Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
PHƯƠNG PHÁP GIỐNG NHAU

PHƯƠNG PHÁP GIỐNG NHAU

Tải bản đầy đủ - 0trang

Mai đã ăn các món cơm, canh cải, thịt bò, thịt gà và món bánh ngọt tráng miệng. Bình đã ăn

các món cơm, rau cải, nem, bánh ngọt, thịt bò. Hạnh đã ăn các món bún, rau cải, nem, bánh

ngọt. Hoa đã ăn các món bún, thịt bò, rau cải, bánh ngọt. Còn Kiếm đã ăn các món cơm, thịt

bò, bánh ngọt. Món ăn nào gây ra ngộ độc?

Ký hiệu dấu * tại một ơ cho biết người ở dòng của ơ đó đã ăn món ở cột tương ứng, dấu trong

trường hợp ngược lại, khi đó ta có bảng sau đây:



Các trường hợp của Hạnh và Hoa cho thấy cơm không phải là nguyên nhân gây ra ngộ độc, vì

họ khơng ăn cơm mà vẫn ngộ độc. Các trường hợp của Mai, Bình và Kiếm cho thấy bún

khơng phải là nguyên nhân gây ra ngộ độc. Tương tự như vậy, trường hợp của Hạnh cho thấy

Hạnh không ăn thịt bò mà vẫn ngộ độc, vậy thịt bò khơng phải là nguyên nhân gây ra ngộ

độc. Các trường hợp của Mai, Hoa và Kiếm cho thấy nem cũng không phải là nguyên nhân

gây ra ngộ độc. Xét như vậy, ta thấy chỉ còn lại món bánh ngọt, món có mặt trong tất cả các

trường hợp bị ngộ độc nêu trên, là món gây ngộ độc mà thơi.

Trong phương pháp giống nhau trên đây ta tìm cách xác định yếu tố làm điều kiện cần

để hiện tượng nghiên cứu xảy ra, tức là điều kiện mà nếu khơng có, khơng được thoả mãn thì

hiện tượng khơng xảy ra. Trong ví dụ đã nêu, việc ăn bánh ngọt là điều kiện cần để hiện tượng

ngộ độc xảy ra. Nếu không ăn bánh ngọt sẽ không bị ngộ độc. Tuy nhiên, điều kiện này khơng

phải là điều kiện đủ, nghĩa là sự có mặt của nó chưa đảm bảo chắc chắn là hiện tượng phải

xảy ra. Có thể trong cùng buổi liên hoan này có người ăn cùng món bánh ngọt đã nêu mà vẫn

khơng bị ngộ độc (có thể nhờ khả năng chống độc cao của cơ thể).

Kết luận rút ra nhờ phương pháp giống nhau trên đây không đảm bảo chắc chắn đúng.



6



Vì các lý do sau đây:

+ Thứ nhất, rất có thể có một số điều kiện, yếu tố nào đó đã khơng được để ý đến, bị bỏ qua,

mặc dù chính yếu tố này là ngun nhân cần tìm. Chẳng hạn, trong ví dụ của chúng ta bánh

ngọt có thể không phải là nguyên nhân gây ngộ độc, mà sự khơng đảm bảo vệ sinh của thìa

dĩa dùng để ăn món này mới là nguyên nhân, thế nhưng yếu tố này lại không được để ý đến.

+ Thứ hai, rất có thể hiện tượng sinh ra khơng phải do một yếu tố riêng lẻ nào đó, mà là kết

quả của sự kết hợp một số yếu tố nhất định. Chẳng hạn, trong trường hợp của chúng ta Mai bị

ngộ độc vì có sự kết hợp của bánh ngọt với rau cải, Bình bị ngộ độc do sự kết hợp của rau cải

và nem, …

Phương pháp giống nhau có hạn chế trong việc áp dụng. Nó chỉ được áp dụng trực tiếp

cho các trường hợp mà ta đã liệt kê trong bảng mà thôi, không thể đem áp dụng cho các

trường hợp khác dù họ cũng là học sinh và bị ngộ độc trong buổi liên hoan nói trên. Nguyên

do là có thể nhóm học sinh ta khảo sát ở bảng trên bị ngộ độc bởi món bánh ngọt, trong khi đó

lại có nhóm khác bị ngộ độc bởi món khác mà các học sinh ta đã khảo sát không ăn, chẳng

hạn họ ăn món thịt lợn quay khơng đảm bảo vệ sinh. Kết luận mà phương pháp này rút ra có

độ tin cậy tỉ lệ thuận với số lượng trường hợp được khảo sát.

Như vậy, phương pháp giống nhau chỉ đưa ra kết luận có tính xác xuất, có độ chính

xác khơng cao, mang tính chất tương đối và gây giải quyết vấn đề một cách chắc chắn chính

xác một cách tuyệt đối. Mức độ xác suất của đối tượng phụ thuộc vào số lượng của trường

hợp nghiên cứu, vào việc lựa chọn đúng vào các điều kiện có trước. Nếu số lượng của các

trường hợp nghiên cứu càng nhiều và các điều kiện có trước được chọn lựa càng đúng bản

chất thì mức độ kết luận càng chính xác. Ngoài ra, mức độ xác suất của kết luật còn phụ thuộc

vào trình độ phân tích của các điều kiện có trước được lập lại để nhận biết mối quan hệ tất yếu

giữa các điều kiện lặp lại ấy so với các hiện tượng cùng loại đã xảy ra. Trình độ càng phân

tích sâu sắc bao nhiêu thì kết luận thì kết luận càng chính xác bấy nhiêu.



7



2. PHƯƠNG PHÁP KHÁC NHAU

Phương pháp khác nhau là phương pháp quy nạp khoa học dựa trên cơ sở so sánh các

trường hợp khi hiện tượng cần nghiên cứu có thể xảy ra hay không xảy ra. Nghĩa là:

+ Trong các trường hợp nghiên cứu với những điều kiện giống nhau chỉ có một điều

kiện khác nhau mà thấy các hiện tượng xuất hiện khơng giống nhau thì điều kiện khác nhau

đó có thể là nguyên nhân của sự xuất hiện hiện tượng không giống nhau ấy.

+ Các hiện tượng đã giống nhau trong nhiều mối quan hệ vẫn có thể khác nhau ở chỗ

nào đó, mà sự có hay khơng những quan hệ này hay khác rất có thể gắn với sự khác nhau ấy.

Ví dụ: Cho một con chuột vào chiếc bình hở thì nó sống. Nếu bây giờ giữ ngun các điều

kiện khác, nhưng đậy bình kín lại và hút hết khơng khí ra thì chuột chết ngay. Có nghĩa là:

khơng khí là điều kiện và ngun nhân duy trì sự sống.

- Cơng thức:

+ Trong các điều kiện A, B, C xuất hiện hiện tượng a.

+ Trong các điều kiện B, C không xuất hiện hiện tượng a.

 Kết Luận: Điều kiện A có thể là nguyên nhân của hiện tượng a.

- Ví dụ: quan sát 1 đồng xu, 1 tờ giấy bạc, 1 cái lông chim. Ta thấy:

+ Khi có khơng khí thì chúng rơi với tốc độ khác nhau.

+ Khi khơng có khơng khí (chân khơng) chúng rơi với tốc độ như nhau.

 Kết luận: Sức cản khơng khí là ngun nhân làm cho các vật có khối lượng và hình dáng khác

nhau rơi với tốc độ khác nhau.



8



Phương pháp này còn có hiệu lực hơn cả phương pháp giống nhau vì ở đây người ta

khơng chỉ có quan sát, mà còn tiến hành thí nghiệm cho khả năng tạo ra những điều kiện

chun biệt, khơng còn quá cần phải quan sát rất nhiều trường hợp nữa, khơng cần phải tính

đến yếu tố ngun nhân nữa. Ngồi ra, phương pháp này đơi khi còn có thể “tiên đoán” sự tồn

tại điều kiện tạm thời chưa biết nhưng điều kiện lại có thể là nguyên nhân của hiện tượng

nghiên cứu.

Kết luận của phương pháp khác nhau cũng chỉ có tính xác suất. Bởi vì, giá trị của kết luận

phụ thuộc vào số lượng các trường hợp khảo sát và đặc biệt phụ thuộc vào trình độ so sánh

các trường hợp khảo sát đó nhằm nhận biết rõ về sự khác nhau về chất ở trong các hiện tượng

không giống nhau ấy. Nếu sự so sánh càng nhiều và càng sâu sắc thì kết luận có tính chính

xác càng chắc chắn.

-



Ứng dụng:

+ Sử dụng trong nghiên cứu khoa học xã hội.

+ Dùng phương pháp khác biệt để kiểm tra phương pháp giống nhau.



9



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

PHƯƠNG PHÁP GIỐNG NHAU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×