Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CHƯƠNG 3: Quy trình sản xuất xe Bugatti

CHƯƠNG 3: Quy trình sản xuất xe Bugatti

Tải bản đầy đủ - 0trang

Trong giai đoạn chiến tranh, Bugatti cũng giống như các hãng xe khác phải sản xuất

phục vụ cuộc chiến, nhưng công ty đã khá nhanh phục hồi, đưa Ettore trở thành nhà tư

bản lớn với biệt danh "Le Patron" (ông chủ).

Năm 1922, Bugatti giới thiệu chiếc xe mang phong cách giống điếu xì gà với tên gọi

Type 29/30. Xe tham gia giải AFC Grand Prix năm 1922 và về thứ hai, một năm sau

Type 32 ra đời với chiều dài cơ sở ngắn hơn, động cơ vẫn là loại 8 xi-lanh và được

mệnh danh là xe tăng.



Chiếc "xì ga" đầu tiên của Bugatti. Ảnh: carinpicture.



Năm 1926, chiếc 41 Royale ra đời như một chiếc xe mạnh mẽ nhất mọi thời đại, và chỉ

bán được 3 chiếc vì mức giá quá cao. Khủng hoảng kinh tế năm 1931 lan tới Pháp,

Bugatti nhận được một bản hợp đồng với chính phủ về việc chế tạo tàu cao tốc. Autorail

ra đời sử dụng loại động cơ rất lớn từ chiếc 41 Royale, được ghi vào kỷ lục thế giới cho

vận tốc của tàu vào thời điểm đó.

Chiến thắng cuối cùng của Bugatti tại các giải đua xe vào năm 1939, khi chiếc Tye 57

siêu tăng áp được lái bởi Pierre Wimille và Pierre Veyron tại giải Le Mans. Năm 1941,

Ettore Bugatti qua đời ở tuổi 66 tại bênh viện quân đội vì bệnh viêm phổi.



28



Công ty máy báy Hispano Suiza mua lại hãng siêu xe năm 1963, đến năm 1987 Romano

Artioli giành quyền kinh doanh và xây dựng nhà máy tại Campogalliano (Italy). Năm

1991, siêu xe EB 110 ra đời kỷ niệm 110 năm ngày sinh Ettore Bugatti. Năm 1998,

Bugatti chính thức trở thành cơng ty con của tập đồn khổng lồ Volkswagen sau 3 năm

rơi vào khủng hoảng tài chính.

3.1.2.



Về tập đồn Volkswagen



Tập đồn Volkswagen (cơng ty mẹ Volkswagen

Aktiengesellschaf) là tập đồn đa quốc gia của Đức về

lĩnh vực sản xuất ô tơ có trụ sở tại Wolfsburg,

bang Niedersachsen. Tập đồn hoạt động trong phạm vi

thiết kế, chế tạo, sản xuất và phân phối các loại xe

khách, xe thương mại, xe gắn máy, động cơ ô tô và động

cơ tuabin, cũng như các dịch vụ tài chính, cho thuê tài chính và quản lý vận tải.

Volkswagen là tập đồn sản xuất ơ tô lớn thứ hai trên thế giới trong năm 2011 theo sản

lượng,và đã duy trì vị thế nắm giữ thị phần lớn nhất trong thị trường ô tô tại châu Âu

trên hai thập kỷ.

Tập đồn Volkswagen sản xuất xe ơ tô dưới các thương hiệu

Audi, Bentley, Bugatti, Lamborghini, Porsche, SEAT, Škoda và Volkswagen; xe gắn

máy với thương hiệu Ducati; xe thương mại với thương hiệu MAN, Scania và Xe

thương mại Volkswagen. Tập đồn có hai nhánh kinh doanh chính, Nhánh sản xuất ơ

tơ và Nhánh dịch vụ tài chính, bao gồm 340 cơng ty con. Tập đồn hoạt động tại gần

150 quốc gia với 100 nhà máy và đại diện ở 27 nước. Tập đoàn này sở hữu 19,9% cổ

phần khơng có quyền kiểm sốt tại hãng Suzuki và là cổ đơng chính tại hai hãng lớn ở

Trung Quốc—FAW-Volkswagen và Volkswagen Thượng Hải.



29



Volkswagen thành lập năm 1937 từ một nhà máy sản xuất ô tô với sản phẩm mà ngày

nay gọi là xe Beetle. Sản lượng của công ty tăng một cách nhanh chóng trong thập niên

1950 và 1960, đến năm 1965 cơng ty mua lại Liên đồn Ơ tơ, hãng sản xuất với thương

hiệu Audi sau chiến tranh. Volkswagen đưa ra thế hệ xe bánh lái đặt phía trước trong

thập niên 1970, bao gồm Passat, Polo và Golf; với thương hiệu sau cùng có doanh số

bán chạy nhất. Volkswagen nắm quyền kiểm soát hãng SEAT năm 1986, và trở thành

thương hiệu đầu tiên mà hãng kiểm sốt nằm ngồi nước Đức. Năm 1994 tập đoàn sở

hữu thương hiệu Škoda, rồi đến các thương hiệu Bentley, Lamborghini và Bugatti vào

năm 1998, Scania năm 2008 và Ducati, MAN và Porsche vào năm 2012.

Giới thiệu dòng sản phẩm



3.1.3.



Hiện tại, tập đoàn Volkswagen đang sở hữu các dòng sản phẩm thuộc các thương hiệu

lớn như:





Ducati







Audi (Đức)







Lamborghini (Italia)







Bentley (Anh)







Bugatti (Pháp)







SEAT (Tây Ban Nha)

30







Škoda (Séc)







Volkswagen (Đức)







Porsche (Đức, từ năm 2011)







Suzuki (Nhật, 24% phân khúc xe gắn máy)







Scania (Thụy Điển, 49,29%)







MAN (Đức 56%)



Phân khúc thị trường:





Ducati:



Diavel, Hypermotard,



Monster,



Multistrada,



Streetfighter







Superbike,..





Audi (Đức): Hatchback, Sedan, SUV… và các dòng xe thể thao đặc biệt







Lamborghini (Italia): với nhiều mẫu xe và nhằm đánh vào thế giới thượng lưu.







Bentley (Anh): với nhiều mẫu xe hạng sang đa dạng và sắp tới sẽ cho ra mắt mẫu

xe điện thể thao đầu tiên.







Bugatti (Pháp)







SEAT (Tây Ban Nha): đang lên kế hoạch cho ra mắt 6 mẫu xe mới thuộc 3 phân

khúc khác nhau, trong đó gồm 3 xe thay thế và 3 mẫu xe hoàn toàn mới.







Škoda (Séc): nhằm hướng đến các mẫu xe bán tải một tấn với các dòng sản phẩm

chuyên về xe tải các cỡ - dựa trên nền tảng của mẫu Volkswagen Caddy,

Transporter và Crafter. Đặc biệt, hãng có kế hoạch phát triển dòng xe tải dựa trên

hệ thống khung gầm của mẫu Volkswagen Amarok.







Volkswagen (Đức): nhằm hướng đến các mẫu xe thể thao thơng qua thế mạnh

dòng sản phẩm uy tín và chất lượng đến từ Đức.







Porsche (Đức, từ năm 2011): được biết đến như một đỉnh cao trong phân khúc

xe thể thao hạng sang và đa dụng.







Suzuki (Nhật, 24% phân khúc xe gắn máy): nhằm hướng đến các phân khúc

khách hàng trẻ tuổi nhưng 24% suzuki dành cho phân khúc xe gắn máy.



31







Scania (Thụy Điển, 49,29%): nhắm vào phân khúc thị trường xe khách 47 chỗ

hạng sang.







3.2.



MAN (Đức 56%)

Giới thiệu về Bugatti



Bugatti được chia nhỏ ra với 2 dòng sản phẩm cao cấp. Đó là Chiron và Veyron

3.2.1.



Chiron



“Xe thể thao siêu tinh hoa. Hiệu suất lái xe độc đáo, vẻ đẹp ngoạn mục và công nghệ

hấp dẫn kết hợp để tạo ra một trải nghiệm lái xe khơng gì sánh bằng.”



32



 Kỹ thuật: Với động cơ W16 8 mã lực với hệ thống tăng áp mới BUGATTI tạo

ra 1.500 mã lực, mạnh hơn 25% so với máy của Bugatti Veyron và 1.600 Nm

mô-men xoắn khổng lồ với đường cong cơng suất gần 2.000 vòng / phút. Phanh

của Chiron, với đĩa phanh bằng carbon đặc biệt và phanh thắng được phát triển

đặc biệt cho BUGATTI với tám titan piston phát triển tối đa hiệu suất. Bugatti

Chiron có thể tăng tốc từ 0–100 km/h trong 2.3 giây và đạt tốc độ tối đa 460 km/h

qua máy tính, tốc độ chạy thử là 420 km/h. Sau 9,3 giây kinh ngạc và 491 mét,

Chiron dừng lại từ 400 km / h.



16 XI LANH



4 TURBINE TĂNG



Cấu hình W



ÁP

với động cơ tăng áp 2

giai đoạn



7.993 cm3



1.500 HP



SỰ THUYÊN CHUYỂN



QUYỀN LỰC



Tiêu thụ nhiên liệu, l / 100km: 35,2 ở khu vực thành thị / 15,2 tại các đô thị khác / 22,5

kết hợp; lượng phát thải CO2 kết hợp g / km: 516; lớp hiệu quả: G

Xe có 5 chế độ chạy là Lift, Auto, Autobahn, Handling và Top Speed. Trong khi Lift là

chế độ chạy tốc độ thấp thì 3 chế độ tiếp theo giới hạn ở 380 km/h. Để có thể chạy ở

Top Speed, tài xế cần dừng xe để sử dụng chìa khóa đặc biệt Speed Key. Hệ số cản gió

33



của Chiron là 0,38 ở Auto, 0,40 ở Handling và chỉ 0,35 ở Top Speed, nhưng khi áp dụng

phanh khơng khí thì tăng lên 0,59 để xe dừng nhanh.

 Mẫu theo hiệu suất: Đạt đến mức hiệu suất và tốc độ này cũng tạo ra các yêu

cầu kỹ thuật cho việc thiết kế và khí động học. Theo ý tưởng "hình thành theo

hiệu suất", đội ngũ thiết kế của BUGATTI đã tạo ra một kiệt tác tồn diện, vừa

có tính ấn tượng và hiệu quả về mặt khí động học, đã tái dựng lại DNA Thiết kế

BUGATTI. Quản lý lượng khí nạp thơng minh giúp cải thiện đáng kể tính khí

động học cũng như tăng cường hiệu quả làm mát của động cơ. Ngay cả phanh

được thiết kế lại và được trang bị một tấm chắn nhiệt mới được phát triển để làm

mát bằng phanh hiệu quả cao, chủ động hướng khơng khí qua đĩa phanh.

 Mẫu mã: Chiron mang lại cho khách hàng nhiều sự lựa chọn về màu sắc. Có

tổng cộng 8 màu



34



3.2.2.



Veyron

 Bugatti veyron 16.4: Kể từ khi ra mắt vào năm 2005, Bugatti Veyron

đã được coi là siêu xe có chất lượng bậc nhất. Đó là một thách thức

thực sự cho các nhà phát triển để đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật mà siêu

xe mới có thể đáp ứng: hơn 1.000 mã lực, tốc độ tối đa trên 400 km /

h và khả năng tăng tốc 0-100 trong dưới 3 giây. Ngay cả các chuyên

gia cũng nghĩ rằng không thể đạt được các tiêu chuẩn về hiệu suất trên

đường.



 Kỹ thuật:



35



Các thông số kỹ thuật của Veyron đã đưa hiệu suất ô tô vào một chiều hướng mới. Đây

là chiếc siêu xe đầu tiên và duy nhất được phát triển và xây dựng với một loạt các cấu

hình có thể nắm vững được bất kỳ kịch bản lái xe bất kỳ lúc nào.



Trong khi các siêu xe khác cần được chuẩn bị đặc biệt cho các tình huống liên quan

trước, Veyron nhanh chóng tự cấu hình cho phù hợp mà không cần lái xe cần làm bất

cứ điều gì. Tăng tốc tối đa cho đường thẳng dài, đường quanh co hoặc giao thông đô thị

- Veyron luôn luôn được cấu hình hồn hảo và cực kỳ thoải mái khi lái xe.

 Bugatti Veyron 16.4 Grand Sport: Bugatti Veyron 16.4 Grand

Sport là phiên bản roadster của Veyron 16.4. Tên gọi "Grand Sport"

nhớ lại hai trong số những mẫu xe đẹp nhất trong lịch sử của thương

hiệu Bugatti: Type 40 và Type 43 từ cuối những năm 20 và 30, là

những mẫu đầu tiên được Ettore tặng "Grand Sport" Jean

Bugatti. Những roadster này là những chiếc xe thể thao cuối cùng

trong ngày của họ.

36



 Kỹ thuật:



37



 Bugatti Veyron 16.4 Super Sport: Bugatti tiếp tục truyền thống

thương hiệu của việc phát triển các phiên bản Super Sport của các mơ

hình thành công với Veyron 16.4 Super Sport. Các Veyron 16,4 Super

Sport mở rộng các giới hạn của khả năng trong ngành ô tô hơn và thiết

lập các tiêu chuẩn mới. Với 1.200 mã lực, momen xoắn cực đại 1.500

Nm, gia tốc từ 0 đến 100 km / h trong 2,5 giây và tốc độ tối đa 415 km

/ h - đây là những đặc điểm hiệu suất mà các chuyên gia và người hâm

mộ ngạc nhiên và say mê trên toàn thế giới khi chiếc siêu xe này đã

được đưa ra vào năm 2010.



 Kỹ thuật:



38



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CHƯƠNG 3: Quy trình sản xuất xe Bugatti

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×