Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Các điều ước quốc tế đa phương quan trọng về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ

Các điều ước quốc tế đa phương quan trọng về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ

Tải bản đầy đủ - 0trang

nước là thành viên Liên hiệp cho những tác phẩm của họ xuất bản lần đầu tiên ở

một trong những nước là thành viên Liên hiệp, các tác giả không là công dân của

một nước thành viên Liên hiệp nhưng có nơi cư trú thường xuyên ở một trong

những nước là thành viên của Liên hiệp. Thời gian bảo hộ của công ước là: suốt đời

của tác giả và 50 năm sau khi tác giả chết. Sự bảo hộ theo Cơng ước Berne có hiệu

lực hồi tố. Việt Nam hiện nay là đã thành viên của Công ước Berne.

Công ước toàn cầu về quyền tác giả 1952 (UCC). Để được hưởng sự

bảo hộ của Công ước này, các tác phẩm khi được công bố phải ghi dấy hiệu chuyên

môn là © trong vòng tròn chỉ rõ tác giả và năm xuất bản tác phẩm. Cũng như Công

ước Berne, Công ước UCC quy định các quốc gia thành viên dành cho cá nhân, tổ

chức của nhau chế độ đãi ngộ quốc dân trong lĩnh vực bảo hộ quyền tác giả. Theo

Công ước, thời hạn bảo hộ quyền tác giả không ngắn hơn cuộc đời tác giả cộng

thêm 25 năm sau khi tác giả chết. Công ước quy định quyền dịch, các hạn chế và

ngoại lệ đối với quyền dịch, thời hạn xin cấp giấy phép dịch thuật được quy định:

sau 7 năm kể từ ngày tác phẩm được công bố lần đầu tiên mà chưa có bản dịch nào

ra bất kỳ thứ tiếng phổ thông thuộc các quốc gia thành viên thì cơng dân của bất kỳ

quốc gia thành viên nào đều có thể đề nghị cơ quan có thẩm quyền của quốc gia

mình cấp giấy phép cho dịch và cơng bố bản dịch tác phẩm đó.

Cơng ước bảo hộ người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm và tổ chức

phát sóng 1961 (Cơng ước Roma). Theo quy định của Công ước, người biểu diễn là

các diễn viên, ca sĩ, vũ công, nhạc công và những người khác biểu diễn các tác

phẩm văn học hoặc nghệ thuật được bảo hộ. Nhà sản xuất bản ghi âm có quyền cho

phép hoặc ngăn cấm việc sao chép trực tiếp hoặc gián tiến bản ghi âm của họ. Tổ

chức phát sóng có quyền cho phép hoặc ngăn cấm việc tái phát sóng chương trình

phát sóng của họ. Thời hạn bảo hộ được quy định kéo dài ít nhất cho đến hết 20

năm tính từ khi kết thúc năm bản ghi âm, cuộc biểu diễn được định hình, chương

trình phát sóng được thực hiện. Hiện nay Việt Nam đã là thành viên của Công ước.



3



-



Công ước bảo hộ nhà sản xuất bản ghi âm, chống lại việc sao chép



không được phép các bản ghi âm của họ 1971 (Cơng ước Geneva). Cơng ước có

quy định nghĩa vụ của các quốc gia thành viên trong việc bảo hộ các nhà sản xuất

bản ghi âm mang quốc tịch của các quốc gia thành viên khác, chống lại việc làm

bản sao và nhập khẩu các bản sao nhằm mục đích phân phối cơng cộng, việc phân

phối các bản sao tới công chúng không được sự đồng ý của nhà sản xuất. Thời hạn

bảo hộ kéo dài ít nhất 20 năm kể từ khi định hình hoặc cơng bố lần đầu tiên bản ghi

âm. Hiện nay Việt Nam đã là thành viên của Công ước.

Công ước về việc phát các tín hiệu mang chương trình truyền qua vệ

tinh 1974 (Công ước Brusels). Công ước quy định nghĩa vụ của các quốc gia thành

viên phải thực hiện các biện pháp thích đáng để ngăn chặn việc phân phối khơng

được phép trên lãnh thổ của nước mình các tín hiệu mang chương trình được truyền

qua vệ tinh. Việc xin phép là nghĩa vụ bắt buộc của tổ chức mang quốc tịch của các

quốc gia thành viên. Hiện nay Việt Nam đã là thành viên của Công ước.

Hiệp định về các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền sở hữu

trí tuệ 1994 (Hiệp định TRIPs). Đây là một hiệp định đa phương nằm trong hệ

thống các hiệp định của WTO, việc gia nhập WTO đống nghĩa với việc phải chịu

sự ràng buộc của các quy định trong Hiệp định TRIPs. Hiệp định quy định các tiêu

chuẩn tối thiểu đối với bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ nói chung. Đây là văn kiện pháp

lý quốc tế đầu tiên quy định cả các biện pháp xử phạt đối với các thành viên không

bảo đảm tiêu chuẩn tối thiểu này. Nguyên tắc cơ bản của Hiệp định TRIPs là áp

dụng chế độ đãi ngộ quốc dân và cả chế độ đãi ngộ tối huệ quốc. Hiệp định đã bố

sung chương trình máy tính và sưu tập dữu liệu vào loại hình tác phẩm được bảo

hộ, đồng thời quy định các loại hình khơng được bảo hộ. Hiệp định TRIPs có hiệu

lực ở Việt Nam vào thời điểm Việt Nam là thành viên của WTO.

Hiệp ước quyền tác giả 1996 (WCT). Hiệp ước quy định 3 quyền tác

giả: quyền phân phối, quyền cho thuê, quyền truyền thông công cộng. Hiệp ước

buộc các quốc gia thành viên phải quy định quyền áp dụng biện pháp tự bảo vệ



4



quyền, chống lại việc dỡ bỏ, phá hủy các biện pháp công nghệ, các thông tin quản

lý quyền; buộc các quốc gia thành viên phải thông qua các biện pháp cần thiết để

bảo đảm áp dụng Hiệp ước phù hợp với hệ thống pháp luật của quốc gia mình.

Hiệp ước về biểu diễn và bản ghi âm 1996 (WPPT). Theo Hiệp ước,

người biểu diễn và nhà sản xuất bản ghi âm có 4 quyền kinh tế độc quyền: quyền

làm bản sao, quyền phân phối, quyền cho thuê, quyền cung ứng. Hiệp ước đòi hỏi

các nước thành viên áp dụng nguyên tắc đãi ngộ công dân. Thời gian bảo hộ ít nhất

là 50 năm.

Cơng ước Paris 1883, đây là Công ước quốc tế đa phương đầu tiên quy

định về bảo hộ sở hữu cơng nghiệp. Mục đích chủ yếu của Công ước là nhằm xây

dựng các điều kiện có lợi cho việc cấp văn bằng bảo hộ cho chủ sở hữu đối tượng

sở hữu công nghiệp là công dân, pháp nhân của nước thành viên này tại lãnh thổ

của nước thành viên khác. Công ước áp dụng nguyên tắc đối xử quốc gia. Các nước

thành viên phải có nghĩa vụ trong việc bảo hộ các đối tượng của quyền sở hữu công

nghiệp. Hiện nay Việt Nam đã là thành viên của Công ước.

Hiệp ước Washington về sở hữu trí tuệ đối với các thiết kế bố trí mạch

tích hợp 1989 (IPIC), đối tượng được bảo hộ bởi hiệp ước là thiết kế bố trí. Các

quốc gia thành viên phải bảo đảm việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đối với thiết kế

bố trí trên tồn bộ lãnh thổ của quốc gia mình với điều kiện thiết kế bố trí đó phải

đảm bảo tính ngun gốc. Thời hạn bảo hộ đối với thiết kế bố trí ít nhất là 8 năm.

Hiệp ước hợp tác sáng chế 1970 (PCT), hiệp ước là sự phát triển quan

trọng nhất của hợp tác quốc tế trong lĩnh vực sáng chế. Hiện nay Việt Nam đã là

thành viên của Hiệp ước.

Thỏa ước Madrid và Nghị định thư Madrid về đăng ký quốc tế đối với

nhãn hiệu. Việt Nam đã là thành viên của hai văn bản pháp lý này.

Thỏa ước Nice về phân loại quốc tế hàng hóa và dịch vụ dùng để đăng

ký nhãn hiệu 157.

Thỏa ước Strasbourg về phân loại sáng chế quốc tế 1971.

Công ước quốc tế về bảo hộ giống cây trồng mới (UPOV). Theo đó

các quốc gia thành viên có nghĩa vụ phải cơng nhận và bảo hộ quyền của nhà tạo

5



giống. Nguyên tắc bảo hộ của Công ước là nguyên tắc đối xử quốc gia. Thời gian

bảo hộ là 15 năm. Việt Nam đã là thành viên của Hiệp hội.

2. Quy định của pháp luật Việt Nam

Bên cạnh việc gia nhập là thành viên của các điều ước quốc tế đa

phương về lĩnh vực sở hữu trí tuệ, Việt Nam còn ký kết nhiều điều ước quốc

tế song phương quan trọng về sở hữu trí tuệ với các nước trên thế giới, tiêu

biểu là:

-



Hiệp định Việt Nam – Hoa Kỳ về thiết lập quyền tác giả (BCA), hai



bên cam kết bảo hộ các tác phẩm của công dân của nhau trên nguyên tắc áp dụng

chế độ đãi ngỗ quốc dân. Theo Hiệp định, các quyền được bảo hộ bao gồm các

quyền tối thiểu, các quyền độc quyền sao chép, phân phối, trưng bày, phổ biến công

cộng với những hạn chế và ngoại lệ theo tiêu chuẩn của Điều 9 Công ước Berne.

Về thực thi, Hiệp định quy định nghĩa vụ áp dụng các biện pháp thực thi tại biên

giới, biện pháp dân sự và hình sự theo các chuẩn mực của Hiệp định TRIPs. Các

nghĩa vụ này được thực hiện theo quy định trên lãnh thổ quốc gia nào thì theo quy

định của pháp luật quốc gia đó.

Hiệp định giữa Việt Nam – Thụy Sỹ về bảo hộ sở hữu trí tuệ và hợp

tác trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ. Theo Hiệp định này, Việt Nam sẽ được nhận sự hỗ

trợ kỹ thuật từ phía Liên bang Thụy Sỹ. Các đối tượng được bảo hộ theo Hiệp định

này gồm quyền tác giả và quyền liên quan, kể cả chương trình máy tính và cơ sở dữ

liệu; nhãn hiệu hàng hóa, chỉ dẫn địa lý, bố trí mạch tích hợp, giống cây trồng và

thơng tin khơng được công bố.

Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ (BTA), tuy là Hiệp định

thương mại nhưng Hiệp định dành riêng 1 chương với 18 điều quy định về sở hữu

trí tuệ. Hiệp định quy định nghĩa vụ của cá bên ký kết áp dụng các biện pháp thực

thi tại biên giới, biện pháp dân sự và hình sự, bao gồm các biện pháp xử lý hình sự

và ngăn chặn theo các chuẩn mực của Hiệp định TRIPs. Các nghĩa vụ này được

thực hiện theo quy định của luật pháp quốc gia.



6



Ngồi ra pháp luật Việt Nam cũng có những quy định riêng về quyền

sở hữu trí tuệ, được quy định tại BLDS năm 2015, luật sở hữu trí tuệ năm

2005 sửa đổi bổ sung năm 2009.

III.



Sự tồn tại của pháp luật khi quy định về quyền sở hữu trí tuệ tại

Điều 679 BLDS năm 2015

1. Quy định về sở hữu trí tuệ trong BLDS

Quyền sở hữu trí tuệ được quy định tại Điều 679 BLDS năm 2015:

“Quyền sở hữu trí tuệ được xác định theo pháp luật của nước nơi đối



tượng quyền sở hữu trí tuệ được yêu cầu bảo hộ.”

Như vậy trường hợp cá nhân, pháp nhân yêu cầu được bảo hộ tại quốc

gia nào thì sẽ áp dụng pháp luật của quốc gia đó.

Với quy định này khi tổ chức, cá nhân nước ngồi có u cầu bảo hộ

quyền sở hữu trí tuệ (quyền tác giả, quyền liên quan đến yếu tố nước ngoài;

quyền sở hữu công nghiệp, quyền đối với giống cây trồng) tại Việt Nam thì

pháp luật được áp dụng là pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Việt

Nam là thành viên. Trong trường hợp điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành

viên có quy định khác với quy định của pháp luật Việt Nam thì áp dụng quy

định điều ước quốc tế đó.



7



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Các điều ước quốc tế đa phương quan trọng về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×