Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
sản xuất rau hữu cơ của huyện Lương Sơn

sản xuất rau hữu cơ của huyện Lương Sơn

Tải bản đầy đủ - 0trang

56



lao động, lãi của họ chỉ được tính khi đã trừ đi khoản chi phí này.

Do sản xuất rau hữu cơ khơng được sử dụng phân bón hóa học, vì vậy

cần phải có một lượng phân chuồng rất lớn để cung cấp chất dinh dưỡng cho

cây trong suốt quá trình sinh trưởng, do đó chi phí cho phân chuồng chiếm tỷ

lệ lớn nhất trong chi phí sản xuất.

Sau khi điều tra, phỏng vấn, thu thập số liệu chúng tôi đã tổng kết được

chi phí sản xuất rau bình qn cho 1sào/vụ trồng rau hữu cơ của hộ gia đình tại

địa điểm nghiên cứu. Kết quả quả được thể hiện ở bảng 3.2.

Bảng 3.2: Chi phí đầu tƣ bình qn trồng 1 sào/vụ bắp cải hữu cơ

Chỉ tiêu



TT



ĐVT Khối lƣợng



Đơn giá



Thành tiền



Cơ cấu



1



Giống



Cây



1.250



(đ)

300



(đ)

375.000



(%)

12,73



2



Phân ủ/phân chuồng



Kg



1.000



750



750.000



25,46



Lít



8



20.000



160.000



5,43



3



Phun thuốc thảo mộc ít

nhất 3 lần/vụ



4



Nhiên liệu



60.500



2,05



5



Chi phí khác



100.000



3,39



6



Chi phí lao động



1.500.000



50,93



2.945.500



100,00



Tổng cộng



Cơng



10



150.000



(Nguồn: Tổng hợp từ số liệu điều tra hộ nơng dân)

Phân bón cho trồng rau được các hộ tận dụng từ nguồn chăn nuôi gia

súc, gia cầm tại gia đình. Tuy nhiên, với quy mô chăn nuôi nhỏ, lượng phân

chuồng không chỉ dành riêng cho trồng rau mà cho cả trồng lúa, ngơ, khoai,

vì vậy người trồng rau phải mua phân chuồng từ các hộ, trang trại chăn nuôi

lợn, gà ở địa phương và có thể ở các nơi khác. Do yêu cầu lượng lớn phân

chuồng để cung cấp chất dinh dưỡng cho cây rau nên chi phí phân chuồng;

chiếm tới 25,46% tổng chi phí trồng rau. Ngược lại, do áp dụng biện pháp

bảo vệ thực vật bằng thiên địch và thuốc thảo mộc (tự sản xuất bằng dung

dịch chứa rượu, tỏi, ớt...) nên chi phí cho bảo vệ thực vật rất nhỏ là 5,43%



57



tổng chi phí.

Chi phí giống chiếm tỷ lệ cũng khá cao sau phân ủ, chiếm 12,73%, lý

do là các hộ sản xuất nắm kỹ thuật chưa tốt, hiện tượng cây giống sau khi

gieo trồng bị chết diễn ra khá phổ biến, hộ sản xuất phải gieo trồng lại nhiều

lần khiến cho chi phí giống cao hơn. Đáng chú ý là canh tác hữu cơ khơng tốn

chi phí cho phân hóa học, vì vậy đã giảm được một phần chi phí.

Các chi phí khác cũng rất thấp như: Chi phí nhiên liệu cho máy bơm và

máy cày cũng chỉ chiếm 2,05%; chi phí khác chiếm 3,39% tổng chi phí.

Nếu sản xuất tổng hợp các hộ phải mất một khoản chi phí th nhân

cơng lao động chiếm tới 50,93% tổng chi phí.

Tổng cộng chi phí đầu tư 1 sào/vụ bắp cải hữu cơ là 2.945.500 đồng.

Như vậy, qua đó ta thấy canh tác hữu cơ có chi phí đầu tư là thấp, tuy nhiên

công lao động bỏ ra lại nhiều, tập trung ở các khâu ủ phân, chế tạo thuốc thảo

mộc (từ dung dịch gừng, tỏi, ớt...), làm cỏ và bắt sâu bằng tay.

3.1.1.3. Tình hình tổ chức sản xuất

* Tổ chức sản xuất rau hữu cơ

Các nhóm sản xuất rau hữu cơ tại các xã được tổ chức sản xuất theo 2

hình thức sau đây:

a) Nhóm sở thích

Trên cơ sở các học viên nơng dân được tập huấn và có nhu cầu sản xuất

nông nghiệp hữu cơ. Hội nông dân huyện Lương Sơn đại diện cho cơ quan

nhà nước tập hợp những học viên nông dân tiên tiến ở cùng một địa phương,

mong muốn làm giàu để thành lập các nhóm sở thích.

Diện tích đất sản xuất chủ yếu được hình thành từ dồn điền, đổi thửa

giữa thành viên trong nhóm với các hộ dân khác hoặc kết hợp đấu thầu, chỉ có

hai nhóm được trồng rau hữu cơ trên diện tích đất cơng ích của xã (xóm Sòng

và Đồng Tâm). Diện tích ruộng rau nhỏ, bình qn diện tích đất trồng rau của



58



mỗi thành viên còn rất thấp và hình thành tự phát, chứng tỏ sản xuất rau hữu

cơ chưa có sự ổn định, người sản xuất chưa yên tâm đầu tư sản xuất để đem

lại thu nhập cao. Tuy nhiên, nhóm cũng nhận được sự hỗ trợ chi phí thuê đất

từ Công ty cổ phần đầu tư Tâm Đạt với mức hỗ trợ là 4 triệu đồng/ha/năm.

Phần hỗ trợ này tuy còn nhỏ song đã góp phần giảm bớt chi phí cho nhóm

trồng rau hữu cơ, khuyến khích các thành viên mạnh dạn đấu thầu mở rộng

diện tích sản xuất.

Các nhóm sở thích có chung kế hoạch sản xuất, chung giống, chung

phân ủ, chung thuốc thảo mộc và chung thị trường.

- Tình hình tiêu thụ rau của các nhóm:

Tiêu thụ rau hữu cơ của các nhóm thơng qua hình thức hợp đồng chính

thức hoặc hợp đồng miệng.

Hợp đồng chính thức gồm 2 dạng: Hợp đồng kinh tế và Hợp đồng ghi

nhớ; cả 2 đều có thời hạn hợp đồng là 12 tháng. Ngồi ra, một số cơng ty mua

rau của các nhóm qua hợp đồng miệng, hình thức hợp đồng này phát sinh

nhiều bất cập trong quá trình thực hiện, bởi rất khó bắt buộc các bên thực hiện

đúng thỏa thuận, ràng buộc chủ yếu dựa vào uy tín và quan hệ giữa các bên.

Nội dung hợp đồng kinh tế có nêu rõ chủng loại, số lượng, giá cả, quy cách

sản phẩm, thời gian giao nhận và phương thức thanh toán.

Một số nội dung ghi trong hợp đồng kinh tế được thể hiện qua bảng 3.3.

Giá thu mua của các công ty khác nhau, dao động từ 14.000 - 16.500

đồng/kg đối với các loại rau, củ có trọng lượng nặng và dao động từ 13.000 36.000 đồng/kg đối với loại rau có trọng lượng nhẹ hơn như rau ngót, rau xà

lách, rau húng quế, hành lá... So sánh với giá cả thị trường, vào thời điểm lúc

chính vụ giá công ty luôn cao hơn giá thị trường (do lượng cung trên thị

trường nhiều) nhưng vào đầu vụ và cuối vụ, có thể giá mua của cơng ty tương

đương giá thị trường hoặc thấp hơn (do lượng cung ít).



59



Bảng 3.3. Một số nội dung ghi trong hợp đồng

Điều khoản



STT



Nội dung



1



Giá cả



14.00-16.500 đ/kg



2

L

3



Số lượng và chủng loại



Tùy theo đơn hàng



Thanh toán



1 lần/tháng



4



Giao hàng



Giao hàng tận công ty

- Rau tươi, không được quá già hoặc bị rũ do



5



Quy cách sản phẩm



6



Thời hạn hợp đồng



7



Khác



nhiều nước; khơng bị úng thối.

- Diện tích bị sâu ăn chiếm không quá 10% bề

mặt lá.

- Rau ăn củ phải cắt bỏ rễ, những phần thân lá

già chiếm khơng q 10% và sạch bùn đất

- Khơng có mùi lạ, không lẫn tạp chất, các cây

cỏ dại

12 tháng

Sản phẩm phải đáp ứng được 24 tiêu chuẩn

của sản xuất hữu cơ



(Nguồn:Tổng hợp từ số liệu điều tra các công ty)

- Hiệu quả sản xuất rau hữu cơ của nhóm:

Mặc dù có cùng chung một quy trình sản xuất, giá bán tương đương

nhưng có sự chênh lệch về trình độ điều hành, quản lý, lập kế hoạch sản xuất

nên kết quả đạt được của các nhóm rất khác nhau.

Nhóm đạt kết quả doanh thu/đơn vị diện tích cao nhất là xóm Mỏ (đạt

38.235 đồng/m2) và cũng là nhóm có lợi nhuận/đơn vị diện tích cao nhất (đạt

27.036 đồng/m2).

b) Hợp tác xã (HTX) nông sản hữu cơ Lương Sơn

HTX nông sản hữu cơ Lương Sơn là tổ chức tiêu biểu, tiên phong

chuyển từ mơ hình nhóm sở thích (nhóm xóm Mòng) sang mơ hình hợp tác xã

kiểu mới hoạt động theo Luật HTX năm 2012.

Thị trường tiêu thụ sản phẩm của HTX là Thành phố Hà Nội và địa



60



phương. Thị trường Hà Nội được phân phối qua Công ty Tâm Đạt với tần

suất giao hàng 3 lần/tuần.

Kế hoạch sản xuất và kinh doanh của HTX giai đoạn 2011-2016 được

chia làm 2 giai đoạn. Giai đoạn 1, từ năm 2011-2013, chủ yếu tập trung vào

sản xuất, làm dịch vụ đầu vào - đầu ra cho xã viên và làm một số dịch vụ cho

mạng lưới các nhóm sản xuất rau hữu cơ trong huyện Lương Sơn. Giai đoạn

2, từ năm 2014-2016, mở rộng thêm dịch vụ khuyến nông và tư vấn phát triển

nông sản hữu cơ (dịch vụ đào tạo kỹ thuật sản xuất; tư vấn thành lập và quản

lý các hình thức tổ chức sản xuất; cung cấp dịch vụ thông tin thị trường) và

dịch vụ giám sát chất lượng; sản phẩm hữu cơ (giám sát trên đồng ruộng, sổ

ghi chép của người sản xuất; các dịch vụ liên quan đến giám sát và quản lý

chất lượng) về cơ bản đến nay HTX vẫn chưa thực hiện được kế hoạch đề ra.

HTX mới chỉ tập trung vào khâu hỗ trợ kỹ thuật và mở rộng diện tích cho xã

viên, HTX có thêm dịch vụ điều phối mua bán rau giữa công ty và các nhóm

(cơng ty gửi đơn đặt hàng cho HTX, sau đó HTX liên hệ với các nhóm để

mua hàng trực tiếp, sau đó vận chuyên bằng xe máy hoặc xe thơ sơ đến điểm

giao hàng). Do chưa có kinh nghiệm trong điều hành, quy mơ sản xuất còn

nhỏ nên sự hoạt động của HTX vẫn mang dáng dấp của phương thức hoạt

động nhóm sở thích như trước đây.

* Cơng tác tập huấn và hỗ trợ kỹ thuật sản xuất

Sản xuất rau hữu cơ đang là hướng đi mới của người nơng dân Việt

Nam nói chung và của người dân huyện Lương Sơn nói riêng. Trong q

trình sản xuất, người nơng dân ngồi việc được hỗ trợ từ các cơ chế, chính

sách của nhà nước để phát triển mở rộng mơ hình sản xuất mà còn được các

dự án hỗ trợ, điển hình là “phát triển Nơng nghiệp hữu cơ” được tài trợ bởi

Tổ chức Phát triển Nông nghiệp Châu Á, Đan Mạch (ADDA) – Tổ chức Phi

chính phủ của Đan Mạch, phối hợp thực hiện với Hội Nông dân Việt Nam từ



61



tháng 11/2005 đến tháng 10/2012 tại các tỉnh phía bắc bao gồm: Hà Nội,

Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Bắc Giang, Hải Phòng, Hòa Bình, Tun Quang, Lào

Cai, Hà Tĩnh. Từ tháng 11/2010 đến tháng 12/2012, Dự án lựa chọn các

nhóm nơng dân tiềm năng, thực sự mong muốn và quyết tâm làm nơng

nghiệp hữu cơ tại Sóc Sơn (Hà Nội) và Lương Sơn (Hòa Bình) để tiếp tục

củng cố và phát triển sản xuất hữu cơ một cách bền vững.

Được sự giúp đỡ và hướng dẫn của dự án ADDA Đan Mạch, Hội Nơng

dân huyện Lương Sơn đã tích cực tuyên truyền vận động đến tổ chức Hội và hội

viên nơng dân trong huyện, q trình thực hiện thơng qua các kỳ sinh hoạt chi

hội, tổ hội, các câu lạc bộ, phổ biến mục đích, ý nghĩa của mơ hình sản xuất

nơng nghiệp hữu cơ. Kết quả đã tun truyền triển khai đến 20/20 cơ sở Hội, mơ

hình đã làm chuyển biến nhận thức của hội viên trong sản xuất nông nghiệp.

Trong thời gian qua, huyện Lương Sơn đã tổ chức được 8 lớp đào tạo

nông dân theo chương trình sản xuất rau hữu cơ, thời gian học 17 tuần/lớp, mỗi

lớp là 30 học viên. Đào tạo theo phương pháp học lý thuyết kết hợp với thực

hành ngay trên ruộng. Mỗi khoá học, học viên thực hiện đầy đủ theo quy chế

của lớp, nắm vững kiến thức và biết áp dụng vào thực tế sẽ được cấp chứng chỉ

nghề; đồng thời chọn ra các học viên tiêu biểu xuất sắc, tích cực, có sở thích

làm nơng nghiệp hữu cơ, tự nguyện tham gia các hoạt động nhóm sở thích.

3.1.1.4. Diện tích, năng suất và sản lượng rau hữu cơ

Điều kiện chất đất và thời tiết của huyện rất phù hợp với việc phát triển

sản xuất rau hữu cơ, cùng với việc ứng dụng các công nghệ giống, kỹ thuật

mới vào sản xuất do vậy diện tích, năng suất và sản lượng rau hữu cơ của

huyện nhìn chung khá ổn định và tăng hàng năm. Diện tích, năng suất và sản

lượng rau hữu cơ được thể hiện qua bảng 3.4.

- Về diện tích: Nhìn bảng 3.4 cho thấy, qua 3 năm (2014-2016) diện

tích gieo trồng có xu hướng tăng nhanh lần lượt là 10,62 ha; 12,07 ha và



62



22,15 ha. Năm 2016 tăng gấp 2,08 lần so với năm 2014. Nguyên nhân diện

tích tăng lên là do nhu cầu của thị trường ngày càng lớn về sản phẩm rau hữu

cơ, đồng thời huyện có chủ trương mở rộng diện tích rau hữu cơ trong vùng

quy hoạch.và người dân nhận thức được tầm quan trọng của việc sản xuất rau

hữu cơ vừa tạo thêm cơng ăn việc làm mà còn tăng thêm thu nhập cho gia đình.

Bảng 3.4. Diện tích, năng suất và sản lƣợng rau hữu cơ

của huyện Lƣơng Sơn



2014



10,26



Năng suất

(tạ/ha)

60,17



2015



12,07



72,84



87,92



2016



22,15



102,13



226,21



Năm



Diện tích (ha)



Sản lƣợng

(tấn)

61,73



(Nguồn: Phòng Nơng nghiệp và PTNT huyện Lương Sơn)

- Về năng suất: Năng suất là tiêu chuẩn phản ánh tổng hợp nhất hiệu

quả của hoạt động sản xuất. Năng suất trở thành nhân tố quan trọng nhất đánh

giá khả năng phát triển sản xuất qua các thời kỳ. Để đánh giá được thực trạng

phát triển sản xuất rau hữu cơ của huyện Lương Sơn ta phải đánh giá được

năng suất sản xuất qua các thời kỳ.

Cùng với sự gia tăng của diện tích, trình độ canh tác, kỹ thuật sản xuất

nâng cao thì năng suất rau của huyện cũng không ngừng gia tăng qua 3 năm.

Năng suất rau hữu cơ của huyện Lương Sơn trong những năm gần đây đang

trong giai đoạn phát triển mạnh mẽ được thể hiện năm 2014 đạt 60,17 tạ/ha tăng

lên 102,13 tạ/ha năm 2016 (tăng 1,7 lần so với năm 2014). Nguyên nhân là do

người dân được tập huấn, hướng dẫn thực hiện đúng kỹ thuật và đúng quy trình

trồng rau hữu cơ. Ngoài ra, giống cùng với thời tiết cũng là yếu tố làm tăng

năng suất của huyện.

- Về sản lượng: Sản lượng năm 2014 đạt 61,73 tấn tăng lên 226,21 tấn

năm 2016 tăng 162,31 tấn. Ngồi việc do diện tích trồng tăng lên mà nguyên



63



nhân tăng sản lượng còn phụ thuộc rất lớn vào yếu tố giốn, thời tiết và kỹ

thuật chăm, bón của người dân.

* Diện tích sản xuất rau hữu cơ của các xã trên địa bàn huyện

Lương Sơn

Toàn huyện Lương Sơn có một thị trấn và 21 đơn vị hành chính đã có

11 xã tham gia sản xuất rau hữu cơ. Ngoài một số xã chuyên sản xuất rau như

Thành Lập, Hợp Hòa, Cư Yên, Thị Trấn Lương Sơn, Hồ Sơn,... các xã còn

lại chủ yếu sản xuất rau vào vụ đơng. Diện tích trồng rau hữu cơ tại các xã

của huyện Lương Sơn năm 2016 được thể hiện qua bảng 3.5.

Bảng 3.5. Diện tích, sản lƣợng trồng rau hữu cơ

của huyện Lƣơng Sơn năm 2016

TT

1

2

3

4

5

6

7



Xã trồng rau hữu cơ

Thành Lập

Hợp Hòa

Thị trấn Lương Sơn

Cư n

Hồ Sơn

Cao Răm

Nhuận trạch

Tổng



Diện tích

(ha)



Sản lƣợng

(tấn)



Tỷ trọng

(%)



28,15

12,42

90,81

40,54

6,01

2,71

33,64

14,90

10,22

4,51

22,34

2,71

35,04

14,90

226,21

100

22,15

(Nguồn: Phòng Nơng nghiệp và PTNT huyện Lương Sơn)

2,75

8,98

0,6

3,3

1,0

2,12

3,40



Qua bảng 3.5cho thấy, diện tích trồng rau của các xã còn manh mún,

diện tích tập trung trồng rau hữu cơ của các xã khơng đều, ba xã có diện tích

đất trồng rau hữu cơ lớn nhất là xã Hợp Hòa, Nhuận Trạch và Cư Yên lần

lượt là chiếm 40,54%, 15,34%, và14,90%; thấp nhất là Thị trấn Lương Sơn

với 0,6 ha đạt tỷ lệ 2,71%.

* Chủng loại và thời vụ sản xuất rau hữu cơ

Chủng loại rau hữu cơ rất hạn chế và mang đậm tính chất mùa vụ, do

một số nguyên nhân sau đây:



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

sản xuất rau hữu cơ của huyện Lương Sơn

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×