Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
PHẦN 3: PHÂN TÍCH CÁC PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH LIÊN HỆ NHÂN QUẢ VÀ TÍNH VẬN DỤNG CỦA CHÚNG VÀO ĐỜI SỐNG HÀNG NGÀY

PHẦN 3: PHÂN TÍCH CÁC PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH LIÊN HỆ NHÂN QUẢ VÀ TÍNH VẬN DỤNG CỦA CHÚNG VÀO ĐỜI SỐNG HÀNG NGÀY

Tải bản đầy đủ - 0trang

Mai đã ăn các món cơm, canh cải, thịt bò, thịt gà và món bánh ngọt tráng miệng. Bình đã ăn

các món cơm, rau cải, nem, bánh ngọt, thịt bò. Hạnh đã ăn các món bún, rau cải, nem, bánh

ngọt. Hoa đã ăn các món bún, thịt bò, rau cải, bánh ngọt. Còn Kiếm đã ăn các món cơm, thịt

bò, bánh ngọt. Món ăn nào gây ra ngộ độc?

Ký hiệu dấu * tại một ơ cho biết người ở dòng của ơ đó đã ăn món ở cột tương ứng, dấu trong

trường hợp ngược lại, khi đó ta có bảng sau đây:



Các trường hợp của Hạnh và Hoa cho thấy cơm không phải là nguyên nhân gây ra ngộ độc, vì

họ khơng ăn cơm mà vẫn ngộ độc. Các trường hợp của Mai, Bình và Kiếm cho thấy bún

khơng phải là nguyên nhân gây ra ngộ độc. Tương tự như vậy, trường hợp của Hạnh cho thấy

Hạnh không ăn thịt bò mà vẫn ngộ độc, vậy thịt bò khơng phải là nguyên nhân gây ra ngộ

độc. Các trường hợp của Mai, Hoa và Kiếm cho thấy nem cũng không phải là nguyên nhân

gây ra ngộ độc. Xét như vậy, ta thấy chỉ còn lại món bánh ngọt, món có mặt trong tất cả các

trường hợp bị ngộ độc nêu trên, là món gây ngộ độc mà thơi.

Trong phương pháp giống nhau trên đây ta tìm cách xác định yếu tố làm điều kiện cần

để hiện tượng nghiên cứu xảy ra, tức là điều kiện mà nếu khơng có, khơng được thoả mãn thì

hiện tượng khơng xảy ra. Trong ví dụ đã nêu, việc ăn bánh ngọt là điều kiện cần để hiện tượng

ngộ độc xảy ra. Nếu không ăn bánh ngọt sẽ không bị ngộ độc. Tuy nhiên, điều kiện này khơng

phải là điều kiện đủ, nghĩa là sự có mặt của nó chưa đảm bảo chắc chắn là hiện tượng phải

xảy ra. Có thể trong cùng buổi liên hoan này có người ăn cùng món bánh ngọt đã nêu mà vẫn

khơng bị ngộ độc (có thể nhờ khả năng chống độc cao của cơ thể).

Kết luận rút ra nhờ phương pháp giống nhau trên đây không đảm bảo chắc chắn đúng.



6



Vì các lý do sau đây:

+ Thứ nhất, rất có thể có một số điều kiện, yếu tố nào đó đã khơng được để ý đến, bị bỏ qua,

mặc dù chính yếu tố này là ngun nhân cần tìm. Chẳng hạn, trong ví dụ của chúng ta bánh

ngọt có thể không phải là nguyên nhân gây ngộ độc, mà sự khơng đảm bảo vệ sinh của thìa

dĩa dùng để ăn món này mới là nguyên nhân, thế nhưng yếu tố này lại không được để ý đến.

+ Thứ hai, rất có thể hiện tượng sinh ra khơng phải do một yếu tố riêng lẻ nào đó, mà là kết

quả của sự kết hợp một số yếu tố nhất định. Chẳng hạn, trong trường hợp của chúng ta Mai bị

ngộ độc vì có sự kết hợp của bánh ngọt với rau cải, Bình bị ngộ độc do sự kết hợp của rau cải

và nem, …

Phương pháp giống nhau có hạn chế trong việc áp dụng. Nó chỉ được áp dụng trực tiếp

cho các trường hợp mà ta đã liệt kê trong bảng mà thôi, không thể đem áp dụng cho các

trường hợp khác dù họ cũng là học sinh và bị ngộ độc trong buổi liên hoan nói trên. Nguyên

do là có thể nhóm học sinh ta khảo sát ở bảng trên bị ngộ độc bởi món bánh ngọt, trong khi đó

lại có nhóm khác bị ngộ độc bởi món khác mà các học sinh ta đã khảo sát không ăn, chẳng

hạn họ ăn món thịt lợn quay khơng đảm bảo vệ sinh. Kết luận mà phương pháp này rút ra có

độ tin cậy tỉ lệ thuận với số lượng trường hợp được khảo sát.

Như vậy, phương pháp giống nhau chỉ đưa ra kết luận có tính xác xuất, có độ chính

xác khơng cao, mang tính chất tương đối và gây giải quyết vấn đề một cách chắc chắn chính

xác một cách tuyệt đối. Mức độ xác suất của đối tượng phụ thuộc vào số lượng của trường

hợp nghiên cứu, vào việc lựa chọn đúng vào các điều kiện có trước. Nếu số lượng của các

trường hợp nghiên cứu càng nhiều và các điều kiện có trước được chọn lựa càng đúng bản

chất thì mức độ kết luận càng chính xác. Ngoài ra, mức độ xác suất của kết luật còn phụ thuộc

vào trình độ phân tích của các điều kiện có trước được lập lại để nhận biết mối quan hệ tất yếu

giữa các điều kiện lặp lại ấy so với các hiện tượng cùng loại đã xảy ra. Trình độ càng phân

tích sâu sắc bao nhiêu thì kết luận thì kết luận càng chính xác bấy nhiêu.



7



2. PHƯƠNG PHÁP KHÁC NHAU

Phương pháp khác nhau là phương pháp quy nạp khoa học dựa trên cơ sở so sánh các

trường hợp khi hiện tượng cần nghiên cứu có thể xảy ra hay không xảy ra. Nghĩa là:

+ Trong các trường hợp nghiên cứu với những điều kiện giống nhau chỉ có một điều

kiện khác nhau mà thấy các hiện tượng xuất hiện khơng giống nhau thì điều kiện khác nhau

đó có thể là nguyên nhân của sự xuất hiện hiện tượng không giống nhau ấy.

+ Các hiện tượng đã giống nhau trong nhiều mối quan hệ vẫn có thể khác nhau ở chỗ

nào đó, mà sự có hay khơng những quan hệ này hay khác rất có thể gắn với sự khác nhau ấy.

Ví dụ: Cho một con chuột vào chiếc bình hở thì nó sống. Nếu bây giờ giữ ngun các điều

kiện khác, nhưng đậy bình kín lại và hút hết khơng khí ra thì chuột chết ngay. Có nghĩa là:

khơng khí là điều kiện và ngun nhân duy trì sự sống.

- Cơng thức:

+ Trong các điều kiện A, B, C xuất hiện hiện tượng a.

+ Trong các điều kiện B, C không xuất hiện hiện tượng a.

 Kết Luận: Điều kiện A có thể là nguyên nhân của hiện tượng a.

- Ví dụ: quan sát 1 đồng xu, 1 tờ giấy bạc, 1 cái lông chim. Ta thấy:

+ Khi có khơng khí thì chúng rơi với tốc độ khác nhau.

+ Khi khơng có khơng khí (chân khơng) chúng rơi với tốc độ như nhau.

 Kết luận: Sức cản khơng khí là ngun nhân làm cho các vật có khối lượng và hình dáng khác

nhau rơi với tốc độ khác nhau.



8



Phương pháp này còn có hiệu lực hơn cả phương pháp giống nhau vì ở đây người ta

khơng chỉ có quan sát, mà còn tiến hành thí nghiệm cho khả năng tạo ra những điều kiện

chun biệt, khơng còn quá cần phải quan sát rất nhiều trường hợp nữa, khơng cần phải tính

đến yếu tố ngun nhân nữa. Ngồi ra, phương pháp này đơi khi còn có thể “tiên đoán” sự tồn

tại điều kiện tạm thời chưa biết nhưng điều kiện lại có thể là nguyên nhân của hiện tượng

nghiên cứu.

Kết luận của phương pháp khác nhau cũng chỉ có tính xác suất. Bởi vì, giá trị của kết luận

phụ thuộc vào số lượng các trường hợp khảo sát và đặc biệt phụ thuộc vào trình độ so sánh

các trường hợp khảo sát đó nhằm nhận biết rõ về sự khác nhau về chất ở trong các hiện tượng

không giống nhau ấy. Nếu sự so sánh càng nhiều và càng sâu sắc thì kết luận có tính chính

xác càng chắc chắn.

-



Ứng dụng:

+ Sử dụng trong nghiên cứu khoa học xã hội.

+ Dùng phương pháp khác biệt để kiểm tra phương pháp giống nhau.



9



3. PHƯƠNG PHÁP KẾT HỢP PHƯƠNG PHÁP GIỐNG NHAU VỚI PHƯƠNG PHÁP

KHÁC NHAU

- Khái niệm

Đây là phương pháp tổng hợp các trường hợp nghiên cứu trong những điều kiện xác

định chỉ có một điều kienj giống nhau tháy xuất hiện hiện hiện tượng cùng loại với các trường

hợp nghiên cứu đều khơng có điều kiện giống nhau đó khơng thấy xuất hiện hiện tượng cùng

loại ấy thì điều kiện khảo sát có thế là nghuyên nhân của hiện tượng quan sát được. Thực chất

của phương pháp này là tập hợp cùng giống nhau lại với nhau và tập hợp các trường hợp cùng

khác nhau với nhau. Trên cơ sở đó so sánh để rút ra kết luận về nguyên nhân của hiện tượng

nghiên cứu.

- Công thức

+ Giống nhau:

o Trong điều kiện A, B, C xuất hiện hiện tượng a

o Trong điều kiện A, D, E xuất hiện hiện tượng a

+ Khác nhau

o Trong điều kiện B, C không xuất hiện hiện tượng a

o Trong điều kiện D, E không xuất hiện hiện tượng a

 Kết luận: A là nguyên nhân của sự xuất hiện hay không xuất hiện của hiện tượng

a.

Phương pháp kết hợp xác định điều kiện cần và điều kiện đủ của hiện tượng đang

nghiên cứu. phương pháp này đưa ra kết luận đáng tin cậy hơn phương pháp giống nhau và

khác nhau, vì khắc phục được một số nhược điểm:

+ Thứ nhất: phương pháp giống nhau xác định điều kiện cần của hiện tượng nghiên

cứu. nhưng khơng xảy ra, trong khi đó trong khi đó thì phương pháp giống nhau lại khơng thể

áp dụng cho một tập hợp gồm các trường hợp hiện tượng xảy ra lẫn các trường hợp hiện

tượng không xảy ra.

+ Thứ hai: trong phương pháp khác nhau ta thấy khó khăn vì phải đảm bảo để hai

trường hợp so sánh hoàn toàn giống ở mọi điểm cần quan tâm, ngoai trừ duy nhất một điểm

thì sự đảm bảo đó khơng còn đòi hỏi ngiêm ngặt nữa ở phương pháp kết hợp. Vì ở đây xem

xét nhiều trường hợp trong đó hiện tượng sảy ra và nhiều trường hợp hiện tượng không sảy ra.



10



- Ví dụ

o Đối tượng A xuất hiện ở khu vực B thì khu vực B bị mất trộm.

o Đối tượng A xuất hiện ở khu vực C thì khu vực C bị mất trộm.

o Đối tượng A khơng xuất hiện ở khu vực B thì khu vực B không mất trộm.

o Đối tượng A không xuất hiện ở khu vực C thì khu vực C khơng mất trộm.

 Kết luận: đối tượng A có thể là thủ phạm gây ra mất trộm hoạc có liên quan đến vụ mất

trộm tại các khu vực đối tượng A xuất hiện.

- Ứng dụng

Phương pháp kết luận này đưa lại giá trị của kết luận chắc chắn hơn. Bởi vì, chính sự

tổng hợp của giống nhau và khác nhau đó sẽ nâng cao tính hiệu quả của giá trị sàng lọc các

giá trị của kết luận làm cho tính xác suất của kết luận trở nên tin cậy hơn. Phương pháp kết

hợp cũng không đảm bảo kết luận chắc chắn đúng. Đây là hệ quả của những khó khan trong

việc đảm bảo các yếu tố tạo nên các trường hợp khảo sát độc lập, khơng tương tác với nhau và

khó khăn trong việc khơng bỏ sót yếu tố nào có liên quan trong trường hợp khảo sát.



11



4. PHƯƠNG PHÁP BIẾN ĐỔI KÈM THEO

- Phương pháp biến đổi kèm theo là suy luận quy nạp khoa học dựa trên việc xem xét mối

quan hện nhân quả giữa các sự vật, hiện tượng mà trong đó có một điều kiện biến đổi làm

thay đổi hiện tượng đã xuất hiện nào đó, thì điều kiện biến đổi đó có mối quan hệ xuất hiện

hiện tượng cần nghiên cứu. Nghĩa là, trong các điều kiện xác định, khi một điều kiện nào đó

biến đổi từ trạng thái này sang một trạng thái khác mà làm thay đổi hiện tượng vời các trạng

thái khác nhau tương ứng thì điều kiện biến đổi đó có thể là nguyên nhân của hiện tượng thay

đổi ấy.

- Sơ đồ của phương pháp biến đổi kèm theo:

o Hiện tượng a xuất hiện trong hoàn cảnh A, B, C

o Hiện tượng a1 xuất hiện trong hoàn cảnh A1, B, C

o Hiện tượng a2 xuất hiện trong hoàn cảnh A2, B, C

 Kết luận: Có thể A là nguyên nhân của hiện tượng a

Ví dụ 1: Mỗi một vật thể trong những điều kiện xác định sẽ có một thể tích xác định. Nếu

thay đổi nhiệt độ ở mức độ khác nhau thì thể tích của các vật thể cũng sẽ thay đổi với những

trạng thái khác nhau tương ứng và theo phương pháp kèm theo ta có thể kết luận việc thay đổi

nhiệt độ của vật thể là nguyên nhân của sự thay đổi thể tích của các vật thể ấy.

Ví dụ 2: Khi chiếu chùm sáng thích hợp vào bề mặt của một lá kim loại, chẳng hạn lá kẽm,

người ta nhận thấy có các điện tử bị chùm sáng đó làm bật ra khỏi lá kim loại. Vật lý học đã

biết rằng năng lượng của các điện tử này chỉ có thể phụ thuộc vào độ dài bước sóng của các

tia sáng hoặc cường độ của chùm sáng chiếu vào kim loại đã nêu. Khi thay đổi cường độ của

chùm sáng, giữ nguyên độ dài bước sóng của các tia sáng, người ta chỉ thấy số lượng các điện

tử bắn ra khỏi bề mặt kim loại thay đổi, nhưng năng lượng của các điện tử bị bắn ra thì khơng

thay đổi. Như vậy, năng lượng của các điện tử đã nêu không phụ thuộc vào cường độ của

chùm sáng. Ngược lại, khi giữ nguyên cường độ của chùm sáng, thay đổi bước sóng của các

tia sáng, người ta thấy độ dài bước sóng của tia sáng càng giảm thì năng lượng của các điện tử

bị bắn ra càng lớn. Như vậy, năng lượng của các điện tử trong thí nghiệm này phụ thuộc vào

độ dài bước sóng của tia sáng đã làm chúng bắn ra khỏi bề mặt kim loại đó.

Phương pháp cùng biến đổi kèo theo được ứng dụng rất rộng rãi và rất hữu hiệu trong

các nghiên cứu trong phòng thí nghiệm, nơi có thể tạo ra và kiểm soát chặt chẽ sự thay đổi

của các yếu tố quan sát.

Phương pháp biến đổi kèm theo mang lại giá trị chân thật trong kết luận vơi độ chính

xác càng cao khi khu biệt được biến đổi chỉ về một điều kiện nào đó, còn điều kiện khác phải

ổn định khơng thay đổi. Còn nếu khơng khu biệt được điều kiện biến đổi đó so với điều kiện

khác khơng ổn định thì kết luận rút ra khơng chắc chắn. Vì vậy, trong quá trình nghiên cứu,

cần phải lựa chọn những điều kiên thay đổi thích hợp trong tính ổn định của các điều kiện để

thử nghiệm, mới để dàng phát hiện mối quan hệ nhân quả của các hiện tượng đã quan sát.



12



5. PHƯƠNG PHÁP LOẠI TRỪ

Nếu biết những điều kiện cần thiết của hiện tượng nghiên cứu, trừ một điều kiện khơng là

ngun nhân của nó thì điều kiện bị loại trừ có thể là nguyên nhân của hiện tượng đó.

Tất cả các phương pháp thiết lập mỗi quan hệ nhân quả được sử dụng kết hợp trong nghiên

cứu. Chúng củng cố và bổ sung lẫn nhau, góp phần to lớn vào nhận thức hiện thực khách

quan.

Với các nghiên cứu trước đó người ta đã xác định được rằng nguyên nhân của hiện tượng X là

các yếu tố A1, A2, A3. Phương pháp phần dư là phương pháp tách X ra thành các hiện tượng

con X1, X2, X3, hơn nữa đã biết A1 là nguyên nhân của X1, A2 là nguyên nhân của X2, từ

đây rút ra kết luận A3 - phần còn lại, phần dư - là nguyên nhân của X3.

A1, A2, … An là nguyên nhân của X1, X2, … Xn

A1 là nguyên nhân của X1,

A2 là nguyên nhân của X2,



An-1 là nguyên nhân của Xn-1,

An là ngun nhân của Xn.

- Ví dụ :

Nhóm năm người Hồng, Bích, Quỳnh, Thanh, Hùng đã thực hiện nghiên cứu về phương

pháp học tập của sinh viên Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh. Mỗi người trong số họ phải

thu thập dữ liệu về phương pháp học tập của sinh viên một trường hoặc khoa thành viên của

Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh. Biết rằng Hồng thu thập dữ liệu về phương pháp học tập

của sinh viên Trường Đại học Bách khoa, Quỳnh thu thập dữ liệu về phương pháp học tập của

sinh viên Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Quỳnh - Đại học Quốc tế, Hùng - Khoa Kinh

tế. Vậy có thể kết luận Thanh thu thập dữ liệu về phương pháp học tập của sinh viên Trường

Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn.

Cũng giống như các phương pháp đã xét, vì khó đảm bảo chắc chắn rằng các yếu tố A1, A2,

… An khơng tác động lẫn nhau, mặt khác, khó đảm bảo chắc chắn rằng khơng bỏ sót yếu tố

nào là ngun nhân gây ra X hoặc một phần của X, nên kết luận rút ra nhờ phương pháp này

cũng chỉ có xác suất đúng nào đó mà thơi.



13



-



Ứng dụng thực tiễn



Nhờ phương pháp loại trừ mà người ta phát hiện ra sao Hải Vương. Bắt đầu từ việc phát

hiện ra sự kiện, chuyển động của sao Thiên Vương không phù hợp với quỹ đạo được tính

chính xác cho hành tinh này. Hóa ra là độ sai lệch quỹ đạo của sao này lớn hơn nhiều so với

độ sai lệch mà các hành tinh đã biết có thể gây ra. Suy ra, phần dư ấy cần phải có ngun

nhân. Nhà tốn học Le Verier tính được vị trí của hành tinh giả định ấy, còn A. Galile thì phát

hiện ra nó bằng kính thiên văn. Nó chính là sao Hải Vương.

Về hiệu lực chứng minh phương pháp phần dư có thể được quy về phương pháp biến

đổi duy nhất, nhưng cũng như mọi phương pháp khác nó cũng chỉ cho kết luận xác xuất. Vì A

có thể là ngun nhân duy nhất của a, một phần của nguyên nhân, hoặc ngược lại, có chứa

ngun nhân trong mình, chứ chưa là ngun nhân trực tiếp.

Trong các nghiên cứu thực nghiệm những phương pháp nêu trên có thể được dùng

riêng, hoặc kết hợp với nhau. Khơng ít khi phương pháp giống nhau được kết hợp với phương

pháp khác biệt duy nhất. Nhưng ngay cả khi sự kết hợp của chúng cũng chỉ gia tăng thêm khả

năng nhận thức, chứ chưa bảo đảm tuyệt đối tính chính xác của kết luận.



14



PHẦN 4: KẾT LUẬN

Thơng qua tìm hiểu chi tiết các phương pháp xác định liên hệ nhân quả trong phương

pháp Quy nạp khoa học, chúng ta có thể thấy được có rất nhiều ví dụ thực tiễn cần phải áp

dụng các phương pháp Quy nạp khoa học để có thể nâng cao để tin cậy của kết luận quy nạp.

Chính vì vậy mà bạn đọc cần phải trau dồi thêm kiến thức, kinh nghiệm về phương pháp Quy

nạp khoa học để ứng dụng linh hoạt vào đời sống, trong lĩnh vực khoa học. Cần áp dụng

phương pháp này một cách chính xác, hợp lý và Logic.

Bạn đọc cần phải áp dụng linh hoạt các phương pháp với nhau, kết hợp với sâu chuỗi

các dữ kiện cũng như lập luận chặt chẽ và khái quát hoá vấn đề. Từ đó đưa ra kết luận hợp

Logic, như vậy sẽ khiến cho kết luận của ta chính xác và thuyết phục mọi người hơn.

Phương pháp Quy nạp khoa học luôn luôn cần thiết không chỉ trong đời sống có thể áp

dụng ở mọi lĩnh vực như nghiên cứu khoa học, luật, học tập, nghiên cứu thị trường, … Chính

vì vậy, phương pháp này cùng với bộ mơn Nhập môn Logic học đã được đưa vào giảng dạy

trong môi trường đại học nhằm giúp sinh viên có thể tự mình đánh giá khác quan và bao quát

các vấn đề trong môi trường học tập cũng như nghiên cứu của mình.

Cám ơn mọi người đã theo dõi.



15



PHẦN 5: Tài liệu tham khảo

1. Phạm Đình Nhiệm, 2013, Nhập mơn Logic học, NXB ĐH Quốc giá TP. Hồ Chí Minh

2. Nguyễn Như Hải, 2007, Giáo trình Logic học đại cương, NXB Giáo dục

3. Hồng học, 2006, Nhập mơn Logic học, NXB Tổng hợp TP. Hồ Chí Minh



16



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

PHẦN 3: PHÂN TÍCH CÁC PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH LIÊN HỆ NHÂN QUẢ VÀ TÍNH VẬN DỤNG CỦA CHÚNG VÀO ĐỜI SỐNG HÀNG NGÀY

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×