Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Hình 2.1 Biểu đồ cơ cấu kinh tế huyện Lương Sơn năm 2016

Hình 2.1 Biểu đồ cơ cấu kinh tế huyện Lương Sơn năm 2016

Tải bản đầy đủ - 0trang

44



Zan, quặng đa kim. Các loại tài nguyên này theo điều tra sơ bộ cho thấy có trữ

lượng khá cao và chất lượng tốt và cho phép huyện có thể đẩy mạnh phát triển

ngành cơng nghiệp khai thác khống sản và sản xuất vật liệu xây dựng. Hiện

nay, ngành khai thác khoáng sản và sản xuất vật liệu xây dựng đang có xu

hướng phát triển tốt. Sản lượng các loại sản phẩm như xi măng, tấm lợp, đá

xây dựng, gạch nung...

Ngành thương mại dịch vụ, nhất là ngành du lịch có khả năng phát

triển mạnh trên địa bàn huyện. Với các yếu tố thuận lợi về giao thông, cửa

ngõ Hà Nội, lại có nhiều danh lam thắng cảnh, kỳ quan và di tích lịch sử nổi

tiếng, Lương Sơn thực sự có điều kiện phát triển thương mại dịch vụ, trao đổi

hàng hoá, phát triển du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, thiên nhiên và lịch sử.

Trong thời gian qua, ngành thương mại, dịch vụ có tốc độ tăng trưởng cao

năm 2015 đạt 32,87%; năm 2016 đạt 16,40%.

Ngành nơng, lâm nghiệp có tốc độ tăng trưởng đạt 16,09% năm 2016

và vẫn có khả năng phát triển trên nhiều địa phương của huyện. Do điều kiện

về thuỷ văn, địa hình, chất đất, hoặc theo định hướng phát triển công nghiệp

và thương mại dịch vụ, ngành nơng nghiệp đã và đang có xu hướng bị thu hẹp

phát triển, nhất là diện tích trồng lúa. Tuy vậy, huyện vẫn có nhiều khả năng

phát triển một số loại sản phẩm nơng nghiệp có thế mạnh, ví dụ như: trồng

rau, hoa chất lượng cao (vùng phía Bắc huyện), trồng cây công nghiệp ngắn

ngày, hoa quả, trồng rừng (trên vùng Tây Nam huyện).

2.1.2.4. Vấn đề tổ chức sản xuất trong nông nghiệp của huyện

- Kinh tế hộ: sau khi thực hiện giao ruộng đất ổn định lâu dài cho hộ

nông dân, các hộ đã vươn lên tự chủ trong sản xuất. Huyện đã cấp giấy chứng

nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp cho các hộ. Trong điều kiện chuyển đổi

cơ chế quản lý từ tập trung, sản xuất tự cấp, tự túc sang sản xuất hàng hóa gắn

với thị trường thực tế đã buộc kinh tế hộ phải đối mặt với thị trường, với sự

biến động thường xuyên của các yếu tố đầu vào cũng như đầu ra của quá trình



45



sản xuất.

Xu thế phát triển kinh tế hộ hiện nay là từng bước chuyển sang sản

xuất hàng hóa nhưng vẫn ở quy mô nhỏ, với sản phẩm nông nghiệp đa dạng

hơn. Từng hộ nông dân đã tự chủ trong sản xuất nông nghiệp nhưng không

thể tự chủ một cách độc lập hoàn toàn mà vẫn cần tới vai trò của HTX nơng

nghiệp ở các lĩnh vực, các khâu mà hộ không thể làm được hoặc làm nhưng

kém hiệu quả như: thủy nông, bảo vệ đồng ruộng, giống mới, tiến bộ kỹ

thuật, tiêu thụ sản phẩm.

- Kinh tế trang trại: Tồn huyện hiện có khoảng hơn 100 trang trại. Số

lượng các trang trại hoạt động có hiệu quả tập trung chủ yếu ở địa bàn các xã:

Nhuận Trạch, Hợp Hòa, Cư Yên, Hòa Sơn, Liên Sơn và thị trấn Lương Sơn…

Trên cơ sở tăng cường các hoạt động xúc tiến thương mại, quảng bá sản phẩm,

đến nay khá nhiều loại nông sản của các trang trại ở Lương Sơn đã có mặt tại

các siêu thị, trung tâm thương mại lớn của Hà Nội như BigC, Metro, CoopMart,

FiviMart và giao thương với các tỉnh trong cả nước. Điển hình như mặt hàng

sữa bò tươi, hoa quả VietGAP, thịt gà, trứng gà sạch, rau quả hữu cơ... Với sự

quan tâm của các cơ quan chức năng, trực tiếp là Phòng Nơng nghiệp và Phát

triển nông thôn huyện Lương Sơn, một số trang trại đã chủ động đầu tư cơ sở,

hệ thống máy móc, hệ thống tưới; xây dựng chuồng trại chăn nuôi kết hợp với

hầm bể biogas bảo đảm vệ sinh mơi trường, góp phần giải quyết việc làm cho

lao động tại địa phương, nâng cao năng suất và chất lượng nơng sản; tăng sản

lượng hàng hóa và góp phần xây dựng nông thôn mới.

Theo kế hoạch, giai đoạn 2017 - 2020, huyện Lương Sơn phấn đấu đạt

hơn 150 trang trại; 100% số chủ trang trại được tập huấn về thông tin thị

trường, kiến thức khoa học - kỹ thuật và quản lý; lao động làm việc thường

xuyên tại trang trại được tập huấn kỹ thuật; hơn 70% số trang trại được hưởng

các cơ chế, chính sách khuyến khích phát triển kinh tế trang trại và cơ chế,

chính sách hỗ trợ sản xuất hàng hóa; tiếp tục mở rộng diện tích sản xuất nông



46



nghiệp theo tiêu chuẩn VietGAP nhằm thúc đẩy phát triển nơng nghiệp hàng

hóa theo hướng bền vững…

Nhằm hiện thực hóa những mục tiêu nói trên, thời gian tới, Lương Sơn

sẽ chú trọng đẩy mạnh quy hoạch, hình thành các vùng chuyên canh tập trung

gắn với tuyên truyền, khuyến khích người dân đầu tư phát triển kinh tế trang

trại. Cùng với việc thực hiện các chính sách hỗ trợ của tỉnh, huyện cũng sẽ tiếp

tục bổ sung, ban hành cơ chế, chính sách hỗ trợ đầu tư phát triển, tạo mọi điều

kiện thuận lợi cho các chủ trang trại về thủ tục hành chính, hướng đầu tư, hỗ trợ

xây dựng điện, đường, thủy lợi, khu quy hoạch trang trại... Trọng tâm là khuyến

khích các trang trại liên kết với các hợp tác xã tổ chức hoạt động sản xuất, kinh

doanh nông, lâm nghiệp, thủy sản gắn với tiêu thụ sản phẩm theo chuỗi giá trị

“sản xuất - chế biến - tiêu thụ sản phẩm”. Tập trung phát triển các sản phẩm đã

có nhãn hiệu, thương hiệu, như: các loại rau hữu cơ, sữa bò tươi, lợn bản địa,

bưởi da xanh, bưởi đỏ…

Phát huy vai trò tích cực, chủ động của người sản xuất gắn với những

chính sách hỗ trợ của các cơ quan chức năng, tin tưởng các mô hình kinh tế

trang trại sẽ thật sự trở thành động lực quan trọng, thúc đẩy sản xuất nơng

nghiệp hàng hóa ở Lương Sơn phát triển.

2.1.3. Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến

phát triển sản xuất và tiêu thụ rau hữu cơ trên địa bàn huyện Lương Sơn

- Thuận lợi

(1) Có vị trí địa kinh tế rất thuận lợi cho phát triển vùng kinh tế tổng



hợp và trở thành vùng kinh tế động lực của tỉnh Hòa Bình.

Với vị trí địa lý, địa hình miền núi thấp, có quỹ đất, có nhiều tài

nguyên, có cảnh quan phong phú, đa dạng, lại nằm không xa Thủ đô Hà Nội,

giữa các tuyến giao thông quốc lộ khá thuận lợi. Đặc biệt, trong quy hoạch

Hòa Bình, Lương Sơn nằm trong cả hai vùng động lực của tỉnh. Đó là: dải

hành lang tiếp giáp với Hà Nội (thuộc phía Bắc huyện Kỳ Sơn và dọc theo



47



huyện Lương Sơn) và trục trung tâm dọc theo QL6, đường Láng - Hòa Lạc

về thành phố Hòa Bình và hồ sông Đà. Điều trên đã tạo cho Lương Sơn là địa

bàn trọng điểm, được ưu tiên đầu tư phát triển và được tăng cường thêm mối

quan hệ kinh tế, có nhiều lợi thế trong việc thu hút các nhà đầu tư để phát

triển cả công nghiệp, thương mại dịch vụ và nông nghiệp.

(2) Khả năng tổ chức và phát triển tiểu vùng kinh tế động lực trên địa



bàn huyện.

Dựa trên địa hình, vị trí địa lý, đầu mối giao thơng và sự sẵn có tài

nguyên cũng như nguồn nhân lực, có thể xác định rõ nét vùng động lực phát

triển cho tồn huyện, đó là vùng phía Bắc huyện với vị trí là trung tâm đầu

não chính trị và kinh tế của huyện. Vùng động lực có khả năng phát triển

mạnh cơng nghiệp khai thác khống sản và sản xuất vật liệu xây dựng, phát

triển các ngành công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng tận dụng nhiều lao động;

phát triển vùng nông nghiệp sản xuất rau, hoa và cây ăn quả chất lượng cao;

đặc biệt là khả năng phát triển du lịch sinh thái nghỉ dưỡng cũng như du lịch

văn hố lịch sử. Với những đặc điểm thuận lợi nói trên, thị trấn Lương Sơn có

những điều kiện để trở thành thị xã Lương Sơn trong một tương lai gần.

(3) Khả năng lựa chọn các sản phẩm mũi nhọn của huyện trong điều



kiện kinh tế mở cửa. Lương Sơn có khả năng phát triển thành vùng kinh tế

tổng hợp có vị trí quan trọng trong tồn nền kinh tế tỉnh Hồ Bình. Mặt khác,

với những điều kiện tự nhiên, tài ngun, tính chất đất đai, vị trí địa lý, có thể

xác định được khá rõ ràng những ngành sản phẩm mũi nhọn mang tính đặc

trưng của kinh tế huyện, đó là: (1) sản phẩm cơng nghiệp khai thác khống

sản (đá vôi, đất sét, đá) và phát triển công nghiệp sản xuất VLXD, đây chính

là một trong những ngành CN mũi nhọn mà tỉnh Hồ Bình đã xác định điểm

nhấn phát triển tại địa bàn huyện Lương Sơn; (2) Phát triển loại hình du lịch

nghỉ dưỡng - sinh thái, du lịch thiên nhiên - hang động, du lịch lịch sử - văn

hoá, với các tour du lịch liên kết trong tuyến phát triển khu trung tâm kinh tế



48



của tỉnh, kèm theo hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch như: nhà hàng,

khách sạn, sân golf, hệ thống nhà vườn, với các món ăn đặc sản dân tộc mà

chỉ có ở Lương Sơn mới có.

- Những khó khăn

(1) Khả năng phát triển kinh tế không đều giữa các vùng trong huyện.



Bên cạnh các xã phía Bắc huyện và các xã khu vực phía Đơng Nam

huyện có nhiều điều kiện thuận lợi trong phát triển kinh tế, địa bàn huyện có

hai tiểu vùng, do những điều kiện khác nhau những đều gặp khó khăn trong

q trình phát triển. Vùng phía Tây Nam huyện, do điều kiện địa hình chia

cắt, hệ thống giao thơng, điều kiện thuỷ văn khó khăn, lại là vùng “cụt” nên

rất khó có điều kiện phát triển nền kinh tế trong điều kiện kinh tế thị trường

phát triển. Tiểu vùng thứ hai, bao gồm các xã phía Nam huyện, do có vị trí

quan trọng về an ninh quốc phòng, là vùng an tồn khu (CT229 là vùng có

các xã đặc biệt khó khăn), vì thế các xã này phải tuân theo các quy chế của

loại vùng này và nhìn chung là rất hạn chế việc giao lưu hàng hoá, mở rộng

thị trường và trao đổi kinh tế xã hội với bên ngoài.

(2) Sự chênh lệch mức sống dân cư



Do điều kiện kinh tế- xã hội - địa lý, kinh tế của vùng Bắc và Đơng

Nam huyện có điều kiện phát triển mạnh nên mức sống dân cư ở đây, nhất là

vùng phía Bắc huyện cao hơn nhiều so với hai vùng còn lại. Sự chênh lệch

mức sống giữa các tiểu vùng trong huyện gây khó khăn cho việc tổ chức đời

sống KTXH trong tồn huyện. Điều này đòi hỏi trong thời gian tới phải khắc

phục những khó khăn cho vùng chậm phát triển (vùng Tây Nam huyện), nhất

là phát triển cơ sở hạ tầng kết nối và thực hiện những chính sách rút ngắn

khoảng chênh lệch mức sống giữa vùng này với các vùng khác.

(3) Những hạn chế về chất lượng nguồn nhân lực và hệ thống cơ sở hạ



tầng nội bộ huyện

Hiện tại, với vị trí trung tâm và là điểm kết nối Hồ Bình với vùng Hà



49



Nội, nhiều nhà đầu tư đã tìm đến với Lương Sơn, tuy vậy, hai rào cản lớn

nhất hiện nay, đó là: (1) chất lượng nguồn nhân lực thấp, tỷ lệ lao động qua

đào tạo thấp, bộ phận lao động nông nghiệp có nhu cầu chuyển đổi nghề

nghiệp rất lớn; (2) Chất lượng mạng lưới cơ sở hạ tầng, nhất là hệ thống giao

thông kết nối trong nội bộ huyện kém, không bảo đảm cho nhu cầu phát triển

CN và các tuyến du lịch cũng như nhu cầu giao lưu hàng hoá và phát triển xã hội

trên địa bàn huyện. Đây là khó khăn lớn để phát triển kinh tế huyện trở thành

động lực lớn của tỉnh và trở thành huyện có mức sống cao nhất tồn tỉnh.

2.2. Phƣơng pháp nghiên cứu

2.2.1. Phương pháp chọn địa điểm nghiên cứu

Đề tài chọn ra 3 xã là xã Thành Lập, Hợp Hoà và Cư Yên làm điểm

nghiên cứu. Vì cả 3 xã này, phát triển rau hữu cơ tập trung, diện tích đất sản xuất

nông nghiệp lớn, điều kiện tự nhiên thuận lợi cho phát triển sản xuất rau hữu cơ,

có nhiều nhóm tham gia sản xuất rau hữu cơ, giao thông thuận tiện trong việc

giao lưu, vận chuyển hàng hóa tới thị trường tiêu thụ lớn như Hà Nội.

2.2.2. Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu

2.2.2.1.Thu thập số liệu thứ cấp

Sử dụng số liệu thống kê, báo cáo của các cơ quan quản lý, các kết quả

nghiên cứu đã được công bố trong thời gian 3 năm gần đây về điều kiện tự

nhiên, kinh tế xã hội huyện Lương Sơn, số lượng hộ gia đình, hợp tác xã,

doanh nghiệp tham gia sản xuất và tiêu thụ rau hữu cơ, cung ứng đầu vào cho

quá trình sản xuất... trên địa bàn huyện Lương Sơn.

2.2.2.2.Thu thập số liệu sơ cấp

+ Số liệu sơ cấp được thu thập bằng cách điều tra trực tiếp các hộ sản xuất

rau hữu cơ tham gia liên kết và không tham gia liên kết tại 3 xã điều tra.

+ Thu thập số liệu trực tiếp từ các công ty, doanh nghiệp, hợp tác xã nông

nghiệp, trung tâm khuyến nơng của huyện Lương Sơn và đại diện chính quyền

của 3 xã điều tra và huyện Lương Sơn và các chủ thể khác tham gia vào liên kết.



50



+ Chọn mẫu điều tra:

Để phục vụ cho nghiên cứu chúng tôi tiến hành điều tra 90 hộ trồng rau

hữu cơ trong 3 xã chia làm 2 nhóm hộ theo mối quan hệ liên kết giữa hộ nơng

dân với các doanh nghiệp: nhóm hộ có liên kết và nhóm hộ khơng liên kết để

tìm hiểu về các hoạt động liên quan đến liên kết sản xuất, tiêu thụ rau hữu cơ

(các hình thức, phương thức, nội dung liên kết, năng suất, sản lượng, giá bán,

tình hình đầu tư, liên kết, những khó khăn gặp phải trong liên kết...).

Bảng 2.3. Số lƣợng mẫu điều tra

Đối tƣợng



Số mẫu



Nội dung thu thập



Phƣơng pháp thu thập



1. Cấp huyện



10 người (Cán

bô lãnh đạo Thực hiện liên kết sản

Điều tra phỏng vấn trực tiếp

huyện và các xuất và tiêu thụ rau

dựa trên bảng hỏi đã thiết kế.

trưởng

ban, hữu cơ trên địa bàn

ngành)



2. Cấp xã



10 người



3.Nhà

học



10 (cán bộ trung

Thực hiện liên kết sản

tâm khuyến nông

Điều tra phỏng vấn trực tiếp

xuất và tiêu thụ rau

huyện, khuyến

dựa trên bảng hỏi đã thiết kế.

hữu cơ trên địa bàn

nông xã)



khoa



Thực hiện liên kết sản

Điều tra phỏng vấn trực tiếp

xuất và tiêu thụ rau

dựa trên bảng hỏi đã thiết kế.

hữu cơ trên địa bàn



4.Doanh

nghiệp



Thực hiện liên kết sản

Điều tra phỏng vấn trực tiếp

4. Doanh nghiêp xuất và tiêu thụ rau

dựa trên bảng hỏi đã thiết kế.

hữu cơ trên địa bàn



5. Hợp tác xã



Tình hình tham gia Điều tra phỏng vấn trực tiếp

9 HTX (chủ

liên kết trong SX và dựa trên bảng hỏi đã thiết

nhiệm HTX)

tiêu thụ RHC

kế..



6. Hộ SX rau

hữu cơ



- Tình hình sản xuất Điều tra phỏng vấn trực tiếp

rau RHC; tình hình về dựa trên bảng hỏi đã thiết

liên kết trong SX và kế..

tiêu thu RHC;...



90 hộ



(Nguồn: Xử lý của tác giả)



51



+ Nội dung điều tra chính:

- Tình hình liên kết giữa các bên tham gia liên kết trong quá trình sản

xuất và tiêu thụ rau hữu cơ, thuận lợi và khó khăn, nguyện vọng, nhu cầu của

các bên tham gia trong liên kết, các yếu tố ảnh hưởng tới liên kết trong quá

trình sản xuất và tiêu thụ rau hữu cơ, từ đó làm cơ sở để đưa ra các giải pháp

có căn cứ khoa học trên địa bàn nghiên cứu.

2.2.3. Phương pháp xử lý và phân tích số liệu

2.2.3.1. Phương pháp xử lý số liệu

Chúng tôi tiến hành tổng hợp, phân loại và xử lý bằng phần mềm Excel

theo các mục tiêu nghiên cứu: phân tổ, tính tỷ lệ, vẽ biểu đồ, bảng... và các

loại số liệu khác nhau; cụ thể: Với các thông tin tổng hợp từ bảng hỏi, chúng

tôi tiến hành mã hóa và thực hiện tính tốn trên Excel để có được những chỉ

tiêu phù hợp với mục tiêu nghiên cứu của đề tài.

2.2.3.2. Phương pháp phân tích số liệu

* Phương pháp thống kê mô tả

Thống kê mô tả được sử dụng để mơ tả những đặc tính cơ bản của dữ

liệu thu thập được từ nghiên cứu thực nghiệm qua các cách thức khác nhau.

Trong phạm vi nghiên cứu đề tài này chúng tôi sử dụng phương pháp thống

kê mô tả vào việc dùng các số liệu và các thông tin thu thập được chúng tôi

tiến hành phân tích và mơ tả vị trí, vai trò của từng bên tới quá trình sản xuất

và tiêu thụ rau hữu cơ trên địa bàn huyện, phân tích những yếu tố ảnh hưởng

tới liên kết để từ đó xem xét và đưa ra những đánh giá cho thực trạng liên kết trên.

* Phương pháp so sánh

Đề tài sử dụng phương pháp thống kê so sánh với các thông tin thu

thập được trên cơ sở các số liệu điều tra giữa các nhóm hộ được phân tổ và so

sánh với nhau để đưa ra được các nhận xét về đặc điểm sản xuất của hộ, tình

hình đầu tư trên 1 sào theo nhóm hộ, so sánh kết quả, hiệu quả kinh tế và lợi

ích trong sản xuất của nhóm nào cao hơn, so sánh kết quả và hiệu quả của

liên kết so với không liên kết trong sản xuất và tiêu thụ.

* Phương pháp SWOT



52



SWOT là tập hợp những chữ cái đầu tiên của các từ tiếng anh:

Strengths (Điểm mạnh), Weakneses (Điểm yếu), Opportunities (Cơ

hội) và Threats (Thách thức). Đây được xem là cơng cụ rất hữu ích giúp

chúng ta tìm hiểu vấn đề hoặc ra quyết định trong tổ chức, quản lý sản xuất.

Ma trận SWOT dùng để tổng hợp những nghiên cứu về mơi trường bên ngồi

và bên trong mối liên kết để đưa ra những giải pháp nhằm phát huy được thế

mạnh, tận dụng được cơ hội, khắc phục các điểm yếu và né tránh các nguy

cơ. Phân tích mơi trường bên ngồi để phát hiện ra cơ hội và những vấn đề đe

doạ đối với họ, phân tích mơi trường nội bộ để xác định được thế mạnh và

điểm yếu cơ hội của liên kết và thách thức.

Với đề tài của mình, chúng tơi phân tích những thuận lợi, khó khăn, cơ

hội và thách thức trong phát triển mối liên kết của hộ nông dân trong sản xuất

và tiêu thụ rau hữu cơ.

2.2.4. Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu sử dụng trong đề tài

2.2.4.1. Nhóm chỉ tiêu phản ánh thực trạng liên kết

* Tổng diện tích, năng suất, sản lượng trồng rau hữu cơ

* Chủng loại, giá cả rau hữu cơ

* Khối lượng và cơ cấu rau hữu cơ thu mua của các hộ nông dân ký

hợp đồng

* Các bên tham gia vào liên kết:

+ Hộ Nông dân sản xuất rau hữu cơ;

+ Số doanh nghiệp, HTX,...

* Hình thức liên kết: Hợp đồng, tự do ..

* Số lượng hợp đồng thỏa thuận, số lượng hợp đồng thực hiện

* Số hộ nông dân ký hợp đồng

* Tỷ lệ thực hiện liên kết

* Thời gian liên kết: Số năm liên kết

2.2.4.2. Nhóm chỉ tiêu đánh giá tác động của liên kết

- Giá bán một số loại RHC của các hộ nơng dân

- Giá trị sản xuất

- Chi phí sản xuất: Chi phí trung gian, tổng chi phí

- Giá trị gia tăng

- Thu nhập hỗn hợp



53



Chƣơng 3

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1. Thực trạng hoạt động liên kết trong sản xuất và tiêu thụ rau hữu cơ

trên địa bàn huyện Lƣơng Sơn, tỉnh Hòa Bình

3.1.1. Tình hình sản xuất rau hữu cơ

3.1.1.1. Quy hoạch vùng sản xuất rau hữu cơ

Sau hơn 8 năm dự án Agricultural Development Denmark Asia

(ADDA) Đan Mạch triển khai mơ hình sản xuất rau hữu cơ tại một số xã, thị



trấn trên địa bàn huyện Lương Sơn, sản phẩm rau hữu đã được tạo ra, có giá

trị kinh tế cao và được người tiêu dùng chấp nhận. Tuy nhiên, việc sản xuất

còn nhỏ lẻ, manh mún làm cho hiệu quả sản xuất chưa tương xứng với tiềm

năng và lợi thế của huyện. Vì vậy, vấn đề quy hoạch phát triển sản xuất rau

hữu cơ đã được chú ý quan tâm từ năm 2013, góp phần xây dựng một nền

nông nghiệp bền vững, thân thiện với môi trường, bảo vệ sức khỏe con người,

phù hợp với quy hoạch và chiến lược phát triển lâu dài của huyện giai đoạn

năm 2014 - 2017 và định hướng tới năm 2020. Cụ thể:

- Quy hoạch vùng sản xuất rau hữu cơ tập trung có tổng diện tích 20 30 ha rau hữu cơ tại 6 xã và 1 thị trấn: xã Thành Lập, Hợp Hòa, Cư n, Hồ

Sơn, Cao Răm, Nhuận Trạch và Thị trấn Lương Sơn.

- Đến năm 2017, các vùng sản xuất rau hữu cơ tập trung được đầu tư

nâng cấp cơ sở hạ tầng đảm bảo yêu cầu của sản xuất nông nghiệp sạch và

được cấp chứng nhận là diện tích đủ điều kiện sản xuất rau hữu cơ theo quy

định của Nhà nước.

- Lợi nhuận từ rau hữu cơ đạt 273 - 372 triệu đồng/ha/năm, cao gấp 4 6 lần so với gieo cấy lúa và các cây trồng khác, đã đem lại thu nhập cao cho

người sản xuất, góp phần ổn định đời sống, tạo điều kiện thực hiện các nhiệm

vụ phát triển kinh tế - xã hội khác.

- Để phát huy lợi thế và hình thành vùng chuyên canh sản xuất rau hữu

cơ có quy mơ tập trung gắn với xây dựng nông thôn mới và phát triển bền



54



vững, huyện Lương Sơn đang tiếp tục mở rộng, hoàn thiện Dự án sản xuất và

tiêu thụ rau hữu cơ giai đoạn 2014 - 2017, định hướng 2020.

Sau nhiều năm duy trì và phát triển, đến nay, tồn huyện có 13 nhóm

sản xuất rau hữu cơ và 2 HTX nông sản hữu cơ đang hoạt động hiệu quả với 121

thành viên. Tổng diện tích sản xuất 17,2 ha tập trung ở 7 xã, thị trấn, trong đó xã

Hợp Hòa là địa phương trồng nhiều nhất với gần 9 ha; Cư Yên 3,3 ha; Thành

Lập 2,75 ha. Trong năm 2017, huyện Lương Sơn sẽ tiếp tục xây dựng các vùng

sản xuất rau hữu cơ tập trung với quy mô 40 ha tại các xã Cư Yên, Hợp Hòa,

Thành Lập và hướng dẫn thành lập mới 3 HTX sản xuất rau hữu cơ.

Thực hiện kế hoạch số 83/KH-UBND ngày 21/6/2017 của UBND tỉnh

Hòa Bình về điều tra, khảo sát, thu thập dữ liệu phục vụ Đề án “Chương trình

quốc gia mỗi xã một sản phẩm” giai đoạn 2017-2020, định hướng đến năm

2030 trên địa bàn tỉnh Hòa Bình, UBND huyện đã giao phòng NN&PTNT

chủ trì phối hợp với Hội nông dân, Trạm trồng trọt và bảo vệ thực vật huyện

chỉ đạo các xã nằm trong vùng quy hoạch sản xuất rau an hữu cơ từng bước

mở rộng diện tích trồng rau hữu cơ. Diện tích các xã nằm trong vùng quy

hoạch sản xuất rau hữu cơ của huyện được thể hiện qua bảng 3.1.

Qua bảng 3.1 cho thấy, diện tích trồng rau của các xã còn manh mún,

diện tích tập trung trồng rau hữu cơ của các xã khơng đều, ba xã có diện tích

đất trồng rau hữu cơ lớn nhất là xã Hợp Hòa, Nhuận Trạch và Cư Yên lần

lượt là chiếm 40,54%, 15,34%, và 14,90%; thấp nhất là Thị trấn Lương Sơn

với 0,6 ha đạt tỷ lệ 2,71% tổng diện tích trồng rau hữu cơ của cả huyện. Số

diện tích trồng rau hữu cơ năm năm 2016 so với quy hoạch chỉ đạt 74,58%.

Đạt cao nhất là xã Hòa Hợp: 89,8%; thấp nhất là xã Hòa Sơn, đạt 47,62%.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Hình 2.1 Biểu đồ cơ cấu kinh tế huyện Lương Sơn năm 2016

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×