biển thường thích nghi với lối thụ phấn nhờ gió

hoặc nhờ sâu bọ.

- Đối với các lồi thực vật thân thảo như Hoa xuyến chi, Đơn nem... thích nghi

với lối thụ phấn nhờ gió. Hoa có cấu tạo đơn giản, bao hoa tiêu giảm, chỉ nhị mảnh và

dài, vòi nhụy dài và thường có lơng.



31



- Các lồi thực vật thân bụi, thân bò như Hoa ngũ sắc, Hồng nương nhiều

thân, Ráy leo lá lớn, Chuối rừng... thích nghi với lối thụ phấn nhờ cơn trùng. Hoa

thường có màu sắc sặc sở, có đĩa mật, mùi thơm để thu hút các loại cơn trùng.

1.3.5 Qủa và hạt

Một số lồi, quả có cấu tạo thích nghi với hình thức phán tán nhờ gió. Quả

khơ tự nẻ như cây Dẻ, một số lồi quả có chùm lơng ở trên đầu như Hồng nương

nhiều thân ...

Một số loài khác như Ráy leo lá lớn, Dứa dại... quả thích nghi với hình thức

phát tán nhờ Động vật, quả thường có màu sắc sặc sỡ, có mùi thơm, vị ngọt.

2. Kiến nghị

Do thời gian thực hiện đề tài chưa dài và năng lực có hạn, cũng như khu vực

điều tra phức tạp, hiểm trở nên thành phần lồi có thể còn thiếu sót, vì vậy cần tiếp tục

điều tra khảo sát thêm để hoàn chỉnh số lượng lồi, góp phần lập danh lục các lồi

thực vật trên vùng núi đá vôi

Hệ thực núi đá vôi có vai trò hết sức quan trọng, tuy nhiên hiện nay hệ thực vật

trên vùng núi đá vôi xã Mai Hóa đang bị suy giảm về thành phần lồi và số lượng, do

đó cần có những nghiên cứu sâu hơn về hệ thực vật tại đây nhằm đưa ra các giải pháp

tối ưu để khôi phục hệ thực vât trên vùng đất này.



32



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Một số loài khác như Ráy leo lá lớn, Dứa dại... quả thích nghi với hình thức phát tán nhờ Động vật, quả thường có màu sắc sặc sỡ, có mùi thơm, vị ngọt.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×