Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
và nhà doanh nghiệp năm 2016

và nhà doanh nghiệp năm 2016

Tải bản đầy đủ - 0trang

82



Chính quyền xã chưa kịp thời, sâu sát nên chưa chủ động trong việc theo dõi,

giám sát, phản ánh kịp thời nguy cơ phá vỡ hợp đồng; chưa có giải pháp theo

dõi, quản lý tư thương trên địa bàn phá giá. Việc hướng dẫn xây dựng nội dung

hợp đồng giữa nông dân với doanh nghiệp chưa cụ thể và phổ biến rộng rãi;

công tác tuyên truyền và vận động nông dân hợp tác, thực hiện liên kết sản xuất

chưa được sâu rộng và thường xuyên… Ngược lại, xã Hợp Hòa người dân rất

có ý thức trong việc thực hiện đúng thỏa thuận của hợp đồng vì họ thường

xuyên được các cấp chính quyền địa phương tuyên truyền lợi ích của bản hợp

đồng ký kết với doanh nghiệp. Chính quyền địa phương ln giám sát giá cả

khơng để tình trạng “cò” thu mua phá giá.

Qua thực tế cho thấy, tình trạng những hợp đồng bị phá vỡ là những hợp

đồng bằng miệng chiếm tỷ lệ cao hơn.Nguyên nhân của tình trạng tỷ lệ hợp

đồng miệng được thực hiện quá thấp là: do khơng có sự ràng buộc pháp lý như

những hợp đồng bằng văn bản mà chỉ dựa trên sự tin tưởng lẫn nhau giữa nhà

sản xuất và doanh nghiệp. Mặt khác, đại đa số doanh nghiệp và hộ sản xuất

cũng đều thừa nhận rằng, nguyên nhân chính là do chênh lệch giữa giá trong

hợp đồng và giá thực tế. Mặc dù các hộ đã ký hợp đồng và đã nhận tiền đầu tư

ứng trước của doanh nghiệp, nhưng đến vụ thu hoạch, khi có sự chênh lệch giá

và việc đội ngũ mua gom đến tận từng hộ sản xuất, ra tận ruộng để mua nhưng

người sản xuất vì lợi nhuận chênh lệch đã bán cho người mua gom khác, phá vỡ

hợp đồng.

Đối với một số hợp đồng giữa hộ sản xuất với cán bộ kỹ thuật cũng đã

xảy ra, Sản phẩm không đảm bảo chất lượng yêu cầu như đã cam kết, nhưng

nguyên nhân của nó nhiều khi lại được đổ cho thời tiết, khí hậu....

Đây cũng là thực tế xảy ra nhiều năm nay do cơ chế liên kết trong sản

xuất và tiêu thụ còn rất lỏng lẻo, hoạt động liên kết mới chỉ có sự tham gia

của nhà nông, nhà doanh nghiệp, sự can thiệp của nhà khoa học trong việc

hướng dẫn kỹ thuật cho các hộ sản xuất và kiểm nghiệm chất lượng đầu vào

còn hạn chế.



83



Đối với một số liên kết có sự tham gia của chính quyền, có nhiều hợp

đồng đã được thực hiện tốt, cả hai bên doanh nghiệp lẫn hộ sản xuất đều chấp

hành nghiêm các điều khoản đã ký. Nhưng bên cạnh đó, nhiều khi chính quyền

đã phải dùng đến biện pháp hành chính nhưng có những hộ sản xuất vẫn phá vỡ

hợp đồng.

Về phía doanh nghiệp, do phải bỏ vốn đầu tư, trụ sở lại đóng trên địa bàn

huyện, có nhiều mối quan hệ với các hộ sản xuất, nên khi giá cả sản phẩm có

xuống thấp, doanh nghiệp vẫn phải chấp nhận mua, nếu khơng cũng sẽ bị gây

khó khăn. Còn khi giá tăng cao, mặc dù đã có điều chỉnh lên theo tỷ lệ đã thống

nhất như trong hợp đồng, nhưng thơng thường vẫn còn thấp hơn so với thị

trường, nên vẫn không cản được hộ sản xuất bán cho đối tượng khác. Tuy

nhiên, vẫn còn có doanh nghiệp khi mua sản phẩm của người sản xuất thường

đánh giá thấp phẩm cấp chất lượng sản phẩm, gây tâm lý không tốt và làm thua

thiệt tới hộ sản xuất.

Các vấn đề phát sinh chưa phải là lớn và chưa nhiều, nhưng khi giải quyết

thường gặp phải rất nhiều khó khăn, thậm chí kéo dài, giải quyết khơng triệt để.

Ngay cả đối với hợp đồng có chính quyền đứng ra làm trọng tài. Người dân thì

chây ì, cán bộ chính quyền thì ngại tiếp xúc, doanh nghiệp thì bất lực...

3.2.4. Đánh giá chung về liên kết sản xuất và tiêu thụ rau hữu cơ tại huyện

Lương Sơn

3.2.4.1. Thành công

Hoạt động liên kết trong sản xuất và tiêu thụ RHC tại huyện Lương

Sơn trong thời gian qua, tuy mới chỉ có liên kết giữa người sản xuất RHC và

doanh nghiệp chế biến tiêu thụ sản phẩm, vai trò của Nhà nước và nhà khoa

học rất ít và mờ nhạt. Tuy nhiên trong thời gian qua hoạt động liên kết này đã

thu được kết quả như sau:

+ Liên kết trong sản xuất - tiêu thụ nông sản đã từng bước giải quyết



84



một số khó khăn, khuyến khích sản xuất phát triển nơng nghiệp theo hướng

hàng hoá, giải quyết một phần bức xúc của nông dân, nhất là về tiêu thụ nông

sản phẩm. Sự xuất hiện và vai trò của các doanh nghiệp thu mua chế biến tiêu

thụ sản phẩm thể hiện chưa nhiều, tuy nhiên qua đó cũng đã giúp cho các hộ

sản xuất có phần yên tâm hơn trong việc tiêu thụ sản phẩm. Cụ thể: Tỷ lệ rau

được tiêu thụ theo giá rau hữu cơ ngày càng lớn (từ 50,2% năm 2014 lên đến

khoảng 80,4% vào năm 2016).

Từng thôn, xã đã hình thành nên những vùng sản xuất chuyên canh

RHC, mặc dù đây có thể nói là hình thức liên kết ngang khơng có định hướng

của các hộ sản xuất, nhưng nó sẽ là tiền đề để thúc đẩy một nền sản xuất hàng

hoá tập trung phát triển trên địa bàn huyện.

+ Góp phần đẩy mạnh q trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao

động, giải quyết các vấn đề xã hội ở nơng thơn, thúc đẩy q trình cơng

nghiệp hố, hiện đại hố nơng nghiệp, nơng thơn.

Liên kết giữa cơ sở chế biến tiêu thụ và vùng nguyên liệu đã thúc đẩy

q trình phân cơng chun mơn hố sản xuất, chuyển dịch cơ cấu lao động,

chuyển một phần lao động nông nghiệp sang lao động trong ngành công

nghiệp chế biến, dịch vụ nông nghiệp (mỗi cơ sở chế biến nông sản trong

huyện hàng năm tạo được việc làm và thu nhập cho từ 150 - 250 lao động

thường xuyên); góp phần xố đói, giảm nghèo, tăng thêm việc làm, cải thiện

đời sống của hộ nông dân trong huyện, đồng thời nâng cao trình độ tiếp thu

khoa học - kỹ thuật, khắc phục tình trạng sản xuất manh mún và đã phần nào

làm thay đổi tập quán canh tác lạc hậu trước đây ở nơng thơn.

+ Diện tích đất sản xuất chủ yếu được hình thành từ dồn điền, đổi thửa

giữa thành viên trong nhóm với các hộ dân khác hoặc kết hợp đấu thầu.

+ Hỗ trợ từ phòng nơng nghiệp huyện khuyến khích các thành viên

mạnh dạn đấu thầu mở rộng diện tích sản xuất.



85



+ Giống rau sử dụng nhập khẩu từ nước ngoài, như su hào Hàn Quốc,

cà chua Mỹ, cải bắp Đài Loan, mướp ngọt Nhật. Ngoài ra nông dân cũng mua

các giống của nhà sản xuất Việt Nam như công ty giống Trung Ương, Trang

Nông, Nông Hữu, Đất Việt.

+ Nguồn nước phục vụ trồng rau hữu cơ của hộ nông dân được lấy từ

giếng đào hoặc giếng khoan chứ không dùng nguồn nước tự nhiên từ sông,

suối, ao hồ như sản xuất thông thường.

+ Huyện Lương Sơn đã tổ chức được 23 lớp đào tạo nông dân theo

chương trình sản xuất rau hữu cơ, thời gian học 17 tuần/lớp.

+ Đã có hợp tác xã và các cơ sở tiêu thụ RHC của hộ nông dân thông

qua hình thức hợp đồng chính thức hoặc hợp đồng miệng.

3.2.4.2. Hạn chế, nguyên nhân của những hạn chế

* Hạn chế:

Trong quá trình thực hiện liên kết, nhất là thực hiện Quyết định 80 của

Thủ tướng Chính phủ về khuyến khích tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp theo

hợp đồng và cụ thể là nghiên cứu hoạt động liên kết sản xuất-tiêu thụ RHC tại

huyện Lương Sơn vừa qua còn nhiều tồn tại như:

+ Quy mô sản xuất của các hộ gia đình còn manh mún và nhỏ lẻ, bình

qn mỗi hộ gia đình trồng RHC khơng q 4 sào; bản thân người nông dân

trong huyện chưa thực sự mặn mà với hoạt động liên kết, do bản thân họ chưa

nhận thức đầy đủ về những lợi ích của liên kết trong sản xuất và tiêu thụ, họ

ln có thái độ hồi nghi về các doanh nghiệp, xí nghiệp chế biến tiêu thụ và

cho rằng các cơ sở đó đang “lạm dụng và lừa bịp người dân thấp cổ bé họng”

+ Đối tượng tham gia liên kết trong nông nghiệp chưa được xác định

rõ, nhất là vai trò của các nhà, Việc Bộ Nông nghiệp và PTNT và các địa

phương xây dựng mơ hình liên kết 4 nhà (gồm nhà nơng, nhà doanh nghiệp,

nhà khoa học và Nhà nước), thì “Nhà nước” khơng rõ về cả đối tượng và vai



86



trò, Nhà nước khơng chỉ là đối tượng mà còn có vai trò lớn hơn đó là trách

nhiệm điều hành sản xuất, kinh doanh và đề ra cơ chế của mơ hình liên kết.

Mặt khác, các ngân hàng phải được coi là một đối tượng, một chủ thể

liên kết chính thức, nhưng chưa được xem xét có vai trò chính, Do vậy, đối

tượng là “Nhà nước” và “nhà ngân hàng” trong mơ hình liên kết 4 nhà tại

huyện Lương Sơn chưa được đề cập và áp dụng đúng mức, hiệu quả...

Liên kết sản xuất theo hợp đồng trên thực tế mới chủ yếu từ 2 nhà (nhà

nông- nhà doanh nghiệp); các nhà khác chưa thực sự vào cuộc chỉ tham gia ở

mức độ rất thấp.

+ Quá trình thực hiện Quyết định 80, các bên tuy có ký được hợp đồng

nhưng còn ở quy mô nhỏ, chủ yếu là các hộ, chủ doanh nghiệp, và bản thân

người nông dân chưa thực sự được tiếp cận với hợp đồng dưới dạng văn bản

mà họ mới chỉ thực hiện hợp đồng miệng với doanh nghiệp thông qua Hợp

tác xã nơng nghiệp.

+ Các hình thức, biện pháp liên kết kinh tế giữa doanh nghiệp chế biến

tiêu thụ và hộ nơng dân sản xuất còn lỏng lẻo, thiếu chế tài hữu hiệu đảm bảo

tính thực thi nghiêm túc của liên kết qua hợp đồng.

Hầu hết các cơ sở chế biến tiêu thụ còn thu mua nơng sản thơng qua

cấp trung gian (thương lái, đại lý) dẫn đến tình trạng tranh mua, tranh bán, ép

cấp và ép giá đối với nông dân, nhưng chưa được khắc phục kịp thời; hình thức

hợp đồng kinh tế trong quan hệ liên kết chưa thực sự được đảm bảo, thiếu chế tài

thực thi nghiêm túc theo hợp đồng; biện pháp thực hiện liên kết chưa có sự bình

đẳng về lợi ích giữa các bên. Vì vậy, hoạt động của mơ hình liên kết giữa doanh

nghiệp với người sản xuất nông sản chưa thực sự ổn định, hiệu quả.

+ Tình trạng vi phạm hợp đồng mua, bán sản phẩm xảy ra nhiều, khi có

giá cao, nông dân sản xuất theo hợp đồng bán phần lớn nông sản cho tư

thương khiến doanh nghiệp thiếu hụt ngun liệu; khi giá xuống thấp thì nơng



87



dân đòi hỏi nhà doanh nghiệp phải mua theo hợp đồng đã ký kết, tình trạng

nơng dân đổ lỗi cho doanh nghiệp và ngược lại thường xảy ra trên tất cả các

sản phẩm có ký hợp đồng.

Mặt khác tình trạng ép giá, phá vỡ hợp đồng vẫn xảy ra, làm thua thiệt

cho cả hai bên; tình trạng doanh nghiệp lấy những lý do về kiểm định chất

lượng để hạ cấp, hạ giá sản phẩm đã, làm cho hộ nông dân rất bức xúc. Khi

các bên đã mất lòng tin, khơng tương đồng lợi ích thì rất khó thực hiện liên

kết, hợp tác lâu dài, bền vững.

Tóm lại, hoạt động liên kết sản xuất - tiêu thụ theo hợp đồng tại địa bàn

huỵện Lương Sơn như tinh thần Quyết định số 80 còn nhiều tồn tại, tính liên

kết các nhà vẫn chưa vào cuộc sống; các quan hệ giữa các nhà chưa “mặn

mà” là vì: quan hệ liên kết mới thiết lập trên trách nhiệm nhiều hơn là lợi ích;

đồng thời mối quan hệ này đang như là sự giúp đỡ, bao cấp chứ chưa phải là

đối tác cùng lợi ích, nên chưa khuyến khích các nhà tham gia một cách tự

nguyện. Chính vì vậy, làm cho liên kết còn rất lỏng lẻo, chưa tác động mạnh

vào sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hoá.

* Nguyên nhân của hạn chế:

- Nguyên nhân khách quan

Nền nơng nghiệp của huyện Lương Sơn có xuất phát điểm thấp, quy

mô sản xuất nhỏ, manh mún; cơ sở hạ tầng kinh tế và kỹ thuật trong nông

nghiệp, nông thôn còn thấp kém đã ảnh hưởng khơng nhỏ đến sự liên kết giữa

giữa các nhà.

- Nguyên nhân chủ quan:

+ Trình độ sản xuất của nơng hộ của người dân còn thấp, tính tự phát,

tự cấp, tự túc trong sản xuất còn nặng nề. Nơng dân chưa có ý thức đầy đủ về

quá trình liên kết, liên doanh, nhất là liên kết; chưa đảm bảo đúng bản chất

của việc gắn kết với doanh nghiệp là cơ sở để nâng cao hiệu quả sản xuất,



88



đưa nông nghiệp lên sản xuất lớn, thực hiện CNH, HĐH đất nước.

+ Chưa xây dựng được mô hình sản xuất nơng nghiệp có quy mơ lớn

theo hướng gắn nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ trên địa bàn; trong đó

doanh nghiệp chế biến làm nòng cốt, đầu tầu hướng dẫn, giúp đỡ các hộ nông

dân, tổ chức kinh tế tập thể và các thành phần kinh tế phát triển sản xuất hàng

nơng sản có chất lượng.

Bản thân doanh nghiệp tại huyện còn ở quy mơ nhỏ, chưa đủ sức vươn

ra hoạt động trên toàn địa bàn và các thị trường khác. Đồng thời, hộ sản xuất

chưa được chú trọng đúng mức đối với vai trò của chế biến; doanh nghiệp chế

biến cũng chưa lựa chọn được hình thức, biện pháp, mơ hình liên kết phù hợp

và hiệu quả, đồng thời chưa đem lại lợi ích hài hồ, bình đẳng giữa doanh

nghiệp với người sản xuất.

+ Cơ chế, chính sách, nhất là chính sách khuyến khích phát triển sản

xuất theo hợp đồng chưa đồng bộ và đủ sức gắn lợi ích của người sản xuất

nơng sản với cơ sở chế biến tiêu thụ sản phẩm.

Chưa có những quy định và cơ sở pháp lý đủ mạnh để xử lý các trường

hợp vi phạm hợp đồng, bảo đảm tôn trọng cam kết trong hợp đồng kinh tế

giữa cơ sở chế biến tiêu thụ với người sản xuất nguyên liệu.

+ Bản thân “mỗi nhà” còn những tồn tại, vướng mắc trong q trình

liên kết. Cụ thể như sau:

 Về phía hộ sản xuất: Trình độ kỹ thuật, năng lực tài chính thấp; bên

cạnh đó lại chưa chú trọng đầu tư thâm canh, chưa làm đúng qui trình kĩ thuật

nên năng suất chất lượng sản phẩm còn chưa đáp ứng được u cầu. Do đó,

chi phí cao, giá thành cao. Mặt khác, nhận thức về kí kết hợp đồng của hộ

nơng dân còn mức độ và tuỳ tiện, nên còn xảy ra trường hợp nông dân không

thực hiện đúng hợp đồng, nếu giá thị trường cao hơn thì bán cho thương lái,

nếu giá thấp thì mới bán cho doanh nghiệp.



89



Bên cạnh đó, còn nhiều hộ sản xuất còn tư tưởng trơng chờ, ỷ lại vào

nhà nước, nên chưa tự huy động nguồn lực để đầu tư phát triển sản xuất và

giảm giá thành;

 Về phía doanh nghiệp: Doanh nghiệp còn cho rằng đầu tư vào sản

xuất nông nghiệp là phải chịu rủi ro lớn, nên chưa mạnh dạn liên kết, hợp tác

với người sản xuất, từ đó khiến lòng dân chưa yên tâm trong sản xuất.

Bên cạnh đó doanh nghiệp ngại đầu tư ứng trước, lại chưa có đủ cán bộ

kỹ thuật để hướng dẫn hộ nơng dân sản xuất (vì sợ gặp rủi ro, khơng thu hồi

được vốn), có khi mất thị trường tiêu thụ sản phẩm hoặc khi giá thị trường

thấp hơn giá hợp đồng đã phá vỡ họp đồng hoặc làm khó, ép cấp, ép giá sản

phẩm của nông dân.

Đối với các doanh nghiệp chỉ muốn ký hợp đồng trực tiếp với người

sản xuất, hoặc với HTX, mà ít quan tâm phối hợp với các nhà khoa học, các

cơ quan quản lí nhà nước, hoặc các đồn thể và nhất là Hội Nơng dân (chủ

yếu sợ chi phí lên cao). Do đó, mối liên kết 4 nhà (giữa doanh nghiệp- Nhà

nước- Nhà khoa học- Nông dân) chưa được vận dụng một cách có hiệu quả.

+ Nhà khoa học: Còn tình trạng các viện, trường, Trung tâm nghiên

cứu, các cơ sở giống, tổ chức khuyến nông... ngại “sát cánh” cùng với người

sản xuất; Một mặt, lợi ích thấp và chưa được phân phối một cách rõ ràng, mặt

khác nguồn vốn và khả năng đầu tư cho công tác nghiên cứu, chuyển giao

khoa học kỹ thuật còn nhiều hạn chế.

+ Nhà nước: chưa thấy rõ về đối tượng cũng như vai trò trong mơ hình

liên kết. Nhìn chung, còn thiếu sự chỉ đạo tập trung của các cấp uỷ Đảng,

chính quyền, sự tham gia hệ thống chính trị trong việc đẩy mạnh chuyển dịch

cơ cấu nông nghiệp, gắn phát triển nông nghiệp với công nghiệp chế biến;

Xây dựng mối quan hệ liên kết chặt chẽ, phù hợp trong điều kiện kinh tế thị

trường, nhất là: công tác quy hoạch vùng sản xuất RHC và chế biến nơng sản



90



còn nhiều yếu kém, hiệu quả thấp; Công tác chỉ đạo, điều hành còn nhiều

lúng túng trong xử lý các vấn đề cụ thể của kinh tế thị trường, nhất là khi giá

cả nông sản xuống thấp; chưa thường xuyên tổng kết, sơ kết các mơ hình,

điển hình nhân tố mới, nhất là mơ hình liên kết nơng - cơng - dịch vụ trên địa

bàn huyện và các cấp chính quyền chưa phát huy được vai trò quản lý, hướng

dẫn; đặc biệt là tổ chức thị trường và tổ chức sản xuất ở nơng thơn.

Đối với các tổ chức cung cấp tín dụng và ngân hàng thực sự chưa mạnh

đầu tư cho sản xuất nông nghiệp, một mặt sợ gặp rủi ro, không thu hồi được

vốn, lãi; mặt khác bản thân các ngân hàng, cơ quan tín dụng khơng đủ lực

lượng để theo sát các hợp đồng sản xuất khi các bên đã ký kết.

3.3. Các yếu tố ảnh hƣởng đến liên kết trong sản xuất và tiêu thụ rau hữu

cơ trên địa bàn huyện Lƣơng Sơn

3.3.1. Trình độ của nền sản xuất

Sản xuất hàng hố càng cao thì nhu cầu liên kết càng lớn. Trên thực tế,

bất cứ nền sản xuất của nước nào mang tính tự cấp, tự túc sẽ khơng xuất hiện

q trình liên kết, hợp tác, nếu có cũng mang tính giản đơn - trong sản xuất

nơng nghiệp thể hiện rất rõ yếu tố này. Ở huyện Lương Sơn, trình độ sản xuất

nơng nghiệp ở các xã, thơn là khác nhau và mức độ hợp tác, liên kết cũng

khác nhau. Thể hiện ở chỗ, các hộ sản xuất rau hữu cơ theo mùa vụ thường có

điều kiện sản xuất khó khăn, manh mún và chủ yếu là sản xuất tự túc, tự cấp

nên tính liên kết kinh tế rất ít và chậm được triển khai, thực hiện trên thực tế;

Trong khi đó, các hộ chuyên sản xuất tập trung được quy hoạch thành một

vùng sản xuất riêng, do đó nguồn nguyên liệu rau được tạo ra lớn, nên họ

luôn có nhu cầu liên kết cao từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm. Qua bảng 3.7,

cho thấy khi các hộ liên kết với với các tư thương để tiêu thụ 124,5 tấn rau

hữu cơ, chiếm tỷ lệ 55,02% và liên kết với doanh nghiệp để tiêu thụ 53,5 tấn

RHC chiếm tỷ lệ 23,64%, còn lại 21,34% là các hộ tự cung tự cấp bán cho



91



người tiêu dùng không thông qua liên kết. Điều này cho thấy việc liên kết đã

thúc đẩy quá trình tiêu thụ sản phẩm nhanh hơn.

3.3.2. Yếu tố thị trường

Nơi nào thị trường hàng hoá phát triển càng mạnh thì quá trình liên kết,

hợp tác càng diễn ra sôi động. Trên thực tế, điều kiện sản xuất ở mỗi vùng,

mỗi địa bàn là khác nhau. Thông qua thị trường để thực hiện giá trị sản xuất

của mình, điều đó quyết định có sản xuất sản phẩm hay không và bán được

giá cao hay thấp? Nơi nào thị trường hàng hố phát triển thấp thì giá bán càng

bất lợi cho nhà sản xuất; Ngược lại, thị trường sơi động, nơng sản hàng hố

giao dịch nhiều, thì nơi ấy tạo lập được giá đúng với bản chất của thị trường.

Để đáp ứng cho yêu cầu của thị trường trong điều kiện của người nơng dân

còn khó khăn, nhất là thiếu các yếu tố “đầu vào, đầu ra” của sản xuất, khi ấy

buộc người nông dân phải thực hiện liên kết với các nhà có điều kiện cung

cấp các dịch vụ “đầu vào, đầu ra”; Càng nhiều hộ có nhu cầu cung cấp dịch

vụ thì quá trình liên kết, hợp tác càng diễn ra sôi động. Lương Sơn là huyện

giáp với thủ đô Hà Nội, đây là thị trường tiêu thụ rộng lớn nên đã có nhiều sự

lựa chọn trong liên kết đối với người nông dân và trong những năm vừa qua

thị trường này đã tiêu thụ một lượng lớn sản phẩm rau từ huyện, điều đó đã

thúc đẩy quá trình phát triển sản xuất của huyện trong những năm gần đây. Cụ

thể được thể hiện qua bảng 3.10.

Bảng 3.10. Thị trƣờng tiêu thụ rau hữu cơ của huyện Lƣơng Sơn



1



Tỉnh Hòa Bình



27



Tỷ lệ

(%)

30,00



2



Thành phố Hà Nội



60



66,67



3



Các tỉnh khác



3



3,33



90



100,00



STT



Địa điểm tiêu thụ sản phẩm



Tổng số



Số hộ



(Nguồn:Tổng hợp từ số liệu điều tra)



92



Quả bảng 3.10 cho thấy, rau chủ yếu được tiêu thụ tại thị trường Hà Nội

chiếm tỷ lệ 66,67%, các tỉnh khác tiêu thụ rau hữu cơ là rất ít chỉ chiếm 3,33%.



70

60

50

40

30

20

10

0

Hòa Bình



Hà Nội



Các tỉnh khác



(Nguồn:Tổng hợp từ số liệu điều tra)

Hình 3.4. Biểu đồ thị trƣờng tiêu thụ rau hữu cơ của huyện Lƣơng Sơn

3.3.3. Áp dụng tiến bộ khoa học công nghệ

Việc áp dụng khoa học kỹ thuật và công nghệ tiên tiến là điều kiện

nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản phẩm, giảm giá thành sản xuất và

đặc biệt tăng năng lực cạnh tranh của sản phẩm hàng hoá trên thị trường.

Muốn vậy, nhà sản xuất, chế biến cũng như các đơn vị lưu thơng hàng hố

buộc phải áp dụng ngày càng mạnh mẽ khoa học kỹ thuật và công nghệ tiên

tiến. Khi đó, yêu cầu liên kết với “nhà khoa học” sẽ ngày càng cao, nhất là

liên kết trong các dịch vụ bảo đảm chất lượng của hàng hoá. Đây là yêu cầu

đòi hỏi tất yếu của các sản phẩm nông nghiệp khi sản xuất ra để tiếp cận được

thị trường.

3.3.4. Yếu tố tổ chức sản xuất

Đây là yếu tố quan trọng để gắn kết các “nhà” trong mối quan hệ liên

kết kinh tế (như liên kết 4 nhà trong sản xuất nông nghiệp). Để phát triển nền

nông nghiệp hàng hố, đòi hỏi các chủ thể trực tiếp sản xuất (nhà nơng) và cả

cơng đoạn của q trình sản xuất - chế biến ra sản phẩm nơng nghiệp có tác



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

và nhà doanh nghiệp năm 2016

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×