Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
II. DIỄN BIẾN CHẤT LƯỢNG NƯỚC

II. DIỄN BIẾN CHẤT LƯỢNG NƯỚC

Tải bản đầy đủ - 0trang

Hình 2: Biến đổi giá trị pH tại các trạm quan trắc theo chế độ triều

Từ hình cho thấy giá trị pH thay đổi từ 6,2 – 7,41 nằm trong quy chuẩn chất lượng nước mặt cột A (QCVN08:2008). Là khu vực nằm

trong vùng đất nhiễm phèn tuy nhiên, giá trị pH vào thời điểm đo đạc là khá cao chứng tỏ mức độ tác động của yếu tố phèn vào trong

khu vực Tp. Cà Mau tại thời điểm quan trắc là không đáng kể.



2.2. Diễn biến của xâm nhập mặn

Mặn là yếu tố giới hạn đối với sinh trưởng và phát triển của động, thực vật thủy sinh và cây trồng nói chung. Nguồn nước bị nhiễm mặn

khơng phù hợp cho phát triển sản xuất nông nghiệp và ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống sinh hoạt của người dân nhưng nó lại thuận lợi

để phát triển ni trồng thủy hải sản. Mặn của nước có nguồn gốc từ khối nước biển và nguồn nước bị nhiễm mặn cũng biểu hiện sự

thiếu hụt nguồn nước ngọt trong vùng

Kết quả đo giá trị mặn trong các mẫu nước được thể hiện trên hình 3



Hình 3: Biến đổi độ mặn của nước tại các trạm quan trắc theo chế độ triều

Từ hình cho thấy độ mặn của nước tại các vị trí quan trắc dao động từ 1,7 – 5,6 ‰ riêng trạm N6 nguồn nước là ngọt hoàn toàn. Thực tế

cho thấy thời điểm đo đạc đã vào gần cuối mùa mưa tuy nhiên, nguồn nước vẫn bị nhiễm mặn chứng tỏ nguồn nước ngọt trong vùng là

rất khan hiếm và ảnh hưởng của khối nước biển vẫn chi phối chủ yếu đến nguồn nước trong vùng.



2.3. Diễn biến hàm lượng oxi hòa tan trong nước (DO)

Trong các thuỷ vực nước tĩnh lượng oxi hoà tan chủ yếu do quá trình quang hợp của thực vật phù du và phần nhỏ khuếch tán từ khí

quyển vào. Tại các thủy vực nước động sự chuyển động xáo trộn của khối nước làm tăng xâm nhập oxi từ khí quyển vào trong nước. Sự

hao hụt oxi xảy ra do q trình hơ hấp của sinh vật, do khuếch tán vào khơng khí đặc biệt là do vi sinh vật sử dụng phân hủy các hợp

chất hữu cơ. Đây là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá chất lượng nguồn nước. Kết quả đo đạc hàm lượng oxi hòa tan trong nước được thể

hiện trên hình 4



Hình 4: Diễn biến hàm lượng oxi hòa tan trong nước tại các trạm quan trắc theo thời gian

Từ hình cho thấy giá trị DO hòa tan trong nước thay đổi khá lớn, dao động từ 3,66 – 5,60 mg/l. Có sự khác biệt rất về hàm lượng oxi

hòa tan trong nước theo khơng gian và thời gian. Tại các vị trí N1 – N6 hàm lượng oxi hòa tan khá cao dao động 4,82 – 5,6 mg/l và

khơng có sự khác biệt lớn theo chế độ thủy triều trong ngày. Tại các trạm từ N7 – N20 đã có sự khác biệt rất rõ ràng về hàm lượng oxi

hòa tan trong nước theo chế độ thủy triều trong ngày. Vào thời điểm đỉnh triều hàm lượng oxi hòa tan khá cao và dao động từ 4,66 –

5,46 mg/l trong khi vào thời điểm chân triều hàm lượng oxi hòa tan chỉ dao động từ 3,66 – 4,43 mg/l. Sự khác biệt này được xác định

chủ yếu do ảnh hưởng của nước thải sinh hoạt và sản xuất từ trong thành phố Cà Mau đổ ra rất mạh vào lúc chân triều đã tác động trực

tiếp đến chất lượng nguồn nước làm giảm hàm lượng oxi hòa tan.



2.4. Biến đổi giá trị BOD5

BOD5 là lượng oxi mà các sinh vật sử dụng để oxi hoá các hợp chất hữu cơ trong 5 ngày. Đây là chỉ số quan trọng để đánh giá hiện

tượng ô nhiễm nguồn nước bởi các chất hữu cơ đặc biệt đối với nguồn nước bị ảnh hưởng từ các khu đô thị, các khu tập trung dân cư,

khu công nghiệp...

Các kết quả nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng khi giá trị BOD 5 trong nguồn nước mặt lớn hơn 5 mgO 2/l chứng tỏ nước đã bị nhiễm

bẩn bởi các hợp chất hữu cơ và giá trị này lớn hơn 10 được coi là bị ô nhiễm nặng. Kết quả đo đạc giá trị BOD 5 tại các trạm quan trắc

được thể hiện trên hình 5



Hình 5: Diễn biến chỉ số BOD5 tại các trạm quan trắc theo thời gian

Từ hình cho thấy giá trị BOD 5 có biến đổi khá lớn, dao động từ 7,6 – 40,2 mg/l. Kết quả của cũng cho thấy có sự sai khác khá lớn về chỉ

số BOD5 theo không gian và thời gian. Tại các trạm quan trắc từ N1 – N5 giá trị BOD 5 không quá cao dao động từ 8,1 – 13,4mg/l nằm

trong quy chuẩn môi trường cột B1 và không có sự khác biệt quá lớn theo chế độ thủy triều trong ngày. Tại các trạm N6 – N20 chỉ số



BOD5 gia tăng rất lớn và có sự khác biệt rất rõ ràng theo chế độ thủy triều trong ngày. Tại thời điểm đỉnh triều giá trị BOD 5 dao động từ

7,6 – 25 mg/l chủ yếu đạt được quy chuẩn môi trường cột B2 tuy nhiên, tại thời điểm chân triều giá trị BOD 5 gia tăng rất lớn tại tất cả

các điểm quan trắc và dao động từ 12,4 – 40,2mg/l và phần lớn vượt quy chuẩn môi trường cột B2. Sự khác biệt theo chế độ thủy triều

được xác định vào lúc đỉnh triều nhờ chế độ của dòng triều đưa nước từ phía cửa biển có chất lượng tương đối tốt vào và đồng thời hạn

chế phát thải của nước thải sinh hoạt trong TP Cà Mau cũng như nước thải từ các khu sản xuất nên mức độ ô nhiễm hữu cơ trong nước

vào thời điểm này có phần giảm bớt. Sang thời điểm chân triều mực nước trên kênh thấp, các nguồn nước thải được đổ trực tiếp ra kênh

là nguyên nhân cơ bản làm nguồn nước bị ô nhiễm khá nặng thông qua chỉ số BOD 5 tăng rất lớn



2.5. Biến đổi hàm lượng cặn không tan trong nước

Cặn không tan trong nước bao gồm các cặn vơ cơ có nguồn gốc từ sét, bùn, cát, cặn có nguồn gốc từ mùn bã hữu cơ, xác động thực vật

đang phân hủy, động thực vật phù du... Khi tồn tài trong nước với hàm lượng lớn sẽ là yếu tố tác động trực tiếp đến chất lượng nguồn

nước đặc biệt đối với các dạng cặn có nguồn gốc hữu cơ sẽ là yếu tố tác động tiêu cực tiềm tàng do việc phân hủy chúng của vi sinh vật.

Sự tồn tại cặn không tan trong nước cũng còn là yếu tố có thể chứa các vi sinh vật gây bệnh trong nguồn nước. Tác động trực tiếp của

cặn không tan trong nước cũng làm làm giảm chất lượng nguồn nước do ngăn cản sự xâm nhập của ánh sáng vào trong thủy vực, ngăn

cản sự phát triển của của thực vật phù du. Kết quả xác định hàm lượng cặn được thể hiện trên hình 6



Hình 6: Diễn biến hàm lượng TSS trong nước theo khơng gian và thời gian

Từ hình cho thấy hàm lượng TSS trong nước dao động từ 16,8 – 199,8 mg/l, đa số nằm trong quy chuẩn môi trường cột B2.

Cũng đã thấy sự khác biệt đáng kể về hàm lượng cặn không tan trong nước theo yếu tố không gian và thời gian. Tại các trạm N1 – N6

sự khác biệt không quá lớn giữa các trạm cũng như theo chế độ thủy triều và hàm lượng cặn nằm trong quy chuẩn môi trường cột A2.

Sang các trạm N7 – N11 sự khác biệt thể hiện khá rõ theo chế độ thủy triều (vào lúc chân triều hàm lượng cặn có xu thế cao hơn hẳn so

với lúc đỉnh triều) và sự khác biệt này được xác định do dòng nước thải sinh hoạt từ đường cống đổ ra vào lúc chân triều là khá lớn

mang theo nhiều cặn đặc biệt các dạng cặn hữu cơ có trong nước thải sinh hoạt. Tại các vị trí quan trắc N14 – N15 cũng có sự sai khác

rõ ràng về hàm lượng cặn lơ lửng giữa thời điểm đỉnh triều và chân triều. Sự gia tăng hàm lượng cặn tại thời điểm chân triều tại các trạm

quan trắc này được xác định một phần do ảnh hưởng từ nước thải sinh hoạt tuy nhiên, thực tế quan sát ảnh hưởng của bùn cát đổ ra từ

nội đồng là yếu tố chính làm hàm lượng cặn không tan tại các trạm quan trắc này tăng lên rất lớn.



2.6. Biến đổi hàm lượng N-NH4+ trong nước

Là sản phẩm do sự biến dưỡng của động vật trong nước cũng như sự phân hủy của các chất hữu cơ do các vi sinh vật mà kết quả của nó

là biến đổi nitơ liên kết thành amoni; một phần amoni được thực vật sử dụng trực tiếp, một phần tiếp tục được các vi sinh chuyển hoá

thành Nitrit, Nitrat. Sự hiện diện hàm lượng NH4+ cũng nói lên mức độ chuyển hóa các chất ơ nhiễm dạng hữu cơ trong thủy vực. Sự

tồn tại hàm lượng NH4+ với số lượng lớn là yếu tố tiềm ẩn tác động tiêu cực đến động vật thủy sinh cũng như các vi sinh vật. Kết quả

xác định hàm lượng N-NH4+ được thể hiện trên hình 7



Hình 7: Diễn biến hàm lượng N- NH4+ tại các trạm quan trắc theo thời gian

Từ hình cho thấy Hàm lượng N-NH4+ dao động rất lớn từ 0,06 – 1,39 mg/l. Từ hình cũng cho thấy có sự sai khác rất rõ về hàm lượng NNH4+ theo không gian và thời gian. Tại các trạm quan trắc N1 – N5 hàm lượng N-NH 4+ khá thấp chủ yếu dao động từ 0,6 – 0,2 mg/l nằm

trong quy chuẩn môi trường cột A2 riêng tại trạm N2 do ảnh hưởng của nước thải sinh hoạt và là điểm nằm trong khu vực giáp nước

phía ngồi cống ngăn mặn Cà Mau nên tại thời điểm đỉnh triều hàm lượng N-NH 4+ lên đến 0,41mg/l. Tại các trạm từ N6 – N20 hàm

lượng N-NH4+ dao động từ 0,102 – 1,39mg/l và có sự sai khác theo chế độ thủy triều trong ngày. Tại thời điểm đỉnh triều hàm lượng N-



NH4+ dao động từ 0,102 – 0,552 phần lớn nằm trong quy chuẩn môi trường cột B1, sang thời điểm chân triều do ảnh hưởng của nước

thải sinh hoạt và sản xuất đổ ra hàm lượng N-NH4+ tăng lên rất lớn so với thời điểm đỉnh triều và dao động từ 0,365 – 1,39mg/l.



2.7. Biến đổi hàm lượng P-PO43- trong nước

Trong các nguồn nước tự nhiên phốt phát thường rất thấp không đủ để cho thực vật phát triển, trong quá trình biến dưỡng các hợp chất

hữu cơ, phơt pho được giải phóng là điều kiện kích thích sự phát triển của thực vật thuỷ sinh. phốt pho do rửa trôi từ các vùng sản xuất

nông nghiệp cũng là nguồn cung cấp một lượng lớn cho các thủy vực.

Kết quả xác định hàm lượng P-PO43- trong nước được thể hiện trên hình 8



Hình 8: Diễn biến hàm lượng P- PO43- tại các trạm quan trắc theo thời gian

Từ hình cho thấy hàm lượng P- PO43- thay đổi khá lớn, dao động từ 0,026 – 0,55 mg/l. Cũng có sự khác biệt đáng kể về hàm lượng PPO43- theo không gian và thời gian. Tại các trạm quan trắc từ N1 – N5 hàm lượng P- PO 43- khá thấp, dao động từ 0,034 – 0,10 mg/l và

khơng có sự sai khác lớn theo chế độ thủy triều trong ngày.



Tại các trạm từ N6 – N20 hàm lượng P- PO43- dao động từ 0,026 – 0,55 mg/l và có sự khác biệt rõ ràng theo chế độ triều trong ngày. Tại

lúc chân triều do tác động của khối nước thải sinh hoạt và sản xuất đổ ra làm hàm lượng P- PO 43- nước gia tăng rất lớn (dao động từ 0,13

– 0,55mg/l) trong khi dưới tác động của dòng triều pha lỗng và hạn chế phát thải nước thải nên tại thời điểm đỉnh triều hàm lượng PPO43- khá thấp so với thời điểm chân triều và chỉ dao động từ 0,026 – 0,226 mg/l.



2.8. Hiện tượng nhiễm khuẩn nguồn nước

Trong các thủy vực tự nhiên thường có nhiều loại vi sinh vật sinh sống tham gia vào quá trình làm sạch nguồn nước, bên cạnh các vi

sinh vật có lợi khơng ảnh hưởng đến con người cũng như động vật thì cũng tồn tại nhiều nhóm vi sinh vật có thể gây bệnh hay ảnh

hưởng đến sức khỏe con người, động vật đặc biệt là các vi sinh vật có nguồn góc từ phân động vật máu nóng.

Fecal coliform được sử dụng như là vi sinh vật chỉ thị mức độ ơ nhiễm chất thải có nguồn gốc từ phân động vật máu nóng nó cũng được

sử dụng như là chỉ số để đánh giá tình trạng vệ sinh môi trường trong các vùng. Kết quả xác định Fecal coliform tại các trạm được thể

hiện trên hình 9



Hình 8: Diễn biến chỉ số Fecal coliform tại các trạm quan trắc theo thời gian

Từ hình cho thấy chỉ số F. coliform có biến đổi rất lớn dao động từ 180 – 54.000MPN/ml chứng tỏ nguồn nước ln có dấu hiệu nhiễm

khuẩn khá nặng từ phân động vật. Các số liệu cho thấy vào thời điểm chân triều mức độ nhiễm khuẩn nguồn nước trầm trọng hơn rất

nhiều so với thời điểm đỉnh triều. Điều này cũng phản ánh tác động tiêu cực của nước thải từ TP. Cà Mau đến môi trường nước trong

khu vực là khá trầm trọng.



2.9. Nhận xét chung về chất lượng nước trong khu vực dự án

Từ kết quả đo đạc ngoài thực địa, phân tích trong phòng thí nghiệm kết hợp với khảo sát ngồi thực tế chúng tơi có những nhận xét sau:

Mặc dù nằm trong vùng đất bị nhiễm phèn tuy nhiên giá trị pH của nước luôn khá cao (dao động từ 6,2 – 7,41) chứng tỏ tại thời

điểm quan trắc không thấy tác động tiêu cực của phèn đến môi trường nước.

Thời điểm quan trắc đã gần cuối mùa mưa tuy nhiên mặn vẫn xuất hiện tại hầu hết các trạm quan trắc vào thời điểm đỉnh triều tại

các trạm có sự lưu thơng lớn độ mặn vẫn trong khoảng từ 3,8 – 5,6 ‰ chứng tỏ nguồn nước ngọt trong vùng khá ít mà chủ yếu bị

chi phối của khối nước có nguồn gốc từ biển.

Chất lượng nước có sự phân bố theo khơng gian và thời gian (thay đổi theo chế độ triều trong ngày):

 Tại các trạm ít có sự lưu thơng (N3, N4, N6) hoặc lưu thơng có sự điều tiết (N1, N2) khơng có sự khác biệt nhiều theo chế độ

của thủy triều.

 Tại các trạm trên kênh chính có sự lưu thơng tốt (N7 – N20) chất nước nước có sự thay đổi rõ ràng theo chế độ thủy triều

 Tại thời điểm chân triều nước thải sinh hoạt từ TP. Cà Mau và nước thải từ sản xuất đổ ra đã làm môi trường nước bị ô nhiễm

khá năng đặc biệt tại các trạm N6 – N14, N17 giá trị BOD5 luân lớn hơn 25mg/l chứng tỏ nguồn nước bị ô nhiễm khá nặng

bởi hợp chất hữu cơ.

Chế độ thủy triều đã có tạc dụng pha lỗng và rửa trơi chất ơ nhiễm trong các kênh rạch biểu hiện thông qua hàm lượng các chất

ô nhiễm giảm rất nhiều so với thời điểm chân triều.



Hoạt động của cống Cà mau có tác dụng rõ ràng trong cải thiện mơi trường nước phía ngoài cống mặc dù đây cũng là khu vực

thường xuyên bị ảnh hưởng của nước thải sinh hoạt tuy nhiên vào lúc chân triều nhờ dòng chảy từ kênh Quảng Lộ đã có tác dụng

pha lỗng và rửa trơi chất ơ nhiễm trong khu vực này.



III.



TÍNH TỐN CHỈ SỐ CHẤT LƯỢNG NƯỚC WQI

3.1.



Phương pháp tính chỉ số WQI đưa ra bởi TS Tôn Thất Lãng (phương pháp Delphi)



Bước 1: Lựa chọn các thông số: BOD; DO; TSS; Tổng N; pH; Coliform.

Bước 2: Tính tốn chỉ số phụ (phương pháp Delphi và Rating Curve)

Các chỉ số phụ tính tốn như sau: (thang đo 0-10)

- BOD5: y= -0,0006x2 – 0,1491x + 9,8255

- DO: y= 0,0047x2 + 1,20276x – 0,0058

- TSS: y= 0,0003x2 – 0,1304x + 11,459

- pH: y= 0,0862x4 – 2,4623x3 + 24,756x2 – 102,23x + 150,23

- N: y= -0,04x2 – 0,1752x + 9,0244

- Coliform: y= 179,39x – 0,4067

Bước 3: Trọng số - phương pháp Delphi

Thông qua việc lấy ý kiến của 40 nhà khoa học về mội trường, có bảng các trọng số như sau:

Bảng 2.6 Trọng số tính theo phương pháp Delphi

Thông số

BOD5

DO

TSS

pH



Trọng số

0,23

0,18

0,16

0,15



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

II. DIỄN BIẾN CHẤT LƯỢNG NƯỚC

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×