Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ - 0trang

36



đất tiếp xúc với đồng bằng, với những cánh đồng nhỏ bằng phẳng, diện tích

đất đồng bằng trên địa bàn huyện lên tới trên 45%. Như vậy, địa hình của

Lương Sơn có thể hệ thống thành những dạng: (1) vùng địa hình đồi núi: bao

gồm vùng núi cao xen kẽ đồi thấp thuộc dãy Trường Sơn, có độ dốc trung

bình 20-30%, trong đó có nhiều dãy núi thấp chạy dài xen kẽ các khối núi đá

vôi với những hang động hoặc có nhiều khe suối, hồ tự nhiên, hồ nhân tạo

đan xen tạo nên cảnh sắc đẹp; (2) Vùng địa hình bằng phẳng, bao gồm chủ

yếu ở phía Bắc QL6, các xã phía Nam huyện, độ dốc khoảng 3-5%, cao độ

trung bình khoảng 15-30m; (3) Khu vực trũng thấp ven sơng Bùi, phía Nam

quốc lộ 6 có cao độ dao động từ 10-12m.

Dựa trên yếu tố địa hình kết hợp với vị trí địa lý, Lương Sơn có thể

chia thành 4 tiểu vùng:

(1) Tiểu vùng phía Bắc huyện bao gồm Thị trấn Lương Sơn và các xã:



Lâm Sơn, Hoà Sơn, Tân Vinh, Nhuận Trạch: có địa hình cao nhất, gồm

những dãy núi cao xen kẽ đồi thấp hình bát úp, ở giữa là thung lũng rộng

bằng phẳng, có hệ thống sông (sông Bùi) và hồ, tạo nên cảnh quan thiên

nhiên đẹp, phong phú. Vùng này có vị trí địa lý thuận lợi, gần Hà Nội, có

đường QL 6 chạy qua, là đầu mối giao thơng quan trọng của tỉnh Hồ Bình và

vùng Tây Bắc với vùng Hà Nội.

(2) Tiểu vùng Đông Nam huyện, bao gồm các xã: Thành Lập, Trung Sơn,



Liên Sơn, Tiến Sơn, Cao Thắng, Cao Dương, Thanh Lương: địa hình cao, có

nhiều núi đá vơi, núi đất, xen kẽ hang động nhũ đá; vị trí địa lý giáp Hà Nội, có

trục đường QL 21 (nay là đường Hồ Chí Minh chạy dài men theo các xã).

(3) Vùng Tây Nam huyện bao gồm 4 xã: Trường Sơn, Cao Răm, Cư n,



Hợp Hồ: địa hình cao, nhiều đồi núi thấp; đây thuộc vùng sâu, xa của huyện, hệ

thống giao thông khơng thuận lợi. Khơng những thế, phía cuối vùng (cao Răm,



37



Trường Sơn) gần như bị “chặn” do bị che chăn bởi hệ thơng núi đất.

(4) Vùng phía Nam huyện bao gồm các xã: Tân Thanh, Hợp Châu,



Long Sơn, và Hợp Thanh: vùng đất thấp, đồng bằng; đây là vùng có vị trí địa

lý quan trọng về an ninh quốc phòng.

Yếu tố địa hình nói trên đã tạo cho Lương Sơn khả năng phát triển một

nền kinh tế tổng hợp cả nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi), lâm nghiệp, kinh

tế vườn đồi, công nghiệp vật liệu xây dựng, thương mại dịch vụ, du lịch sinh

thái, nghỉ dưỡng.

2.1.1.3. Khí hậu thủy văn

Lương Sơn nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung

bình là 230C. Lượng mưa trung bình năm khoảng 1.769,50 mm nhưng phân

bố không đều, mưa nhiều từ tháng 5 đến tháng 10, tập trung vào các tháng 7,

8, 9. Từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau lượng mưa thường khơng đáng kể. Độ

ẩm trung bình năm là 84,5%, và sự chênh lệch giữa các tháng khá lớn, tháng

cao nhất (tháng 3) là 90% và tháng thấp nhất (tháng 12) là 30%.

Chế độ thuỷ văn trên địa bàn huyện được chi phối bởi hệ thống sông,

suối và hồ đập. Sông Bùi là con sông nhỏ, ngắn, lại dốc, có chiều dài 12km,

bắt nguồn từ dãy núi Trường Sơn, chảy qua xã Cao Răm, Tân Vinh, và Thị

trấn Lương Sơn, sau đó chảy vào sơng Đáy tại huyện Chương Mỹ (Hà Nội).

Sông Bùi ảnh hưởng quan trọng đối với hiện tượng thuỷ văn của các xã phía

Bắc huyện. Phía Nam huyện có sơng Song Huỳnh chảy qua địa phận hai xã

Cao Thắng, Cao Dương, có độ dài khoảng 6 km, góp phần cung cấp nguồn

nước mặt cho các xã khu vực này. Trên địa bàn huyện có 6 hồ và khoảng 15

con suối, đây là nguồn thuỷ văn quan trọng cung cấp cho sản xuất và đời sống

sinh hoạt của dân cư.

Điều kiện khí hậu, thuỷ văn, sơng ngòi đã tạo cho Lương Sơn những

thuận lợi trong phát triển nơng nghiệp, đa dạng hố các loại vật ni, cây



38



trồng, thâm canh tăng vụ và phát triển lâm nghiệp. Hệ thống sông suối, hồ

đập không những là nguồn tài nguyên cung cấp nước cho sản xuất và đời

sống nhân dân mà còn có tác dụng điều hồ khí hậu, cải thiện môi trường sinh

thái và phát triển nguồn lợi thuỷ sản.

2.1.1.4. Tài nguyên

* Tài nguyên đất đai

Xét về tính chất đất: đất đai của huyện Lương Sơn được chia làm nhiều

loại có nguồn gốc phát sinh khác nhau, trong đó, các loại chính là:

- Đất đỏ vàng phát triển trên đá phiến thạch sét, đất đỏ vàng biến đổi



do trồng lúa. Loại đất này chiếm tỷ trọng cao nhất và phân bố ở khắp các xã

trong huyện, trừ 5 xã vùng phía Nam huyện, nhiều nhất là ở các xã vùng Tây

Nam. Loại đất này phù hợp với cây ăn quả, cây công nghiệp và trồng rừng.

- Đất đồng bằng, đất phù sa sông Bùi, sông Song Huỳnh và các con



suối nhỏ; đất thung lũng do sản phẩm dốc tụ. Loại đất này chủ yếu tập trung ở

vùng thấp phía Bắc, Nam. Loại đất này thích hợp trồng lúa, rau và hoa màu.

- Đất xói mòn trơ sỏi đá do hậu quả của chặt phá rừng trước đây, chủ



yếu tập trung các xã vùng Tây Nam, Đông Nam. Loại đất này, tầng canh tác

mỏng, khó khai thác để sản xuất nơng nghiệp. Tuy khơng có khả năng khai

thác để phát triển sản xuất nơng nghiệp nhưng có thể sử dụng cải tạo để trồng

cỏ, phục vụ cho phát triển chăn ni đại gia súc.

Đất đai ở Lương Sơn có độ mùn khá, độ pH phổ biến ở mức 4,5-5,5,

phù hợp với nhiều loại cây trồng.

Tính chất đất đai khác nhau được phân bố trên các vùng khác nhau sẽ

tạo điều kiện để Lương Sơn có thể phát triển nơng nghiệp theo hướng chun

mơn hố quy mơ lớn theo vùng để có một nền nơng nghiệp đa dạng hố trên

tồn huyện.

Xét về quỹ đất. Tổng diện tích đất tự nhiên năm 2016 là 37.707,79 ha,

được thể hiện qua bảng 2.1.



39



Bảng 2.1. Cơ cấu đất đai huyện Lƣơng Sơn - Hòa Bình năm 2016

Chỉ tiêu



TT







Tổng diện tích tự nhiên



Diện tích



Cơ cấu



(ha)



(%)



37.707,79



100,00



1



Đất nông nghiệp



NNP



23.571,73



62,51



1.1



Đất sản xuất nông nghiệp



SXN



6.290,93



16,68



1.2



Đất lâm nghiệp



LNP



17.152,93



45,49



1.3



Đất nuôi trồng thuỷ sản



NTS



127,87



0,34



2



Đất phi nông nghiệp



PNN



8.390,06



22,25



2.1



Đất khu dân cư



KDC



3.200,16



8,49



2.2



Đất chuyên dùng



CDG



5.189,90



13,76



3



Đất chưa sử dụng



CSD



5.746,00



15,24



3.1



Đất bằng chưa sử dụng



BCS



2351,60



6,24



3.2



Đất đồi núi chưa sử dụng



DCS



3.394,40



9,00



(Nguồn: Phòng TN-MT huyện Lương Sơn)

Qua bảng 2.1 cho thấy, về diện tích:

(1) Đất lâm - nơng nghiệp chiếm tỷ trọng cao nhất, thể hiện khả năng



về phát triển lâm nghiệp và nông nghiệp ở huyện. Đất nông nghiệp tập trung

nhiều ở vùng Bắc và phía Nam, còn đất lâm nghiệp tập trung nhiều ở vùng

Tây Bắc. Đây là điều kiện tốt để hình thành đặc trưng nơng nghiệp của mỗi

vùng trong huyện.

(2) Diện tích đất chuyên dùng và đất ở chiếm tỷ trọng thấp, thể hiện sự



phát triển chưa mạnh của các ngành công nghiệp, dịch vụ cũng như q trình

đơ thị hố còn chậm.

* Tài ngun khống sản: Trên địa bàn huyện Lương Sơn có các loại

khống sản trữ lượng lớn đó là: đá vơi, đá xây dựng, đất sét, đá Bazan, quặng

đa kim.

* Tài nguyên nước: Lương Sơn được cung cấp chủ yếu bằng 3 nguồn

chính: nước ngầm, nước mặt, và nước mưa tự nhiên.



40



Bên cạnh đó, huyện cũng là nơi có tiềm năng phát triển du lịch danh

lam thắng cảnh, tiềm năng du lịch văn hố, lịch sử. Huyện có nhiều danh lam

thắng cảnh, di chỉ khảo cổ học, hệ thống hang động, núi đá tự nhiên, đa dạng

như: hang Trầm, hang Rồng, mái đá Diềm, núi Vua Bà, động Đá Bạc, Động

Long Tiên, động Mầu... Lương Sơn cũng là một huyện có nguồn tài nguyên

du lịch văn hoá vật thể và phi vật thể lớn.

2.1.2. Các đặc điểm kinh tế xã hội

2.1.2.1. Dân số, lao động

Dân số toàn huyện năm 2016 là 99.658 người, tổng số hộ là 22.551 hộ.

Số người trong độ tuổi lao động là 46.768 người, chiếm 46,93% dân số, trong đó

lao động trong độ tuổi trong lĩnh vực nơng nghiệp là 43.118 người, chiếm 92,2%

số người trong độ tuổi lao động. Dân tộc sinh sống chủ yếu là dân tộc Mường,

Kinh, Dao. Bình qn mỗi hộ có từ 4 -5 người, tuy nhiên số lao động bình quân

trong mỗi hộ tồn huyện chỉ là 2,07 lao động/hộ.

Tình hình về dân số, lao động huyện Lương Sơn năm 2016được thể hiện

ở bảng 2.2.

Lương Sơn là huyện đông dân, tốc độ tăng trưởng dân số nhanh hơn

mức bình quân chung của tỉnh. Đây là một thuận lợi về khả năng cung cấp lực

lượng lao động cho phát triển kinh tế - xã hội của huyện, cũng như tạo ra một

thị trường tiêu thụ hàng hoá tiêu dùng rộng lớn so với các địa phương khác

trong tỉnh. Tuy vậy, nó cũng là một thách thức lớn cho huyện trong việc phát

triển khu dân cư, nhà ở, khu đô thị, cũng như vấn đề an ninh, trật tự an tồn

xã hội.

Trình độ dân trí và tay nghề của người lao động hiện tại chưa cao, tỷ lệ

lao động qua đào tạo đạt thấp, chưa bảo đảm nhu cầu cho một huyện thuộc

vùng động lực tăng trưởng của tỉnh Hồ Bình.



41



Bảng 2.2. Hiện trạng dân số, lao động huyện Lƣơng Sơn năm 2016

TT



Xã, Thị trấn



Dân số

(ngƣời)

7032



Lao động

(ngƣời)

3201



Số HGĐ

(hộ)

1531



1



Hòa Sơn



2



Nhuận Trạch



5014



2761



1176



3



Cư Yên



3972



2701



875



4



Họp Hòa



2599



1700



573



5



Cao Răm



4567



2201



1032



6



Tân Vinh



4366



2749



1122



7



Trường Sơn



2352



1600



524



8



Lâm Sơn



4292



1600



953



9



TT Lương Sơn



16367



4048



3500



10



Liên Sơn



4236



2467



1072



11



Thành Lập



3456



1897



842



12



Trung Sơn



4378



1200



998



13



Tiên Sơn



3686



2260



787



14



Tân Thành



5931



3200



1500



15



Họp Châu



4148



2350



918



16



Long Sơn



4300



1975



940



17



Họp Thanh



4500



2410



945



18



Thanh Lương



3830



2030



868



19



Cao Thăng



5782



2200



1370



20



Cao Dương



4850



2218



1025



99658



46768



22551



Tồn huyện



(Ngn:Chi cục thống kê huyện)

2.1.2.2. Đặc điểm hệ thống cơ sở hạ tầng

- Hệ thống cơ sở hạ tầng bao gồm: giao thông, thuỷ lợi, điện, bưu chính

viễn thơng (kinh tế - kỹ thuật); trường học, bệnh viện, trạm y tế, nhà văn hoá,

trung tâm học tập cộng đồng (xã hội), nhìn chung đã được trang bị mạng lưới

khá rộng khắp và phủ kín trên tồn địa bàn huyện. Một số nét phản ánh đặc điểm

rõ nét nhất của hệ thống cơ sở hạ tầng trên địa bàn huyện thể hiện như sau:



42



- Hệ thống giao thơng: Trên địa bàn huyện chỉ có duy nhất một loại

hình giao thơng đường bộ; hệ thống sơng suối trên địa bàn huyện có độ dốc

lớn, lòng hẹp và ngắn nên không thể sử dụng được cho giao thông thuỷ. Hệ

thống đường bộ giữ vai trò chủ đạo trong vận chuyển hàng hoá và hành

khách, hai tuyến đường quốc lộ chạy qua huyện có chất lượng tốt. Hệ thống

đường tỉnh lộ và giao thông nông thôn vừa thiếu, bị chia cắt và vừa kém chất

lượng: ngắn, hẹp, đường cấp phối là chủ yếu (khoảng 70% tổng số độ dài của

các tuyến đường).

- Hệ thống cơ sở hạ tầng cấp thoát nước hiện nay nhìn chung chưa phù

hợp và khơng đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội của huyện hiện

tại và trong tương lai: hệ thống cấp nước chủ yếu theo phương thức tự chảy,

chỉ có khoảng 60% dân số huyện được hưởng lợi từ hệ thống cấp nước huyện,

nhiều xã, nhất là vùng Tây Nam huyện rất khó khăn về nguồn nước kể cả cho

đời sống và cho sản xuất. Hệ thống thoát nước chủ yếu vẫn là tự chảy, tự thấm

và thốt theo địa hình tự nhiên ra các khu vực trũng (trừ khu vực thị trấn).

- Hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật khác như điện, bưu chính viễn thơng,

hệ thống xử lý rác thải và vệ sinh mơi trường nhìn chung đã được trang bị

theo diện rộng và hiện đang hoạt động tốt. Tuy vậy, nếu tương lai kinh tế - xã

hội phát triển theo hướng trở thành vùng động lực của tồn tỉnh thì cần phải

được bổ sung thêm về số lượng và hoàn chỉnh chất lượng.

2.1.2.3. Sự phát triển các ngành kinh tế của huyện

Lương Sơn có vị trí kinh tế quan trọng và nhiều điều kiện để phát triển

theo hướng vùng kinh tế tổng hợp. Những phân tích về điều kiện tự nhiên, vị

trí địa lý, địa hình và các tiềm năng tài nguyên cho thấy Lương Sơn là vị trí giao

thoa giữa vùng Hà Nội, nhất là thủ đơ Hà Nội với Hồ Bình và vùng Tây bắc.

Về kinh tế, huyện Lương Sơn có vị trí quan trọng trong sự phát triển

kinh tế - xã hội của tỉnh Hồ Bình, có điều kiện để phát triển mạnh nền kinh



43



tế theo hướng tổng hợp bao gồm cả công nghiệp, dịch vụ, trao đổi mua bán và

trung chuyển hàng hoá, phát triển du lịch đặc trưng sinh thái núi đồi, văn hố

dân tộc, đồng thời cũng có nhiều điều kiện phát triển nông nghiệp trồng lúa,

chăn nuôi đại gia súc, gia cầm và phát triển trồng rừng, cây công nghiệp, cây

ăn quả cũng như rau màu có giá trị kinh tế cao.

Trong năm 2016, kinh tế của huyện phát triển ổn định, tốc độ tăng trưởng

kinh tế tăng. Tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2016 là 16,4%, vượt 2,8% so với

kế hoạch đề ra, trong đó:

-



Ngành Nơng - Lâm nghiệp - Thủy sản: 33,6%.



-



Ngành Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp - xây dựng: 38,5%.



-



Thương mại - Dịch vụ: 27,9%.



Cụ thể, tỷ trọng các ngành kinh tế của huyện Lương Sơn được thể hiện

chi tiết ở hình 2.1.



(Nguồn: Phòng TNMT huyện Lương Sơn)

Hình 2.1 Biểu đồ cơ cấu kinh tế huyện Lƣơng Sơn năm 2016

Số liệu thống kê của huyện cho thấy, tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất

của ngành cơng nghiệp xây dựng có xu hướng tăng, năm 2016 toàn huyện đạt

23,18%. Trên địa bàn huyện, nhất là các xã vùng Đơng Nam, phía Bắc huyện

có nhiều loại tài ngun khống sản như: Đá vơi, đá xây dựng, đất sét, đá Ba



44



Zan, quặng đa kim. Các loại tài nguyên này theo điều tra sơ bộ cho thấy có trữ

lượng khá cao và chất lượng tốt và cho phép huyện có thể đẩy mạnh phát triển

ngành cơng nghiệp khai thác khoáng sản và sản xuất vật liệu xây dựng. Hiện

nay, ngành khai thác khoáng sản và sản xuất vật liệu xây dựng đang có xu

hướng phát triển tốt. Sản lượng các loại sản phẩm như xi măng, tấm lợp, đá

xây dựng, gạch nung...

Ngành thương mại dịch vụ, nhất là ngành du lịch có khả năng phát

triển mạnh trên địa bàn huyện. Với các yếu tố thuận lợi về giao thơng, cửa

ngõ Hà Nội, lại có nhiều danh lam thắng cảnh, kỳ quan và di tích lịch sử nổi

tiếng, Lương Sơn thực sự có điều kiện phát triển thương mại dịch vụ, trao đổi

hàng hoá, phát triển du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng, thiên nhiên và lịch sử.

Trong thời gian qua, ngành thương mại, dịch vụ có tốc độ tăng trưởng cao

năm 2015 đạt 32,87%; năm 2016 đạt 16,40%.

Ngành nơng, lâm nghiệp có tốc độ tăng trưởng đạt 16,09% năm 2016

và vẫn có khả năng phát triển trên nhiều địa phương của huyện. Do điều kiện

về thuỷ văn, địa hình, chất đất, hoặc theo định hướng phát triển cơng nghiệp

và thương mại dịch vụ, ngành nông nghiệp đã và đang có xu hướng bị thu hẹp

phát triển, nhất là diện tích trồng lúa. Tuy vậy, huyện vẫn có nhiều khả năng

phát triển một số loại sản phẩm nông nghiệp có thế mạnh, ví dụ như: trồng

rau, hoa chất lượng cao (vùng phía Bắc huyện), trồng cây cơng nghiệp ngắn

ngày, hoa quả, trồng rừng (trên vùng Tây Nam huyện).

2.1.2.4. Vấn đề tổ chức sản xuất trong nông nghiệp của huyện

- Kinh tế hộ: sau khi thực hiện giao ruộng đất ổn định lâu dài cho hộ

nông dân, các hộ đã vươn lên tự chủ trong sản xuất. Huyện đã cấp giấy chứng

nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp cho các hộ. Trong điều kiện chuyển đổi

cơ chế quản lý từ tập trung, sản xuất tự cấp, tự túc sang sản xuất hàng hóa gắn

với thị trường thực tế đã buộc kinh tế hộ phải đối mặt với thị trường, với sự

biến động thường xuyên của các yếu tố đầu vào cũng như đầu ra của quá trình



45



sản xuất.

Xu thế phát triển kinh tế hộ hiện nay là từng bước chuyển sang sản

xuất hàng hóa nhưng vẫn ở quy mơ nhỏ, với sản phẩm nông nghiệp đa dạng

hơn. Từng hộ nông dân đã tự chủ trong sản xuất nông nghiệp nhưng khơng

thể tự chủ một cách độc lập hồn tồn mà vẫn cần tới vai trò của HTX nơng

nghiệp ở các lĩnh vực, các khâu mà hộ không thể làm được hoặc làm nhưng

kém hiệu quả như: thủy nông, bảo vệ đồng ruộng, giống mới, tiến bộ kỹ

thuật, tiêu thụ sản phẩm.

- Kinh tế trang trại: Tồn huyện hiện có khoảng hơn 100 trang trại. Số

lượng các trang trại hoạt động có hiệu quả tập trung chủ yếu ở địa bàn các xã:

Nhuận Trạch, Hợp Hòa, Cư Yên, Hòa Sơn, Liên Sơn và thị trấn Lương Sơn…

Trên cơ sở tăng cường các hoạt động xúc tiến thương mại, quảng bá sản phẩm,

đến nay khá nhiều loại nông sản của các trang trại ở Lương Sơn đã có mặt tại

các siêu thị, trung tâm thương mại lớn của Hà Nội như BigC, Metro, CoopMart,

FiviMart và giao thương với các tỉnh trong cả nước. Điển hình như mặt hàng

sữa bò tươi, hoa quả VietGAP, thịt gà, trứng gà sạch, rau quả hữu cơ... Với sự

quan tâm của các cơ quan chức năng, trực tiếp là Phòng Nơng nghiệp và Phát

triển nơng thơn huyện Lương Sơn, một số trang trại đã chủ động đầu tư cơ sở,

hệ thống máy móc, hệ thống tưới; xây dựng chuồng trại chăn nuôi kết hợp với

hầm bể biogas bảo đảm vệ sinh mơi trường, góp phần giải quyết việc làm cho

lao động tại địa phương, nâng cao năng suất và chất lượng nơng sản; tăng sản

lượng hàng hóa và góp phần xây dựng nơng thơn mới.

Theo kế hoạch, giai đoạn 2017 - 2020, huyện Lương Sơn phấn đấu đạt

hơn 150 trang trại; 100% số chủ trang trại được tập huấn về thông tin thị

trường, kiến thức khoa học - kỹ thuật và quản lý; lao động làm việc thường

xuyên tại trang trại được tập huấn kỹ thuật; hơn 70% số trang trại được hưởng

các cơ chế, chính sách khuyến khích phát triển kinh tế trang trại và cơ chế,

chính sách hỗ trợ sản xuất hàng hóa; tiếp tục mở rộng diện tích sản xuất nơng



46



nghiệp theo tiêu chuẩn VietGAP nhằm thúc đẩy phát triển nơng nghiệp hàng

hóa theo hướng bền vững…

Nhằm hiện thực hóa những mục tiêu nói trên, thời gian tới, Lương Sơn

sẽ chú trọng đẩy mạnh quy hoạch, hình thành các vùng chuyên canh tập trung

gắn với tuyên truyền, khuyến khích người dân đầu tư phát triển kinh tế trang

trại. Cùng với việc thực hiện các chính sách hỗ trợ của tỉnh, huyện cũng sẽ tiếp

tục bổ sung, ban hành cơ chế, chính sách hỗ trợ đầu tư phát triển, tạo mọi điều

kiện thuận lợi cho các chủ trang trại về thủ tục hành chính, hướng đầu tư, hỗ trợ

xây dựng điện, đường, thủy lợi, khu quy hoạch trang trại... Trọng tâm là khuyến

khích các trang trại liên kết với các hợp tác xã tổ chức hoạt động sản xuất, kinh

doanh nông, lâm nghiệp, thủy sản gắn với tiêu thụ sản phẩm theo chuỗi giá trị

“sản xuất - chế biến - tiêu thụ sản phẩm”. Tập trung phát triển các sản phẩm đã

có nhãn hiệu, thương hiệu, như: các loại rau hữu cơ, sữa bò tươi, lợn bản địa,

bưởi da xanh, bưởi đỏ…

Phát huy vai trò tích cực, chủ động của người sản xuất gắn với những

chính sách hỗ trợ của các cơ quan chức năng, tin tưởng các mơ hình kinh tế

trang trại sẽ thật sự trở thành động lực quan trọng, thúc đẩy sản xuất nơng

nghiệp hàng hóa ở Lương Sơn phát triển.

2.1.3. Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội ảnh hưởng đến

phát triển sản xuất và tiêu thụ rau hữu cơ trên địa bàn huyện Lương Sơn

- Thuận lợi

(1) Có vị trí địa kinh tế rất thuận lợi cho phát triển vùng kinh tế tổng



hợp và trở thành vùng kinh tế động lực của tỉnh Hòa Bình.

Với vị trí địa lý, địa hình miền núi thấp, có quỹ đất, có nhiều tài

nguyên, có cảnh quan phong phú, đa dạng, lại nằm không xa Thủ đô Hà Nội,

giữa các tuyến giao thông quốc lộ khá thuận lợi. Đặc biệt, trong quy hoạch

Hòa Bình, Lương Sơn nằm trong cả hai vùng động lực của tỉnh. Đó là: dải

hành lang tiếp giáp với Hà Nội (thuộc phía Bắc huyện Kỳ Sơn và dọc theo



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×