Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
của huyện Lương Sơn năm 2016

của huyện Lương Sơn năm 2016

Tải bản đầy đủ - 0trang

64



Sản xuất rau hữu cơ ở Lương Sơn chưa có sự can thiệp lớn của khoa học kỹ

thuật (nhà lưới, nhà kính khép kín) mà phụ thuộc hồn tồn vào điều kiện tự

nhiên, khí hậu và thời tiết. Vì vậy, chủng loại rau thể hiện ở “mùa nào thức ấy”.

Quy trình canh tác hữu cơ còn xa lạ với nhiều hộ sản xuất nên họ chưa thể

mạnh dạn đưa vào sản xuất các cây trồng trái vụ nhằm đa dạng hóa sản phẩm.

Diện tích rau hữu cơ nhỏ nên sản xuất có tính chất tranh thủ sức lao

động, người nơng dân chưa chuyên tâm vào cây rau hữu cơ, vì vậy họ thường

lựa chọn cây “dễ trồng, dễ làm và đúng vụ” để sản xuất.

Hiện nay toàn huyện Lương Sơn trồng khoảng 46 loại rau, chia làm 3

vụ chính: Vụ Thu Đông (từ tháng 9 đến tháng 12), vụ Xuân Hè (từ tháng 1

đến tháng 4) và vụ Hè Thu (từ tháng 5 đến tháng 8), trong đó có một số loại

rau trồng quanh năm như: rau lang, rau ngót, rau dền, cà tím, cà rốt, rau cải...

Do trồng rau theo mùa vụ nên sự chênh lệch năng suất giữa các vụ không

đáng kể, vụ Thu Đông cho năng suất cao hơn các vụ khác khoảng 10-15%.

Chủng loại rau hữu cơ và thời gian gieo trồng trong năm được thể hiện qua

bảng 3.6 và hình 3.1.

Các thành viên nhóm sản xuất rau hữu cơ được tập huấn rất chi tiết từ

khâu lập kế hoạch thời vụ gieo trồng cho từng tháng, cho cả năm. Dựa vào

nhu cầu của công ty, từ đó tính tốn ra diện tích gieo trồng, thời gian gieo

trồng và thời gian thu hoạch cũng như sản lượng dự kiến. Song, không hẳn

lúc nào các hộ cũng đạt được chủng loại và sản lượng mong muốn do còn

chịu sự ảnh hưởng rất lớn của thời tiết, sâu bệnh, giống rau, trình độ canh tác

của từng hộ. Tình trạng sản lượng rau ồ ạt tập trung vào một thời điểm, cùng

một chủng loại thường xuyên xảy ra.



65



Bảng 3.6. Chủng loại rau hữu cơ và thời gian gieo trồng trong năm

Diễn giải

Tháng 1

Tháng 2

Tháng 3

Tháng 4

Tháng 5

Tháng 6

Tháng 7

Tháng 8

Tháng 9

Tháng 10

Tháng 11

Tháng12



Rau ăn lá

4

4

13

15

17

16

16

17

17

16

15

9



Rau ăn củ

4

3

2

2

1

0

0

1

2

2

2

3



Rau ăn quả

6

6

8

8

10

7

5

5

7

9

9

10



Tổng số loại rau

14

13

23

25

28

13

21

23

26

27

26

22



(Nguồn: Phòng Nơng nghiệp và PTNT huyện Lương Sơn)

18

16

14

12



Rau ăn lá

Rau ăn củ



10



Rau ăn quả



8

6

4

2

0

T háng T háng T háng T háng T hána T háng T háng T háng T háng T háng T háng T háng

1

2

3

4

5

6

7

8

9

10

11

12



(Nguồn: Phòng Nơng nghiệp và PTNT huyện Lương Sơn)

Hình 3.1: Biến động sản xuất các rau hữu cơ trong tháng

Tóm lại, qua phân tích cho thấy phát triển sản xuất rau hữu cơ tại huyện

Lương Sơn, tỉnh Hòa Bình thể hiện sự tăng chậm về mặt quy mơ (diện tích,



66



năng suất, sản lượng) chưa có sự đa dạng về cơ cấu (hầu hết là các loại rau

truyền thống của địa phương). Tồn tại thực trạng này là do đặc thù của yêu

cầu canh tác hữu cơ và chưa có sự áp dụng khoa học kỹ thuật lớn vào sản xuất.

3.1.2 Tình hình kênh phân phối rau hữu cơ của huyện Lương Sơn

3.1.2.1. Kênh tiêu thụ

- Người sản xuất: Là các hộ gia đình sản xuất rau hữu cơ.

- Người tiêu dùng: Bao gồm các hộ gia đình, khách hàng của các nhà

hàng, khách sạn, các cá nhân tiêu dùng qua bếp ăn tập thể,...

- Cơ sở thu gom: Tham gia kênh tiêu thụ rau hữu cơ chủ yếu tại huyện

Lương Sơn trong thời gian qua có 4 doanh nghiệp, chiếm 50% sản lượng tiêu

thụ, gồm: Công ty cổ phần Đầu tư Tâm Đạt, Công ty THNNH MTV Kết Nối

Xanh (Greenlink), Công ty TNHH Liên kết Sinh thái Việt Nam (Ecomart),

Công ty TNHH Vinasap Việt Nam (VinaGap),

Tình hình tiêu thụ rau hữu cơ tại huyện Lương Sơn được thực hiện thông

qua 2 kênh khác nhau như:

* Kênh phân phối trực tiếp từ người sản xuất đến người tiêu dùng

Người sản xuất



Người tiêu dùng

(Nguồn:Tổng hợp từ tình hình điều tra thực tế)



Hình 3.2. Kênh tiêu thụ trực tiếp

Với loại kênh này các hộ trồng rau hữu cơ trong huyện thường đem các

sản phẩm của mình ở các chợ, hoặc bán rong bán trực tiếp cho người tiêu dùng

với mức giá thường cao hơn, người trồng rau hữu cơ có cơ hội thu được lợi

nhuận cao hơn, nhưng sẽ tốn nhiều chi phí và lao động. Do vậy loại kênh không

cấp này chỉ phù hợp được với những hộ trồng rau màu quy mô nhỏ và dư thừa

lao động.

* Kênh phân phối gián tiếp qua trung gian



67



Kênh phân phối gián tiếp RHC qua trung gian được thể hiện qua hình

3.3.

Người sản xuất



Cơ sở thu gom



Nhà bán bn



Nhà bán lẻ



Người tiêu dùng

(Nguồn:Tổng hợp từ tình hình điều tra thực tế)

Hình 3.3. Kênh tiêu thụ gián tiếp

Loại kênh này bắt đầu xuất hiện khi người trồng rau hữu cơ nâng quy

mơ sản xuất của mình lên trên 1 sào, họ khơng có đủ điều kiện, hoặc là ngại

đem sản phẩm của mình bán tại các chợ, và chấp nhận một phần giá thấp đi

để có thể bán cùng lúc được nhiều sản phẩm và có được khoản tiền lớn thông

qua đối tượng trung gian. Đối tượng trung gian có thể là nhà bán bn, cơ sở

thu gom đứng lên mua sản phẩm tại ruộng hoặc một địa điểm tập kết nào đó

giúp các doanh nghiệp chế biến trong huyện hay bán cho các nhà bán lẻ tại

các chợ địa phương rồi mới tới tay người tiêu dùng. Trong thực tế hiện nay

của huyện, tỷ lệ người sản xuất bán nông sản qua kênh này là chủ yếu. Mặt

khác người thu gom này có thể bán lại sản phẩm cho các doanh nghiệp chế

biến, hoặc là người tiêu dùng.

Một bất cập vẫn tồn tại là rau hữu cơ đảm bảo VSATTP, ngon hơn nhưng

vẫn còn một lượng lớn (30%) rau không được tiêu thụ với mức giá rau hữu cơ.



68



Điều này được giải thích bởi một số nguyên nhân cơ bản sau đây:

- Giai đoạn đầu của canh tác rau hữu cơ thường cho năng suất thấp, độ

đồng đều không cao, mẫu mã xấu bởi sự xâm hại của sâu bệnh. Dần đến tỷ lệ

rau đạt yêu cầu về quy cách sản phẩm mà công ty đưa ra thấp (trọng lượng, kích

thước, tỷ lệ vết tích của sâu bệnh trên sản phẩm...), do đó lượng rau bán với giá

hữu cơ còn thấp. Phần còn lại các nhóm chỉ có thể bán ra thị trường tự do với

giá rau thơng thường.

- Chủng loại rau q ít, lặp đi lặp lại thường xun (tháng xuất hiện ít nhất

chỉ có khoảng 13 loại, tháng nhiều nhất là 28 tính cả rau thơm và rau gia vị) gây

khó khăn cho cơng ty tiêu thụ do khách hàng có ít sự lựa chọn cho bữa ăn.

- Sự bất cập trong hệ thống phân phối và ảnh hưởng của thói quen, hành

vi mua sắm. Rau hữu cơ được cơng ty đóng gói, dán nhãn và phân phối đến

người tiêu dùng thông qua hệ thống cửa hàng và giao hàng tại nhà; tuy nhiên,

cách phân phối này gặp phải một số hạn chế:

+ Hệ thống cửa hàng bán và giới thiệu sản phẩm còn q ít và đơn điệu.

Mỗi cơ sở chỉ có 1 cửa hàng trưng bày và bán sản phẩm, sản phẩm chủ yếu là

rau hữu cơ mà chưa có thực phẩm hữu cơ khác như thịt, trứng, sữa... Vì vậy,

khách hàng mua được rau hữu cơ lại phải mất công mua thịt, trứng, sữa và các

phụ gia ở nơi khác, sự bất tiện này khiến cho khách hàng không mặn mà với sản

phẩm của cơ sở. Có 2 cửa hàng (của VinaGap và Ecomart) kết hợp bán rau hữu

cơ với các thực phẩm khác để khắc phục sự bất tiện trên nhưng các thực phẩm

còn lại chỉ đạt tiêu chuẩn “thực phẩm an toàn”, điều này tạo ra danh giới “nhập

nhèm” giữa thực phẩm hữu cơ và thực phẩm an toàn và gây hiểu nhầm cho

khách hàng nên không được khuyến khích.

+ Nghiên cứu thói quen và hành vi mua sắm của người tiêu dùng cho

thấy: chỉ 15% người tiêu dùng dựa vào thông tin nguồn gốc sản phẩm và 6%

vào thương hiệu; một lượng nhỏ người tiêu dùng (6%) cho rằng sản phẩm càng



69



đắt thì càng đảm bảo chất lượng; trong khi đa số khách hàng lựa chọn sản phẩm

an tồn thơng qua tin tưởng người bán quen (58,1%) và cửa hàng quen (58%)

chứ không phải siêu thị hay quầy hàng lớn (Nguyễn Minh Hương, 2007). Giao

hàng tận nhà chỉ áp dụng cho khách quen, sau khi đã trực tiếp đến cửa hàng tìm

hiểu và sử dụng sản phẩm, số lượng khách hàng này cũng không nhiều. Như

vậy, số lượng cửa hàng q ít và có nhiều bất cập là nguyên nhân chính dẫn đến

sản lượng rau hữu cơ ở Lương Sơn được cơ sở tiêu thụ còn hạn chế.

Tóm lại, phát triển sản xuất rau hữu cơ tại huyện Lương Sơn, tỉnh Hòa

Bình đã được nâng cao giá trị sản phẩm rõ rệt so với sản xuất thông thường.

Tuy nhiên, cần phải khắc phục tồn tại trong tiêu thụ sản phẩm khi vẫn

còn một lượng lớn rau hữu cơ chưa được tiêu thụ với giá trị tương xứng, góp

phần nâng cao thu nhập cho người sản xuất và khuyến khích mở rộng đầu tư

cho cây rau theo phương thức canh tác hữu cơ trong thời gian tới.

3.1.2.2. Kết quả tiêu thụ

Số lượng sản phẩm rau hữu cơ ngoài phần để lại cho tiêu dùng gia đình

thì phần lớn được bán qua các kênh tiêu thụ khác nhau. Kết quả điều tra cho

thấy, thông thường số lượng sản phẩm rau được bán nhiều nhất là bán qua đối

tượng trung gian, trung bình khoảng trên 60% của tổng khối lượng. Tuy

nhiên, đối với sản phẩm dùng cho xuất khẩu như dưa bao tử xuất khẩu thì

việc bán ở chợ hay qua kênh trung gian là hạn chế hơn, họ thường bán trực

tiếp cho các doanh nghiệp thu mua, chế biến. Đối với từng loại rau, số lượng

cũng như tỷ trọng rau màu được tiêu thụ qua các kênh nhiều hay ít còn phụ

thuộc vào đặc tính của từng loại rau màu và sức thu mua đối với từng kênh

tiêu thụ. Kết quả số lượng, cơ cấu sản phẩm rau màu tiêu thụ qua các kênh

được phản ánh cụ thể qua bảng 3.7.

Một thực tế khác là người nông dân ngại tiếp xúc với các hình thức

giấy tờ văn bản, hợp đồng hay hình thức thu mua qua các đầu mối của doanh



70



nghiệp chế biến, các HTX; Người trồng rau ln có tâm lý sợ các doanh

nghiệp chế biến “lừa” bằng các hình thức hợp đồng. Ngồi ra, còn có ngun

nhân là các hộ nông dân trồng rau đã thỏa thuận hợp đồng với doanh nghiệp

Bảng 3.7. Hình thức phân phối rau hữu cơ của huyện năm 2016

TT

1

2

3

4



Hình thức phân phối

Tiêu dùng nội bộ

Bán trực tiếp cho người tiêu dùng

Bán qua tư thương

Bán trực tiếp cho doanh nghiệp

Tổng



Số lƣợng

(tấn)

2,5

45,7

124,5

53,5

226,2



Cơ cấu

(%)

1,10

20,24

55,02

23,64

100



(Nguồn: Tổng hợp từ số liệu điều tra )

chế biến nhưng đến khi thu hoạch, giá thị trường cao hơn giá đã thỏa

thuận trong hợp đồng, họ lại bị các tư thương mua chuộc, lúc đó họ tìm mọi

cách khơng thực hiện hợp đồng đối với doanh nghiệp chế biến nông sản.

Hoặc trong trường hợp giá thị trường thấp hơn giá thỏa thuận trong hợp đồng

thì các xí nghiệp, doanh nghiệp chế biến tìm cách trì hỗn việc thu mua nơng

sản của các hộ gia đình với rất nhiều lý do, khi đó các sản phẩm rau có nguy

cơ quá lứa cho nên các hộ trồng rau cố gắng bán cho các tư thương, mặc dù

các tư thương luôn ép giá nhưng các hộ vẫn chấp nhận và coi đó là kênh tiêu

thụ an toàn và thuận tiện nhất.

3.2. Thực trạng liên kết trong sản xuất và tiêu thụ rau hữu cơ trên địa

bàn huyện Lƣơng Sơn, tỉnh Hòa Bình

3.2.1. Chủ thể tham gia liên kết

Trong hoạt động liên kết sản xuất và tiêu thụ rau hữu cơ tại Lương

Sơn có sự tham gia của các nhà, nhưng vai trò tham gia quan trọng và là tác

nhân chính đó chính là nhà nơng, nhà doanh nghiệp, bên cạnh đó còn có sự

tham gia của nhà khoa học, nhà nước và một số nhà khác như các tổ chức



71



ngân hàng, tín dụng và các nhà thương lái.

3.2.1.1. Chủ thể tham gia liên kết là hộ nông dân (nhà sản xuất)

Nhà sản xuất ở đây chủ yếu là các hộ gia đình, hộ sản xuất tổng hợp,

các hợp tác xã. Tuy nhiên, sự tham gia của các hộ sản xuất tổng hợp là không

đáng kể. Đặc biệt, khơng hề có sự tham gia của các xã viên hợp tác xã, hoặc

các hợp tác xã với nhau.Người sản xuất thiếu từ kiến thức khoa học kỹ thuật

để ứng dụng vào sản xuất, đến vốn đầu tư; họ thiếu thông tin về thị trường,

thiếu định hướng sản xuất, đặc biệt họ rất thiếu và gặp rất nhiều khó khăn về

thị trường đầu ra của sản phẩm. Họ rất cần có sự liên kết để có thể tạo nên sức

mạnh trong sản xuất, cạnh tranh (liên kết ngang) và tạo nên sự thuận lợi trong

việc tiêu thụ (liên kết dọc).

Tuy nhiên, theo số liệu điều tra cho thấy, hầu hết các hộ xã viên vẫn

sản xuất mang tính tự phát, sản xuất không theo quy hoạch. Đã xuất hiện mối

liên kết ngang giữa các nhà sản xuất, nhưng thay vì sự hợp tác, liên kết có chủ

đích để đáp ứng một nguồn hàng nhất định, thì đó là sự bắt trước nhau, cùng

chạy theo thị trường khi thấy giá bán và lợi nhuận trước đó cao hơn.

Đối với liên kết dọc, kết quả cho thấy, chỉ có từ 50-60% số các hộ sản

xuất trong huyện là có sự liên kết với các doanh nghiệp thu mua, chế biến,

hay các chủ thể khác.

3.2.1.2. Chủ thể tham gia liên kết là doanh nghiệp (nhà doanh nghiệp)

Do đặc điểm hạ tầng giao thơng của huyện chưa phát triển, đường nhỏ,

chưa có đường cao tốc chạy qua chỉ có quốc lộ 6, ô tô có trọng tải lớn rất hạn

chế hoạt động; Tuy huyện có khu cơng nghiệp Lương Sơn hoạt động nhưng

trong doanh nghiệp chế biến tiêu thụ RHC lại chiếm số lượng rất ít. Tham gia

tiêu thụ rau hữu cơ tại huyện Lương Sơn trong thời gian qua gồm có 4 cơ sở

(Công ty cổ phần Đầu tư Tâm Đạt, Công ty THNN MTV Kết Nối Xanh

(Greenlink), Công ty TNHH Liên kết Sinh thái Việt Nam (Ecomart), Công ty



72



TNHH Vinagap Việt Nam (VinaGap). Ngồi ra, rau hữu cơ còn được bán cho

cửa hàng giới thiệu sản phẩm tại chợ Lương Sơn và chợ địa phương khi các

công ty không tiêu thụ hết sản phẩm. Các công ty và cửa hàng giới thiệu sản

phẩm mua rau với giá rau hữu cơ, sản lượng rau được bán tại chợ địa phương

sẽ có mức giá rau thường hoặc thậm chí thấp hơn. Đây thực sự là vấn đề hạn

chế, hạn chế cả trong việc thực hiện chuyển đổi cơ cấu kinh tế đến cả việc

thúc đẩy sản xuất nơng nghiệp nói chung theo hướng sản xuất hàng hoá tập

trung.

Tiêu thụ rau hữu cơ của hộ nông dân với các cơ sở thông qua hình thức

hợp đồng chính thức hoặc hợp đồng miệng.

Hợp đồng pháp lý có thời hạn hợp đồng là 12 tháng. Ngồi ra, một số

cơng ty mua rau của các nhóm qua hợp đồng miệng; hình thức hợp đồng này

phát sinh nhiều bất cập trong quá trình thực hiện, bởi rất khó bắt buộc các bên

thực hiện đúng thỏa thuận, ràng buộc chủ yếu dựa vào uy tín và quan hệ giữa

các bên. Nội dung hợp đồng pháp lý có nêu rõ chủng loại, số lượng, giá cả, quy

cách sản phẩm, thời gian giao nhận và phương thức thanh toán.

3.2.1.3. Chủ thể tham gia liên kết là cán bộ khuyến nông kỹ thuật (nhà khoa học)

Nằm trong tình trạng chung, mạng lưới cơ sở khuyến nông của huyện

Lương Sơn rất mỏng, với đội ngũ 14 cán bộ khuyến nông của huyện, phân bổ

cho 20 xã, trong đó trình độ của cán bộ khuyến nông cũng bị hạn chế. Cán bộ

khuyến nông không thể thường xuyên xuống các xã, ra đồng trực tiếp hướng

dẫn nông dân áp dụng các tiến bộ kỹ thuật. Bên cạnh đó, ở cấp xã nói chung

đều trong tình trạng thiếu cán bộ chuyên trách, phụ trách mảng phát triển

nông nghiệp, nông thôn. Các cán bộ đều là kiêm nhiệm, trình độ chun mơn

thấp, thậm chí chỉ bằng kinh nghiệm mà đi lên. Điều này đã dẫn đến việc chỉ

đạo sản xuất gặp nhiều khó khăn, nhất là trong việc triển khai áp dụng các

công nghệ sản xuất mới.



73



Việc tham gia các hoạt động liên kết giữa các hộ nông dân, hay với các

doanh nghiệp của các nhà khoa học trong thời gian qua là rất hạn chế, thiếu

sự gắn kết.

3.2.1.4. Tổ chức tín dụng, ngân hàng, chính quyền (nhà nước)

Tỉnh Hòa Bình cũng như nhiều địa phương khác trong cả nước đã và

đang hướng đến việc phát triển nền nông nghiệp hữu cơ, tạo ra những sản

phẩm nơng nghiệp sạch, an tồn. Nhiều doanh nghiệp, hộ sản xuất đã đầu tư

vào lĩnh vực nông nghiệp sạch, trong đó tập trung chủ yếu ở huyện Lương

Sơn tiếp vốn cho nơng nghiệp sạch, từ cuối năm 2016 chương trình tín dụng

phục vụ nơng nghiệp sạch của Ngân hàng Nơng nghiệp và Phát triển nơng

thơn Việt Nam (Agribank) chính thức triển khai trên địa bàn.

Với vai trò chủ lực, tiên phong của mình Agribank đã và đang đẩy

mạnh gói tín dụng hướng vào lĩnh vực sản xuất nông nghiệp sạch. Trong thực

tế, nhiều doanh nghiệp, hộ vay vốn từ chương trình này bắt đầu phát huy hiệu

quả, mang lại những tín hiệu khả quan cho nền nơng nghiệp địa phương.

Hướng tới nền nông nghiệp phát triển bền vững, giúp cải thiện thu nhập

cho nông dân, đáp ứng nhu cầu nông sản an toàn của của cộng đồng rất cần

các cơ chế, chính sách trong hỗ trợ các mơ hình sản xuất nông nghiệp hữu cơ,

đặc biệt sớm xây dựng hành lang pháp lý trong công nhận, chứng nhận sản

phẩm nông nghiệp hữu cơ. Sự minh bạch trong sản xuất nông nghiệp hữu cơ

không chỉ giúp sản phẩm hữu cơ khẳng định chất lượng và có chỗ đứng tại thị

trường trong nước mà còn giúp các sản phẩm nơng nghiệp Việt Nam xây

dựng thương hiệu trên thị trường thế giới. Tuy vậy, việc vay vốn từ ngân hàng

vẫn còn một số vấn đề tồn tại khiến người dân chưa mặn mà trong việc thực

hiện liên kết đó là: Thủ tục hành chính trong vay vốn rườm rà, lãi suất cao,...

Cùng với đó nhiều ngân hàng cũng chưa muốn liên kết với người sản xuất

RHC vì sợ rủi ro trong quá trình sản xuất.



74



3.2.2. Thực trạng liên kết trong sản xuất và tiêu thụ rau hữu cơ

Qua phân tích tình hình sản xuất và tiêu thụ rau hữu cơ của huyện trong

3 năm qua, phần nào đã cho thấy, từ khâu sản xuất đến khâu tiêu thụ, người

sản xuất vẫn hoàn toàn là người bị động, hoạt động của họ phần lớn vẫn mang

tính “tự thân vận động” là chính. Mặc dù trong thời gian qua, người sản xuất

ln có được lợi nhuận đáng kể, tuy nhiên vẫn tiềm ẩn nhiều vấn đề, sản xuất

khơng mang tính ổn định, nhất là khi có biến động giá cả thị trường; Mối liên

kết giữa người sản xuất với nhau, hay với các doanh nghiệp và các chủ thể

khác đã có xuất hiện nhưng chưa thực rõ và chưa thực sự tạo ra sức mạnh

trong sản xuất cũng như thuận lợi trong tiêu thụ. Chúng ta cần biết rằng: sự

tham gia liên kết của các chủ thể như thế nào? nó phụ thuộc vào cơ chế hay

đối tượng sản xuất? và đâu là nguyên nhân làm cho các hoạt động liên kết đó

chưa được tốt?...

Trong những năm thực hiện Quyết định 80 của Thủ tướng Chính Phủ ở

huyện Lương Sơn cho thấy, hướng cơ bản trong hoạt động liên kết sản xuất

và tiêu thụ thông qua hợp đồng theo 2 hình thức liên kết chính đó là: hình

thức liên kết ngang và hình thưc liên kết dọc. Với hai hình thức liên kết trên

thì hình thức liên kết dọc là chính và được cụ thể hơn, phát huy được vai trò

hơn trong hoạt động sản xuất - tiêu thụ rau hữu cơ của huyện và đã góp phần

nâng cao điều kiện sống cho người dân nông thôn và phát triển kinh tế của

Huyện, đồng thời hình thức này có được sự tham gia của nhiều nhà.

3.2.2.1. Hình thức liên kết ngang

Liên kết ngang, tại huyện Lương Sơn qua điều tra cho thấy hình thức

liên kết ngang này chủ yếu là liên kết giữa người sản xuất - người sản xuất;

liên kết giữa doanh nghiệp chế biến tiêu thụ - doanh nghiệp khác.

Với hình thức liên kết người sản xuất - người sản xuất, thì tổ chức sản

xuất chủ yếu là hộ gia đình, bên cạnh đó là sự thiếu định hướng trong sản



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

của huyện Lương Sơn năm 2016

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×