Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Bài toán 3: Một cửa hàng đã bán được 215 tạ gạo nếp và gạo tẻ, sau đó cửa hàng lại bán thêm được 37 tạ gạo nếp nữa và như vậy cửa hàng đã bán được số gạo nếp nhiều hơn gạo tẻ là 68 tạ. Hỏi cửa hàng đã bán được bao nhiêu tạ gạo mỗi loại. (Dựa vào hai bài t

Bài toán 3: Một cửa hàng đã bán được 215 tạ gạo nếp và gạo tẻ, sau đó cửa hàng lại bán thêm được 37 tạ gạo nếp nữa và như vậy cửa hàng đã bán được số gạo nếp nhiều hơn gạo tẻ là 68 tạ. Hỏi cửa hàng đã bán được bao nhiêu tạ gạo mỗi loại. (Dựa vào hai bài t

Tải bản đầy đủ - 0trang

Sau khi nghiên cứu và thực hiện dạy học sinh dạng tốn trên tơi nhận ra

chúng ta có thể áp dụng các biện pháp hướng dẫn phân tích bài tốn vào các

dạng toán khác và ứng dụng dạy cho tất cả các khối lớp ở tiểu học.

Đối với giáo viên: Đã tự học tập và có kinh nghiệm trong dạy tốn nói

chung và trong việc dạy giải tốn rói riêng, đồng thời giúp cho bản thân nâng

cao được tay nghề và đó áp dụng được các phương pháp đổi mới cho tất cả các

môn học khác.

Đối với học sinh: Các em dã nắm chắc được từng dạng bài, biết cách tóm

tắt, biết cách phân tích đề, lập kế hoạch giải, phân tích kiểm tra bài giải. Vì thế

nên kết quả mơn tốn của các em có nhiều tiến bộ. Giờ học tốn là giờ học sơi

nổi nhất. Như vậy rèn cho các em có phương pháp học là biện pháp tốt nhất của

người làm công tác giáo dục.

Là người giáo viên được phân công giảng dạy khối lớp 4. Tôi nhận thấy

việc tích luỹ kiến thức cho các em là cần thiết, nó tạo tiền đề cho sự phát triển trí

thức của các em khi các em đã có "nền tảng" kiến thức vững chắc thì nó sẽ tạo

đà và niềm tin để tiếp tục học lên lớp trên và hỗ trợ các mơn học khác.

Khi làm một việc có kết quả như mình mong muốn phải có sự kiên trì và

thời gian khơng phải một tuần, hai tuần là học sinh sẽ có khả năng giải tốn tốt,

mà đòi hỏi phải tập luyện trong một thời gian dài trong suốt cả quá trình học tập

của các em. Giáo viên chỉ là người hướng dẫn, đưa ra phương pháp, còn học

sinh sẽ là người đóng vai trò hoạt động tích cực tìm ra tri thức và lĩnh hội nó và

biến nó là vốn tri thức của bản thân.

Do khn khổ của một SKKN và vì điều kiện thời gian có hạn nên trong

đề tài này tôi chỉ mới đưa ra được một số trường hợp của dạng bài “Tìm hai số

khi biết tổng và hiệu của hai số đó” nhằm góp phần đổi mới phương pháp dạy

học, nâng cao hiệu quả dạy - học.

2. Kiến nghị:

Qua tìm hiểu nội dung phương pháp, thực trạng giải tốn nói chung và

giải các bi toỏn có lời văn dạng Tỡm hai s khi biết tổng và hiệu của hai

số đó” nói riêng, từ những ưu điểm và tồn tại của dạy học toán tơi có một số

đề xuất sau:

Để đạt được mục tiêu “Lấy học sinh làm trung tâm” trong quá trình

giảng dạy giáo viên cần kết hợp linh hoạt các phương pháp dạy học truyền

thống với phương pháp dạy học hiện đại, cụ thể như: Khi dạy nội dung kiến

thức mới, giáo viên nên đặt ra tình huống có vấn đề học sinh tự phát hiện

những kiến thức mới trong hoạt động tự tư duy sáng tạo của bản thân học

sinh, giờ học sẽ sơi nổi hơn vì học sinh làm việc thực sự gây hứng thú học tập

cho các em.

Trong dạy giải các bài tốn có văn về chuyển động, sau khi học sinh

giải bài toán trong vở bài tập giáo viên có thể phát triển bài tốn bằng cách:

Đối với học sinh khá giỏi, giáo viên yêu cầu học sinh tự tóm tắt, tự đặt đề

14



tốn rồi giải. Đối với học sinh đại trà, giáo viên thay đổi số liệu, đối tượng

của bài rồi yêu cầu học sinh giải.

Dạy học sinh gii dạng toán Tìm hai số khi biết tổng và

hiệu của hai số đó cn dy hc sinh bit tóm tắt đề tốn, biểu thị bài

tốn bằng sơ đồ đoạn thẳng hoc hỡnh v (i vi bi toỏn cú văn) để

giải, giáo viên cần chú trọng khâu hướng dẫn học sinh vẽ sơ đồ. Muốn vẽ

được sơ đồ chính xác trước hết phải hiểu đề tốn, phân tích kỹ đề tốn. Tìm ra

mối quan hệ của dữ kiện bài toán, chỉ rõ cho học sinh bài toán cho biết gì?

Yêu cầu phải làm gì? muốn làm được như vậy thì cần những điều kiện gì?

Học sinh hiểu đề tốn như vậy các em mới có kế hoạch định ra hướng giải

quyết vấn đề được nêu. Khi dạy kiến thức mới, giáo viên nên đặt ra các tính

huống có vấn đề để học sinh tự giải quyết.

Đặc biệt cần hạn chế việc giáo viên tóm tắt đề mẫu lên bảng cho các em

sao chép lại. cần đề cho các em tự tìm hiểu, tự tóm tắt đề tốn, giáo viên chỉ

là người tổ chức, hướng dẫn sửa chữa thì các em mới hiểu và tự giải được

các bài tập, tôn trọng ý kiến của học sinh để rút ra ý kiến hay nhất.

Trên đây là những ý kiến nhỏ của bản thân nhằm nâng cao chất lượng

dạy học giải “C¸c bi toán Tìm hai số khi biết tổng và hiệu cđa

hai sè ®ã”. Do năng lực của bản thân có hạn và thời gian nghiên cứu chưa

được nhiều, nên không tránh khỏi những sai sót. Tơi rất mong BGH nhà

trường và các bạn đồng nghiệp, các nhà chun mơn vµ Hội đồng khoa

học ngành gúp ý sỏng kin ca tơi được hồn thiện hơn.

Tơi xin chân thành cảm ơn!



XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ



Sơn Điện,, ngày 20 tháng 4 năm 2018

Tôi xin cam đoan đây là SKKN của mình viết,

khơng sao chép nội dung của người khác.

Người viết



Trần Văn Hải



15



TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Bợ sách Tốn lớp 4.

2. Phương phap dạy học các môn học ở lớp 4 - Tập một - BGD - ĐT nhà

XBGD.

3. Giáo trình PP dạy học toán ở Tiểu học -NXB Đại học sư phạm Hà Nội.

4. Phân loại và PP giải bài tập tốn 4 (Nhà giáo ưu tú: Phạm Đình Thực) NXB-TPHCM.

5. Các dạng toán cơ bản ở lớp 4 ( PGS-NGUT: Vũ Duy Thụy -Nguyễn

Danh Ninh)



16



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Bài toán 3: Một cửa hàng đã bán được 215 tạ gạo nếp và gạo tẻ, sau đó cửa hàng lại bán thêm được 37 tạ gạo nếp nữa và như vậy cửa hàng đã bán được số gạo nếp nhiều hơn gạo tẻ là 68 tạ. Hỏi cửa hàng đã bán được bao nhiêu tạ gạo mỗi loại. (Dựa vào hai bài t

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×