Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Giới thiệu về Marketing hỗn hợp

Giới thiệu về Marketing hỗn hợp

Tải bản đầy đủ - 0trang

Price - Chiến lược giá; Promotion - Xúc tiến sản phẩm và hỗ trợ bán hàng và Place Thiết lập kênh phân phối . Đây là những công cụ marketing hữu hiệu mà các doanh

nghiệp có thể ứng dụng để theo đuổi các mục tiêu phát triển kinh doanh của mình trong

thị trường đang nhắm đến.



Hình 1: Mơ hình Marketing Hỗn hợp

Như vậy Marketing hỗn hợp với chiến lược 4P chính là sự phối hợp hoạt động những

thành phần Marketing sao cho phù hợp với hoàn cảnh kinh doanh thực tế nhằm củng

cố vững chắc vị trí của xí nghiệp, hoặc của công ty trên thương trường. Nếu sự phối

hợp hoạt động những thành phần Marketing được nhịp nhàng và đồng bộ thích ứng với

tình huống của thị trường đang diễn tiến thì cơng cuộc kinh doanh của xí nghiệp hoặc

của công ty sẽ trôi chảy, hạn chế sự xuất hiện những khả năng rủi ro và do đó mục tiêu

sẽ đạt được là lợi nhuận tối đa. Nhà quản trị tài năng là nhà tổ chức, điều hành phối

hợp các thành phần Marketing trong một chiến lược chung, đảm bảo thế chủ động với

mọi tình huống diễn biến của thị trường.

Sau đây chúng ta sẽ tiếp tục đi tìm hiểu những khái niệm căn kẽ về các thành phần của

Marketing hỗn hợp.



2. Sản phẩm (Product)

Phần trọng tâm của lý thuyết marketing hỗn hợp chính là sản phẩm (dịch vụ), những gì

mà cơng ty cung cấp cho khách hàng như máy giặt, xe hơi, vật dụng trang trí nội thất,

… hoặc chính sách bảo hiểm nhân thọ, dịch vụ cho điện thoại di động,… Sự cung cấp

này còn bao gồm các khía cạnh vật chất, cũng như các yếu tố trừu tượng hơn như bảo

hành, phương án chọn lựa và dịch vụ hậu mãi.

Chúng ta có thể phân biệt các sản phẩm theo lý tính hoặc thơng qua các dịch vụ cung

cấp để hỗ trợ sản phẩm đó. Những khác biệt lý tính của sản phẩm bao gồm:

 Hình thức - kích cỡ, hình dáng, cấu trúc vật chất.

 Các đặc điểm - ví dụ: một cơng cụ xử lý văn bản mới.

 Chất lượng hiệu suất - mức độ mà các đặc tính chính của sản phẩm phát huy

được.

 Chất lượng hoạt động - mức độ mà tất cả các đơn vị của sản phẩm đều hoạt

động như nhau.

 Tính bền - tuổi thọ hoạt động dự kiến của sản phẩm dưới các điều kiện và áp lực

tự nhiên.

 Độ tin cậy - khả năng sản phẩm không bị trục trặc hay hư hỏng.

 Khả năng sửa chữa - khả năng sản phẩm có thể sửa chữa nếu bị hư hỏng.

 Phong cách - ấn tượng và cảm giác về sản phẩm.

 Thiết kế - cách mà tất cả các đặc tính nêu trên phối hợp với nhau (dễ sử dụng,

đẹp mắt, bền).

 Cũng có thể phân biệt sản phẩm bằng các đặc điểm khác biệt về dịch vụ như

sau:

 Dễ đặt hàng - mức độ mà khách hàng dễ đặt mua sản phẩm.

 Giao hàng - mức độ giao sản phẩm nhanh chóng và chính xác.

 Lắp đặt - mức độ thực hiện tốt công việc để làm cho sản phẩm có thể sử dụng tại

nơi chỉ định.



 Huấn luyện khách hàng - bất cứ thứ gì cơng ty cung cấp để huấn luyện khách

hàng sử dụng sản phẩm.

 Tư vấn khách hàng - bất cứ điều gì công ty tư vấn hay các dịch vụ nghiên cứu

cho khách hàng.

 Bảo dưỡng và sửa chữa - mức độ cơng ty giúp khách hàng duy trì sản phẩm hoạt

động tốt.

Trong thực tế, việc thiết kế một sản phẩm sẽ dựa trên sự hiểu biết sâu sắc về những nhu

cầu, mong muốn và khả năng sẵn sàng chi trả của khách hàng kết hợp với việc nghiên

cứu thị trường.

3. Phân phối (Place)

Việc phân phối đề cập đến địa điểm bán hàng và đưa sản phẩm hay dịch vụ đến với

khách hàng. Địa điểm phân phối có thể là một cửa hàng bán lẻ, một mạng lưới phân

phối toàn quốc, một website thương mại điện tử, hay một catalog gửi trực tiếp đến

khách hàng. Việc cung cấp sản phẩm đến nơi và vào thời điểm mà khách hàng yêu cầu

là một trong những khía cạnh quan trọng nhất của bất kỳ kế hoạch marketing nào.

- Hầu như các công ty đều có nhiều kênh phân phối để giao dịch với khách hàng. Kênh

phân phối càng nhiều, càng hiệu quả thì cơ hội bán hàng càng lớn. Có nhiều cách để

đưa sản phẩm hay dịch vụ đến với khách hàng. Một công ty theo định hướng thị trường

có thể áp dụng nhiều cách khác nhau để tiến hành công việc mà không gây mâu thuẫn

giữa các kênh phân phối.

4. Giá (Price)

Giá bán là chi phí khách hàng phải bỏ ra để đổi lấy sản phẩm hay dịch vụ của nhà cung

cấp. Việc định giá trong một môi trường cạnh tranh không những vơ cùng quan trọng

mà còn mang tính thách thức. Nếu đặt giá quá thấp, nhà cung cấp sẽ phải tăng số lượng

bán trên đơn vị sản phẩm theo chi phí để có lợi nhuận. Nếu đặt giá quá cao, khách hàng

sẽ dần chuyển sang đối thủ cạnh tranh. Quyết định về giá bao gồm điểm giá, giá niêm

yết, chiết khấu, thời kỳ thanh toán, v.v.



Trong các thị trường tự do và cạnh tranh, việc định giá là trọng tâm của hầu hết mọi

giao dịch. Khi khách hàng thấy rằng giá trị của một sản phẩm tương xứng với giá đã

định, khách hàng sẽ thực hiện ngay giao dịch mua bán mà bỏ qua các lựa chọn khác.

Như vậy, việc tăng hay hạ giá sẽ điều chỉnh số lượng đơn vị sản phẩm cần bán. Điều

này ảnh hưởng đến vòng đời sản phẩm. Nhà cung cấp có thể định giá cao hơn khi sản

phẩm được nhìn nhận là mới lạ, độc đáo và khơng có sản phẩm thay thế nào hữu hiệu

bằng. Nhưng ở giai đoạn chín muồi của vòng đời sản phẩm, nhà cung cấp thường giảm

giá thành vì các sản phẩm thay thế và đối thủ cạnh tranh xuất hiện ngày càng nhiều.

Nhìn chung, nhà cung cấp sẽ linh hoạt hơn trong việc định giá khi sản phẩm hay dịch

vụ của họ có tính độc đáo, chẳng hạn như một cây đàn ghita sản xuất theo đơn đặt hàng

hay một chiếc xe hơi thể thao MG đời 1962 đã được phục hồi. Đối với những sản phẩm

thông dụng hay phổ biến, sự linh hoạt sẽ kém hơn vì khách hàng đã có nhiều sự chọn

lựa và so sánh. Nếu nhà cung cấp định giá cao hơn thị trường chung, việc bán hàng sẽ

trở nên khó khăn, còn nếu họ hạ giá quá thấp thì số lượng hàng bán tạm thời tăng lên,

nhưng sẽ chững lại khi các đối thủ cạnh tranh cũng hạ giá.

Một số nhà cung cấp đã thành cơng trong việc duy trì giá thành cao bằng cách bổ sung

cho các sản phẩm rất bình thường của họ những ưu điểm về sự độc đáo, chất lượng hay

sự mới lạ. Phương pháp này đặc biệt phổ biến trong ngành công nghiệp mỹ phẩm.

Dù công ty bạn định giá sản phẩm hay dịch vụ ở mức độ nào, thì giá đó cũng là một

yếu tố quan trọng trong marketing hỗn hợp và sẽ có tác động đến kết quả kinh doanh.

Bạn có thể đặt giá cho bất kỳ mục tiêu nào sau đây: tăng số hàng bán theo đơn vị sản

phẩm, tăng lợi nhuận, hay tăng thị phần; đánh bại đối thủ cạnh tranh; hoặc ngăn không

cho đối thủ cạnh tranh xâm phạm lãnh địa của bạn. Những sản phẩm mới luôn được

thiết kế theo các mục tiêu về giá cụ thể như thế này.

5. Hỗ trợ bán hàng

Đây là yếu tố cuối cùng, nhưng cũng là yếu tố khó mơ tả nhất trong marketing hỗn

hợp. Hỗ trợ bán hàng là tất cả các hoạt động nhằm đảm bảo rằng khách hàng nhận biết



về sản phẩm hay dịch vụ của bạn, có ấn tượng tốt về chúng và thực hiện giao dịch mua

bán thật sự. Những hoạt động này bao gồm quảng cáo, catalog, quan hệ công chúng và

bán lẻ, cụ thể là quảng cáo trên truyền hình, đài phát thanh, báo chí, các bảng thơng

báo, đưa sản phẩm vào phim ảnh, tài trợ cho các chương trình truyền hình và các kênh

phát thanh được đơng đảo cơng chúng theo dõi, tài trợ cho các chương trình dành cho

khách hàng thân thiết, bán hàng qua điện thoại, bán hàng qua thư trực tiếp, giới thiệu

sản phẩm tận nhà, gởi catalog cho khách hàng, quan hệ cơng chúng v.v.

Có rất nhiều hình thức xúc tiến sản phẩm và hỗ trợ bán hàng nên rất khó đề cập tất cả ở

đây. Bạn chỉ cần xác định rằng: cùng với nghiên cứu thị trường, việc xúc tiến sản phẩm

và hỗ trợ bán hàng chính là mắt xích truyền thơng quan trọng giữa công ty bạn và

khách hàng mà bạn nhắm đến.

6. Những yếu tố ảnh hưởng đến Marketing hỗn hợp

Hoạt động Marketing hỗn hợp trong kinh doanh được biểu hiện khá uyển chuyển và

linh hoạt. Vì lẽ trong quá trình vận dụng, cơ cấu của Marketing hỗn hợp chịu tác động

bởi nhiều nhân tố chi phối mang tính quyết định, những nhân tố ấy bao gồm :

Uy tín và vị trí của doanh nghiệp trên thị trường: Tâm lý mua hàng của khách hàng

thường theo sự tín nhiệm về nhãn hiệu sản phẩm mà họ quen sử dụng. Sự tín nhiệm

của khách hàng đối với xí nghiệp hoặc cơng ty thơng qua sản phẩm càng lớn thì uy tín

và vị trí của cơng ty hoặc xí nghiệp trên thị trường càng cao.

Chẳng hạn, cùng một loại sản phẩm do 2 công ty sản xuất ra; sản phẩm của công ty A

chất lượng có thể trội hơn, giá cả có phần rẻ hơn so với sản phẩm của công ty B song

lại khó bán, vì lẽ từ lâu khách hàng đã quen dùng sản phẩm của công ty B nên sản

phẩm của công ty này sản xuất ra dễ dàng chiếm lĩnh thị trường mạnh hơn sản phẩm

của cơng ty A.

Tình huống của thị trường: Sự hình thành và chuyển hố từ hình thái thị trường này

sang hình thái thị trường khác trong nền kinh tế thị trường đối với một loại hàng hoá



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Giới thiệu về Marketing hỗn hợp

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×