Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
VỀ LIÊN KẾT TRONG SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ NÔNG SẢN

VỀ LIÊN KẾT TRONG SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ NÔNG SẢN

Tải bản đầy đủ - 0trang

6



kinh tế thường là khu vực công nghiệp và nông nghiệp hoạt động phối hợp với

nhau một cách có hiệu quả và phụ thuộc lẫn nhau, là một yếu tố của quá trình

phát triển. Điều kiện này thường đi kèm với sự tăng trưởng bền vững” [6].

Tác giả Trần Văn Hiếu (2005) cho rằng: “Liên kết kinh tế là quá trình

thâm nhập, phối hợp với nhau trong sản xuất kinh doanh của các chủ thể kinh tế

dưới hình thức tự nguyện nhằm thúc đẩy sản xuất kinh doanh theo hướng cólợi

nhất trong khn khổ pháp luật, thơng qua hợp đồng kinh tế khai thác tốt các

tiềm năng của các chủ thể tham gia liên kết. Liên kết kinh tế có thể tiến hành

theo chiều dọc hoặc chiều ngang, trong nội bộ ngành hoặc các ngành, trong một

quốc gia hay nhiều quốc gia, trong khu vực và quốc tế” [9].

Tóm lại, liên kết là sự hợp tác tự nguyện giữa các đơn vị kinh tế, giữa các

khu vực, các hộ, các cơ sở sản xuất tiêu thụ khác nhau để cùng nhau phát triển,

đem lại lại lợi ích cho các bên tham gia liên kết.

Chúng ta có thể phân loại liên kết theo chiều ngang, liên kết theo chiều

dọc hoặc liên kết ngành (Frank Pyke, 2000):

- Liên kết ngang: Là hình thức liên kết mà trong đó mỗi tổ chức hay cá

nhân tham gia là một đơn vị hoạt động độc lập nhưng có quan hệ với nhau

thơng qua một bộ máy kiểm soát chung. Trong liên kết này, mỗi thành viên

tham gia có sản phẩm hoặc dịch vụ cạnh tranh nhau nhưng họ liên kết lại để

nâng cao khả năng cạnh tranh cho từng thành viên nhờ phát huy tính lợi ích

kinh tế theo quy mơ của tổ chức liên kết. Kết quả của liên kết theo chiều

ngang hình thành nên những tổ chức liên kết như Hợp tác xã, liên minh, hiệp

hội... và có thể dẫn đến độc quyền trong một thị trường nhất định. Như vậy,

liên kết kinh tế có thể diễn ra trong mọi ngành sản xuất kinh doanh, thu hút sự

tham gia của tất cả các chủ thể kinh tế có nhu cầu của mọi thành phần kinh tế

và không bị giới hạn bởi phạm vi địa lý [20].

- Liên kết dọc: Là mối liên kết giữa người mua hàng, nhà phân phối,

các tập đoàn, các doanh nghiệp địa phương đến các doanh nhiệp vừa và nhỏ



7



hình thành chuỗi giá trị sản phẩm. Nhìn chung liên kết theo chiều dọc không

giới hạn về mặt địa lý, và quy mô doanh nghiệp. Thông thường các doanh

nghiệp lớn tại các nước phát triển có thể gia cơng hàng hóa ở các nước đang

phát triển để tận dụng lợi thế so sánh của các nước này như chi phí lao động

thấp, nguồn tài nguyên dồi dào… Liên kết này hình thành các đơn hàng giúp

các doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể thực hiện được một hay nhiều khâu trong

chuỗi giá trị. Loại hình liên kết này thường thấy ở các sản phẩm như may

mặc, giày dép, vật liệu xây dựng, trang trí nội thất [20].

- Phát triển liên kết.

Từ những khái niệm về liên kết thì ta rút ra được khái niệm về phát triển

liên kết. Phát triển liên kết là việc mở rộng, tăng thêm của các hình thức,

phương thức, nội dung liên kết cả theo chiều rộng và theo chiều sâu.

Theo chiều rộng, phát triển liên kết là việc gia tăng các tác nhân tham gia

vào mối liên kết. Đó là sự tăng thêm của các hộ nơng dân trong HTX, các tổ

nhóm hợp tác, sự gia tăng về số lượng các HTX, tổ nhóm sản xuất, tiêu thụ, sự

gia tăng của các doanh nghiệp tham gia vào cung ứng đầu vào hay tiêu thụ nông

sản đầu ra cho hộ nông dân; sự gia tăng của các tổ chức xã hội, của Nhà nước,

nhà Khoa học,...vào trong q trình sản xuất và tiêu thụ nơng sản nói chung và

RAT nói riêng; mở rộng về hình thức, phương thức và cả nội dung liên kết [20].

Phát triển theo chiều sâu là việc gia tăng về phạm vi liên kết, gia tăng về

mức độ chặt chẽ của các mối liên kết. Không chỉ liên kết trong 1 khâu của quá

trình sản xuất mà liên kết từ khâu đầu tiên tới khâu cuối cùng của quá trình sản

xuất hay liên kết từ sản xuất đến sơ chế, bảo quản và tiêu thụ sản phẩm đầu ra.

Bên cạnh đó liên kết theo chiều sâu thể hiện ở việc chuyển từ các liên kết lỏng

sang các liên kết chặt, liên kết bền vững, từ thỏa thuận, hợp đồng miệng sang

hợp đồng bằng văn bản. Việc tham gia liên kết sẽ mang lại kết quả và hiệu quả

sản xuất kinh doanh ngày càng tăng cho các bên tham gia liên kết. Nguồn lực



8



của các bên tham gia liên kết được nâng cao [20].

1.1.1.2. Vai trò của liên kết

- Liên kết nhằm tạo mối quan hệ kinh tế ổn định thông qua các hợp đồng

kinh tế hoặc các quy chế hoạt động của từng tổ chức liên kết để tiến hành phân

công sản xuất chun mơn hóa và hiệp tác hóa, nhằm khai thác tốt hơn tiềm

năng của từng đơn vị tham gia liên kết, góp phần nâng cao sản lượng, chất

lượng sản phẩm, nâng cao hiệu quả kinh tế, nâng cao thu nhập của các bên liên

kết, tăng thu ngân sách Nhà nước.

- Liên kết là nhằm đạt tới lợi nhuận tối đa và ổn định, là nhằm tăng

cường sức cạnh tranh trên thị trường, ngày càng mở rộng phạm vi. Lợi ích kinh

tế là sợi dây, là chất nhựa làm gắn bó các doanh nghiệp, các chủ thể liên kết lại

với nhau. Cạnh tranh là nhân tố khách quan thúc đẩy các chủ thể "tự nguyện bắt

buộc" liên kết lại với nhau trên cơ sở đảm bảo lợi ích sống còn trên thị trường.

- Liên kết để phân công rõ nhiệm vụ và quyền trong thị trường, phân định

hạn mức sản lượng đơn vị cho từng thành viên, giá cả từng loại sản phẩm để

bảo vệ lợi ích kinh tế của nhau, tạo cho nhau có khoản lợi nhuận cao nhất.

- Liên kết giúp đỡ nhau về kinh nghiệm sản xuất, kinh doanh và quản lý,

giúp đỡ nhau về đào tạo, bồi dưỡng cán bộ kỹ thuật và cán bộ quản lý, công

nhân kỹ thuật, cũng như thực hiện cho nhau các công việc cung ứng vật tư, tiêu

thụ sản phẩm, dịch vụ vận chuyển, thông tin, xử lý thông tin...Các hoạt động

này được ghi thành hợp đồng kinh tế.

* Đặc trưng của liên kết

Liên kết là một phạm trù khách quan phản ánh những quan hệ xuất phát

từ những lợi ích khác nhau của từng chủ thể cũng như quá trình vận động phát

triển tự nhiên của lực lượng sản xuất, xuất phát từ trình độ và phạm vi của phân

cơng lao động xã hội và chun mơn hóa sản xuất kinh doanh.

Liên kết là những quan hệ kinh tế đạt tới trình độ gắn bó chặt chẽ, ổn



9



định, thường xuyên lâu dài thông qua những thoả thuận, hợp đồng từ trước giữa

các bên tham gia liên kết. Không phải tất cả những quan hệ kinh tế nào cũng là

liên kết kinh tế. Những quan hệ kinh tế nhất thời, những trao đổi ngẫu nhiên

không thường xuyên giữa các chủ thể kinh tế không phải là liên kết kinh tế.

Liên kết là q trình làm xích lại gần nhau và ngày càng gắn bó với nhau,

trên tinh thần tự nguyện giữa các bên tham gia liên kết. Quá trình này vận động,

phát triển qua những nấc thang từ quan hệ hợp tác, liên doanh đến liên hợp, liên

minh, hợp nhất lại. Như vậy phân công lao động và chuyên môn hóa sản xuất

kinh doanh là điều kiện hình thành các liên kết kinh tế; còn hợp tác hóa, liên

hợp hóa là những hình thức biểu hiện của những nấc thang, những bước phát

triển của liên kết kinh tế.

Liên kết là những hình thức hoặc những biểu hiện của sự hành động giữa

chủ thể liên kết thông qua những thoả thuận, những giao kèo, hợp đồng, hiệp

định, điều lệ... nhằm thực hiện tốt những mục tiêu nhất định trong tất cả các lĩnh

vực khác nhau. Tuỳ theo góc độ xem xét q trình liên kết có thể diễn ra liên

kết theo ngành, liên kết giữa các thành phần kinh tế, liên kết theo vùng lãnh thổ.

Kết quả, hiệu quả của liên kết trong sản xuất kinh doanh nông nghiệp

chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố, trong đó phải kể đến yếu tố rủi ro từ thời tiết,

khí hậu.

Cũng như liên kết đối với các ngành sản xuất kinh doanh khác, liên kết

trong sản xuất và kinh doanh nơng nghiệp có sự xuất hiện của các tác nhân

tham gia. Tuy nhiên, điểm khác biệt đáng quan tâm là các tác nhân đó có sự

khác biệt rõ nét về trình độ, nhận thức, năng lực của họ.

1.1.1.3. Phương thức và hình thức liên kết

* Phương thức liên kết

Liên kết dọc là liên kết từ trên xuống dưới theo một hệ thống Ví dụ như

từ tổng công ty đến công ty, đến các trung tâm cơ sở sản xuất, người sản xuất,



10



hình thức liên kết từ trên xuống dưới theo một tổ chức như hiện nay người ta ít

thực hiện vì quy mơ liên kết nhỏ hẹp, ví dụ: Hợp tác xã với người dân.

Liên kết ngang là sự liên kết giữa các chủ thể với các chủ thể trong một

lĩnh vực nào đó Ví dụ: người dân với người dân.

Liên kết hỗn hợp là sự liên kết, kết hợp với sự liên kết dọc với liên kết

ngang ví dụ: như trong sản xuất người nơng dân có thể liên kết với hợp tác xã

với các công ty con, công ty mẹ nhưng cũng có thể liên kết các chủ thể sản xuất

khác như người nông dân với các doanh nghiệp khác.

Liên kết này hiện nay được áp dụng rộng rãi đảm bảo sự linh hoạt cho

người nơng dân.

* Hình thức liên kết

Theo phạm vi nội dung hoạt động, theo thời gian, đối tượng liên kết, theo

pháp lý.

Theo phạm vi nội dung hoạt động, có:

Liên kết của từng bộ phận, liên kết từng phần, liên kết tồn bộ trong q

trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.

Liên kết tồn diện tồn bộ q trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm của hộ

nông dân.

Theo thời gian liên kết, có:

Liên kết thường xun (ví dụ nhà nông liên kết Nhà nước, với ngân

hàng...) và Liên kết dài hạn (từ 1 năm trở lên); Liên kết ngắn hạn (dưới 1 năm).

Theo đối tượng liên kết, có:

Liên kết giữa các chủ thể gồm: Liên kết giữa các tổ chức, liên kết giữa

các cá nhân liên kết giữa tố chức và cá nhân với nhau.

Theo pháp lý:

Thì liên kết là sự thể hiện bằng hợp đồng là sự thỏa thuận của hai bên

trên cơ sở pháp lý nhằm cùng nhau thực hiện một số hoạt động công việc nào đó.



11



Hợp đồng có hai loại hợp đồng, hợp đồng bằng miệng và hợp đồng bằng

văn bản, hợp đồng bằng văn bản trong giai đoạn hiện nay là hợp đồng chính là

cơ sở pháp lý cho việc thực hiện và giải quyết tranh chấp.

Hợp đồng miệng là hợp đồng hai bên thỏa thuận với nhau bằng lời nói

dựa trên sự tin cậy và sự tín chấp hợp đồng bằng miệng chỉ trong trường hợp

đơn giản tính pháp lý khơng cao, hợp đồng bằng miệng hay bị phá vỡ, khi phá

vỡ khơng có cơ sở pháp lý.

1.1.1.4. Ngun tắc liên kết

- Nguyên tắc tự nguyện: các bên tự nguyện tham gia không bắt ép.

- Phải đảm bảo sự dân chủ, các bên tham gia liên kết được bàn bạc để

cùng thống nhất.

- Cùng có lợi đảm bảo lợi ích thích đáng trước các bên tham gia, phải lấy

lợi ích làm đầu, bảo toàn được vốn đảm bảo sự thống nhất hài hòa lợi ích tự

nguyện dân chủ cùng có lợi.

- Đảm bảo tính pháp lý phải có điều lệ có hợp đồng chặt chẽ.

1.1.2. Ý nghĩa, vai trò và đặc điểm của liên kết trong sản xuất và tiêu thụ

nông sản

1.1.2.1. Vai trò và ý nghĩa của liên kết trong sản xuất

Tăng cường liên minh công nông: Việc chuyển đổi phương thức sản

xuất nông nghiệp từ tự túc tự cấp sang sản xuất hàng hố thì việc liên minh

cơng nơng có ý nghĩa vơ cùng quan trọng, nó giúp cho q trình sản xuất chế

biến tiêu thụ được hiệu quả hơn.

Thực hiện quan hệ hợp tác: Thông qua liên kết tăng cường được quan

hệ hợp tác giữa các bên, giúp cho quan hệ cung cầu phù hợp và hiệu quả hơn.

Giải quyết quan hệ phân phối: Thông qua liên kết vấn đề phân phối thu

nhập, trách nhiệm quyền hạn của các bên tham gia liên kết được cụ thể hơn,

hàng hoá đến tay người tiêu dùng nhanh hơn.



12



Thúc đẩy nhanh tiến bộ khoa học kỹ thuật: Liên kết giúp cho việc vận

dụng và sử dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất, đem lại hiệu

quả cao hơn, chất lượng sản phẩm làm ra tốt hơn.

Tạo ra sự gắn kết giữa các nhà: Khi các nhà cùng tham gia vào liên kết

thì hiệu quả thu được sẽ cao hơn, đồng bộ hơn trong thực hiện. Với sự tham

gia của nhà nước thì tình trạng chồng chéo về cơ chế chính sách được hạn chế

tối đa thay vào đó là một loạt chính sách đồng bộ trong sản xuất và tiêu thụ.

Các nhà khoa học với những đóng góp về khoa học kỹ thuật mới đã dần thay

thế cho những kỹ thuật lạc hậu không hiệu quả, các giống cây, giống con có

năng suất thấp... Với các doanh nghiệp và người nông dân thông qua liên kết

giúp họ yên tâm hơn trong sản xuất, mạnh dạn đầu tư vào sản xuất, ổn định

các yếu tố đầu vào và thị trường đầu ra, giảm thiểu các rủi ro cũng như chia sẻ

các rủi ro trong sản xuất... Với sự liên kết như vậy sẽ đạt được hiệu quả cao

nhất trong sản xuất và tiêu thụ các sản phẩm nông sản.

Nâng cao hiệu quả kinh tế trong sản xuất và lưu thơng hàng hố giúp

cho nền kinh tế nói chung và nền nơng nghiệp nói riêng ngày một phát triển

bền vững phù hợp với quá trình hội nhập và phát triển nền kinh tế nhà nước

theo định hướng XHCN.

1.1.2.2. Đặc điểm của liên kết trong sản xuất

Liên kết kinh tế như đã phân tích ở phần trên, đó là sự hợp tác cùng

phát triển của hai hay nhiều bên, không kể quy mơ hay loại hình sở hữu. Mối

quan hệ liên kết chính là bảo đảm về lợi ích của các bên tham gia liên kết kinh

tế, có thể được khái quát lợi ích trên các mặt chủ yếu như sau:

* Liên kết kinh tế giữa các chủ thể nhằm khắc phục những bất lợi về

quy mô, loại sản phẩm trong kinh tế thị trường:

Chủ thể sản xuất (các doanh nghiệp, các nhà sản xuất của các ngành,

lĩnh vực) có quy mô nhỏ và vừa thường bị các doanh nghiệp lớn cạnh tranh và



13



mang lại bất lợi về lợi ích cho các chủ thể (doanh nghiệp) vừa và nhỏ. Trong

hoạt động sản xuất, kinh doanh, mỗi chủ thể, doanh nghiệp đều có một hoặc

vài lĩnh vực hoạt động chủ đạo, mang tính đặc thù, chun biệt, hoặc có

những sản phẩm đặc thù riêng; Bên cạnh đó, một loạt các hoạt động phụ mà

bản thân chủ thể, doanh nghiệp không thể tự mình sản xuất ra thành phẩm,

hoặc tự thực hiện tiêu thụ được mà phải nhờ đến các chủ thể khác mới bảo

đảm sản xuất và tiêu thụ được sản phẩm ấy. Muốn vậy, phải có sự hợp tác

giữa các chủ thể, với doanh nghiệp khác để tạo ra sản phẩm với quy mô lớn

hơn và tiêu thụ được trên thị trường; giảm thiểu được bất lợi trong hoạt động

kinh tế theo cơ chế thị trường, tiết kiệm chi phí sản xuất, tăng khả năng cạnh

tranh.

* Liên kết kinh tế giúp nhau phản ứng nhanh và tạo cơ hội đối phó với

những thay đổi của thị trường.

Như trên đã nói, liên kết kinh tế giúp các chủ thể, hoặc doanh nghiệp

khắc phục được những hạn chế về quy mơ, thì ở một khía cạnh khác, liên kết

kinh tế còn giúp cho các chủ thể và doanh nghiệp phản ứng nhanh với những

thay đổi của thị trường, tạo cơ hội đứng vững khi thị trường có những biến

đổi bất lợi. Điều đó được thể hiện trong những trường hợp sau:

- Nhu cầu của thị trường là ln thay đổi, điều đó buộc các chủ thể sản

xuất vừa phải luôn thay đổi mẫu mã của các sản phẩm hiện có, vừa phải tìm

cách đa dạng hố sản phẩm. Chính sự liên kết kinh tế mới có thể giúp cho các

chủ thể đạt được điều mong muốn là thích ứng với thị trường.

- Liên kết kinh tế giúp cho các chủ thể sản xuất và doanh nghiệp tiêu

thụ sản phẩm của mình được nhanh hơn. Trong xu thế tồn cầu hố các hình

thức liên kết kinh tế được thực hiện với quy mô “xuyên quốc gia”; những sản

phẩm hàng hoá do bản thân từng doanh nghiệp khó tiêu thụ, nhưng nếu đặt

trong vị trí liên kết thì dễ tiêu thụ được, từ đó thúc đẩy sản xuất phát triển.



14



- Liên kết kinh tế còn giúp cho các nhà sản xuất, doanh nghiệp có thể

tiếp cận nhanh chóng với các cơng nghệ, kỹ thuật mới vào sản xuất, nhờ sự

phối hợp với các nhà nghiên cứu ở các trường đại học, hay cơ sở nghiên cứu

trong và ngồi nước.

- Liên kết kinh tế còn thúc đẩy liên kết, hỗ trợ nhau về vốn trước những

thay đổi của thị trường vượt ra ngoài khả năng đáp ứng của doanh nghiệp,

buộc các chủ thể ấy phải tìm cách liên kết, hỗ trợ về vốn và công nghệ để

hoàn thành ra sản phẩm hoàn chỉnh cung cấp cho thị trường.

* Liên kết kinh tế giúp các chủ thể giảm thiểu rủi ro trong sản xuất,

kinh doanh sản phẩm nơng nghiệp.

Ngồi lợi ích cơ bản của liên kết kinh tế bảo đảm về hiệu quả trong sản

xuất của nhà nơng, liên kết kinh tế còn giúp cho nhà doanh nghiệp giảm thiểu

rủi ro trong kinh doanh. Để tránh được rủi ro, nhiều nhà sản xuất đã biết phân

tán “sự rủi ro” bằng cách mời gọi các chủ thể khác cùng tham gia thực hiện,

triển khai dự án, thậm chí mỗi doanh nghiệp đảm nhận một phần công việc,

tuỳ theo năng lực của từng chủ thể. Như vậy, mỗi chủ thể tham gia dự án chỉ

phải chịu một phần rủi ro (nếu có xảy ra)...

1.1.3. Các chủ thể tham gia liên kết trong sản xuất và tiêu thụ nông sản

Tham gia các hoạt động liên kết trong sản xuất và tiêu thụ nơng sản

hàng hố nói chung có rất nhiều các chủ thể (nhiều nhà). Tuy nhiên, trên thực

tế cho thấy thường có 4 nhóm chủ thể sau đây:

- Nhà sản xuất: có thể bao gồm hộ gia đình, hộ trang trại, hay các tổ

hợp tác, hợp tác xã, các doanh nghiệp sản xuất..., đây là chủ thể chính và trực

tiếp tham gia liên kết trong sản xuất và tiêu thụ, họ là người được sử dụng đất

đai của mình để sản xuất, hay góp cổ phần, liên doanh, liên kết với doanh

nghiệp hoặc cho các doanh nghiệp khác thuê đất sản xuất; họ có thể được hỗ

trợ về giống, kỹ thuật canh tác, bảo quản và bao tiêu sản phẩm ổn định lâu dài



15



từ phía doanh nghiệp chế biến.

Thơng qua hợp đồng, người sản xuất ngay từ đầu vụ sản xuất cần xác

định rõ lượng vật tư nông nghiệp cần đầu tư, các biện pháp kỹ thuật, giá cả

hợp lý, các khoản bảo hiểm giá nông sản... để yên tâm sản xuất. Xác định

được trách nhiệm làm vệ tinh của mình, người sản xuất chủ động và mạnh

dạn hưởng ứng chủ trương chuyển dịch cơ cấu cây trồng, đầu tư phát triển sản

xuất, giảm giá thành, tăng năng suất và chất lượng sản phẩm, gom đủ nguồn

hàng theo đúng thời hạn hợp đồng với doanh nghiệp.

- Nhà doanh nghiệp: đây là chủ thể thứ hai và cũng là chủ thể chính

tham gia hoạt động liên kết. Doanh nghiệp có liên quan trực tiếp và cần xác

định rõ trách nhiệm cụ thể đối với người sản xuất như: cung ứng vật tư nông

nghiệp; áp dụng công nghệ cao, công nghệ sạch chuyển giao tiến bộ khoa học

kỹ thuật vào sản xuất để tăng năng suất, chất lượng sản phẩm; nâng cao tính

chủ động về hoạt động quản lý, điều hành sản xuất có hiệu quả; có biện pháp

khuyến khích người sản xuất có ý thức trách nhiệm tạo ra nguồn hàng ổn định

và đảm bảo chất lượng để phục vụ sản xuất chế biến, tiêu thụ trong nước và

xuất khẩu.

- Nhà nước: Để phát triển hình thức liên kết sản xuất – tiêu thụ giữa

doanh nghiệp và người nông dân, các cấp chính quyền ngồi cơng tác quản lý,

chỉ đạo sản xuất cần tiếp tục hồn thiện các chính sách, thể chế để tạo điều

kiện cho cả hai phía, đồng thời khuyến khích các hộ nơng dân hình thành các

hình thức tổ chức hợp tác tự nguyện làm vệ tinh cho các doanh nghiệp. Ngồi

ra, Nhà nước còn có thể đứng lên làm trọng tài để giải quyết các vụ tranh

chấp, hay vi phạm hợp đồng giữa nhà sản xuất và doanh nghiệp, hoặc giữa

các chủ thể khác có liên quan.

Về tài chính, tín dụng Nhà nước tạo điều kiện cho người sản xuất ký

hợp đồng tiêu thụ sản phẩm được vay vốn từ các ngân hàng thương mại để



16



đầu tư phát triển sản xuất, cải tiến thủ tục vay vốn từ Quỹ hỗ trợ phát triển để

các doanh nghiệp thuộc diện vay vốn được thuận lợi, đồng thời tăng mức vốn

vay đầu tư ưu đãi từ Quỹ hỗ trợ phát triển để đầu tư xây dựng vùng nguyên

liệu tập trung, tiêu thụ nơng sản hàng hố.

Nhà nước cần có các biện pháp hỗ trợ các doanh nghiệp liên kết sản

xuất tiêu thụ với nông dân trong việc: nâng sức cạnh tranh, giảm chi phí sản

xuất thơng qua các hoạt động xúc tiến thương mại và đầu tư, nghiên cứu và

chuyển giao công nghệ, cung cấp thông tin định hướng cho kinh doanh, cơng

tác kiểm sốt chất lượng, xuất xứ hàng nơng sản và đăng ký kinh doanh nơng

sản, tìm kiếm và mở rộng thị trường.

- Nhà khoa học: Trong sản xuất, để tạo nên những sản phẩm vừa có

năng suất, chất lượng và có giá trị kinh tế cao, vừa đáp ứng được nhu cầu của

người tiêu dùng cũng như đơn đặt hàng của các doanh nghiệp, nhà khoa học

có vai trò hết sức quan trọng. Nhà khoa học ở đây có thể là các nhà nghiên

cứu, nhà khoa học hay cán bộ khuyến nơng..., họ sẽ đóng góp cơng sức và

chất xám của mình để thực hiện các hợp đồng theo đơn đặt hàng của các nhà

doanh nghiệp cũng như của nhà sản xuất.

Nhà khoa học khơng bó hẹp hoạt động trong phòng nghiên cứu mà

năng động, chuyên nghiệp trong việc bắt tay với nhà nông, doanh nghiệp để

hỗ trợ họ trong sản xuất, thu hoạch, bảo quản nơng sản; cần có tiếng nói tích

cực để tham mưu cho các nhà quản lý nhằm có những dự báo, tính tốn, quy

hoạch cụ thể và chủ động trong chỉ đạo sản xuất, tiêu thụ.

1.1.4. Nội dung của liên kết trong sản xuất và tiêu thụ nông sản

Nội dung của liên kết trong sản xuất – tiêu thụ sản phẩm bao gồm:

- Sự thỏa thuận hay cam kết giữa các bên trong quá trình sản xuất – tiêu

thụ sản phẩm. Các cam kết này phải được công nhận là sự hợp tác giữa các



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

VỀ LIÊN KẾT TRONG SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ NÔNG SẢN

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×