Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
PHẦN II: NỘI DUNG

PHẦN II: NỘI DUNG

Tải bản đầy đủ - 0trang

nào? vì sao?. . . lúc này câu hỏi thực sự trở thành nhiệm vụ của quá trình nhận

thức. Câu hỏi chịu ảnh hưởng của động cơ, nhu cầu hiểu biết của con người ngày

càng lớn thì việc đặt ra câu hỏi ngày càng nhiều. Vì vậy trong câu hỏi luôn chứa

đựng động cơ, nhu cầu của con người muốn hỏi. Trong dạy học việc xác định

những điều đã biết, chưa biết hoặc còn đang nghi ngờ để đặt ra những câu hỏi

phù hợp là điều không thể thiếu.

1.2. Vai trò của câu hỏi

Câu hỏi là phương tiện dùng trong dạy và học, là nguồn để hình thành kiến

thức, kỹ năng cho học sinh. Khi tìm được câu trả lời là người học đã tìm ra được

kiến thức mới, rèn được kỹ năng xác định mối quan hệ, đồng thời sử dụng được

những điều kiện đã cho, như vậy là vừa củng cố kiến thức, vừa nắm vững và mở

rộng kiến thức. Câu hỏi là phương tiện để rèn luyện và phát triển tư duy.

Khi trả lời câu hỏi học sinh phải phân tích xác định mối quan hệ, so sánh,

đối chiếu những điều đã cho và những điều cần tìm đòi hỏi phải suy nghĩ logic.

Người học phải ln ln suy nghĩ do đó tư duy được phát triển. Cũng qua việc

tìm câu trả lời mà lơi cuốn thu hút người học vào nhiệm vụ nhận thức do đó

người học luôn cố gắng.

Câu hỏi phát huy năng lực tự lực nếu được giáo viên sử dụng thành cơng

còn có tác dụng gây được hứng thú nhận thức khát vọng tìm tòi dựa trên năng

lực tự lực cho học sinh. Cho phép giáo viên thu được thông tin ngược về chất

lượng lĩnh hội kiến thức của học sinh. (không chỉ là chất lượng kiến thức mà cả

về chất lượng tư duy). Những thông tin này giúp giáo viên điều chỉnh quá trình

dạy học một cách linh hoạt.

Câu hỏi phát huy năng lực tự lực được sử dụng phổ biến thích hợp cho hầu

hết các bài và thường được sử dụng phối hợp với các phương pháp dạy học khác

góp phần nâng cao chất lượng dạy học.

1.3. Các loại câu hỏi

- Câu hỏi vô cùng đa dạng, trong dạy học câu hỏi được sử dụng trong nhiều

trường hợp. Tuy nhiên không phải với nội dung nào của bài học đều có sẵn

những câu hỏi phù hợp với mọi đối tượng học sinh. Vì vậy trong những trường

hợp khác nhau giáo viên phải tự xây dựng câu hỏi để hướng dẫn học sinh tự

nghiên cứu để phát hiện kiến thức. Khi lựa chọn và xây dựng câu hỏi giáo viên

phải nắm vững các dạng câu hỏi. Câu hỏi chỉ phát huy được tác dụng dạy học

khi ta sử dụng câu hỏi phù hợp với mục tiêu bài học đồng thời vừa sức đối với

học sinh.

Có những câu hỏi sau:

1.3.1. Câu hỏi để kiểm tra kết quả thực hiện mục tiêu bài học, bao gồm có

những loại sau:

- Câu hỏi để kiểm tra sự ghi nhớ kiến thức đã học.

- Câu hỏi để kiểm tra sự nắm vững bản chất của kiến thức (nghĩa là nêu lại,

giải thích nội dung kiến thức đã hội đỉnh).

- Câu hỏi kiểm tra vận dụng kiến thức vào giải quyết một nhiệm vụ nhận

thức mới.

3



- Câu hỏi để kiểm tra sự nắm vững nội dung của kiến thức nghĩa là xác định

được vai trò, ý nghĩa của kiến thức trong lí luận và thực tiễn.

- Câu hỏi để kiểm tra thái độ, hành vi sau khi học tập một chủ đề nào đó.

1.3.2. Câu hỏi để hình thành, phát triển năng lực nhận thức bao gồm nhưng

loại câu hỏi sau:

- Câu hỏi rèn kĩ năng quan sát.

- Câu hỏi rèn kĩ năng phân tích.

- Câu hỏi rèn kĩ năng tổng hợp.

- Câu hỏi rèn kĩ năng so sánh.

1.3.3. Dựa vào các giai đoạn của quá trình dạy học để sử dụng câu hỏi bao

gồm:

- Câu hỏi hình thành kiến thức mới: là câu hỏi phải có vấn đề yêu cầu hoạt

động tư duy, hệ thống câu hỏi phải có tính logic nhất định hình thành kiến thức

mới.

- Câu hỏi củng cố hình thành kiến thức mới: Câu hỏi này thường có tính

khái qt hướng vào vấn đề trọng tâm có tính chất khắc sâu, hệ thống hóa kiến

thức.

- Câu hỏi kiểm tra đánh giá: loại câu hỏi này phải có tính tổng hợp và tập

trung vào kiến thức trọng tâm.

1.3.4. Dựa vào mối quan hệ của câu hỏi, bài tập cần xác định người ta chia ra:

- Câu hỏi định tính.

- Câu hỏi định lượng.

1.3.5 Dựa vào cách trình bày, trả lời người ta chia ra:

- Câu hỏi tự luận: loại câu hỏi này thường hỏi dễ dàng theo hướng cụ thể.

- Câu hỏi trắc nghiệm khách quan.

1.3.6 Dựa vào nội dung mà câu hỏi phản ánh người ta chia ra:

- Câu hỏi nêu ra các sự kiện.

- Câu hỏi xác định dấu hiệu bản chất.

- Câu hỏi xác định mối quan hệ.

- Câu hỏi xác định ý nghĩa lí luận hay thực tiễn của kiến thức.

- Câu hỏi xác định cơ chế.

- Câu hỏi xác định phương pháp khoa học.

Dựa vào nhiều tiêu chuẩn khác nhau để phân loại nên câu hỏi ở loại này có

thể thuộc về loại khác

Trong dạy học người ta thường sử dụng các câu hỏi để người học tự hình

thành và hình thành nhân cách. Do đó 6 loại câu hỏi nêu trên được sử dụng trong

dạy học Ngữ văn.

Tuy vậy câu hỏi để phát huy năng lực tự lực của học sinh trong dạy bài “ Từ

đồng âm” có thể áp dụng các loại câu hỏi sau:

1.4. Các loại câu hỏi phát huy năng lực tự lực.

1.4.1 Câu hỏi kiểm tra kiến thức.

Mục đích của dạng câu hỏi này là kiểm tra sự ghi nhớ kiến thức đã học,

nắm vững được bản chất kiến thức, giải thích và vận dụng kiến thức đã học vào

4



giải quyết nhiệm vụ mới hoặc xác định ý nghĩa của kiến thức trong lí luận và

trong thực tiễn.

1.4.2. Câu hỏi hình thành phát triển năng lực nhận thức.

Các phần nội dung bài học của Ngữ văn 7 đều có phần cung cấp thơng tin,

hoặc hướng dẫn học sinh thu thập các thông tin (là các sự vật hiện tượng đời

sống, một tư tưởng đạo lí, cảm thụ bài thơ, đoạn thơ, tác phẩm truyện qua từ

ngữ. . .) giáo viên cần xây dựng câu hỏi rèn luyện kĩ năng quan sát, phân tích,

tổng hợp, so sánh, quy nạp. . . để phát triển năng lực nhân thức, cảm thụ.

1.4.3. Câu hỏi hình thành kiến thức mới.

1.4.4. Câu hỏi để củng cố hoàn thiện kiến thức.

1.4.5. Câu hỏi trắc nghiệm.

1.4.6. Câu hỏi liên hệ thực tế.

Ngoài những câu hỏi trên còn có nhiều cách phân loại khác. Mỗi cách đều

có ý nghĩa riêng, có vai trò khác nhau đối với quá trình dạy học. Từ cách phân

loại trên ta thấy rằng câu hỏi nói chung, câu hỏi phát huy năng lực tự lực nói

riêng đều có vai trò rất quan trọng đối với q trình dạy học.

2.Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm

Qua tiến hành khảo sát thực trạng dạy học ngữ văn nói chung và thực trạng

xây dựng câu hỏi theo hướng phát huy năng lực tự lực tôi đã tiến hành điều tra,

quan sát sư phạm, dự giờ trao đổi với các đồng nghiệp và tham khảo ý kiến .

Kết quả theo bảng thống kê:



Vai trò của việc xây

Số người

Tỷ lệ

Ghi chú

dựng câu hỏi

(10)

(%)

- Quan trọng

6

60

- Khá quan trọng

3

30

- Bình thường

1

10

- Khơng quan trọng

0

0

Phần lớn các giáo viên được hỏi đều trả lời có xây dựng câu hỏi nhưng chủ

yếu dựa vào câu hỏi có sẵn. Số ít các thầy cơ (thường là giáo viên giỏi) đã ít

nhiều sử dụng một số biện pháp xây dựng câu hỏi.

Qua kết quả nêu trên tơi có thể nhận thấy: Phần lớn giáo viên đã có ý thức

xây dựng câu hỏi theo hướng phát huy năng lực tự lực của học sinh, giáo viên đã

nhận thấy vai trò to lớn của câu hỏi phát huy năng lực tự lực trong hoạt động

nhận thức của học sinh.

Tuy nhiên việc xây dựng câu hỏi chỉ là hình thức, giáo viên khơng quan

tâm biện pháp xây dựng hoặc không xây dựng được biện pháp câu hỏi, mà giáo

viên xây dựng phần lớn là những câu hỏi có sẵn, chưa thực sự phù hợp với từng

đối tượng học sinh nên chưa thực sự phát huy năng lực tự lực của các em. Giáo

viên xây dựng câu hỏi chưa có định hướng lý luận, có quy trình cụ thể nào cho

nên chất lượng câu hỏi còn nhiều hạn chế.

Do rất nhiều nguyên nhân khác nhau nhưng nguyên nhân cơ bản nhất là

giáo viên chưa có cơ sở lý thuyết để chỉ đạo, giáo viên chưa nắm được quy trình,

biện pháp để xây dựng câu hỏi nên hệ thống câu hỏi mà giáo viên xây dựng chất

5



lượng chưa cao. Nếu có cơ sở chỉ đạo, có quy trình tất thì chắc chắn chất lượng

các câu hỏi sẽ cao hơn.

3. Giải pháp xây dựng để giải quyết vấn đề.

3.1. Cấu trúc của câu hỏi

Câu hỏi bao giờ cũng chứa đựng hai thành phần đó là điều đã biết và điều

cần tìm.

Ví dụ: Quan sát bài ca dao sau:

Bà già đi chợ Cầu Đơng

Bói xem một quẻ lấy chồng lợi chăng.

Thầy bói xem quẻ nói rằng.

Lợi thì có lợi nhưng răng khơng còn.

? So sáng sự giống nhau và khác nhau của từ “Lợi” trong bài ca dao trên ?

Từ “Lợi” thuộc hiện tượng từ gì ?

* Điều đã biết là gì? Đó là những kiến thức mà các em đã được thu nhận

trước đó. Hay cụ thể là những thông tin thể hiện thông tin thể hiện qua kênh chữ

hoặc kênh hình.

Ngồi ra điều đã biết của các em còn là vốn kiến thức, vốn kinh nghiệm mà các

em đã đúc kết được, quan sát được trong cuộc sống. Thế giới xung quanh chúng ta vô

cùng phong phú và hấp dẫn. Cùng với sự lớn lên của các em thì kho tàng kiến thức

mà các em tích luỹ được ngày càng nhiều, mở rộng những điều đã biết.

* Thế nào là những điều cần tìm? Điều cần tìm chính là chính là nội dung

cơ bản nhất, cần tìm là nhiệm vụ mà giáo viên đề ra cho học sinh phải giải quyết,

là mối quan hệ giữa các hiện tượng hay đặc điểm bản chất, hay xác định giá trị

hay kỹ năng vận dụng phương pháp luận hay nguyên nhân giải thích. Trong thực

tế điều cần tìm phải vừa sức với từng đối tượng học sinh.

* Khi xây dựng câu hỏi đã cho và điều cần tìm, ln có quan hệ chặt chẽ

với nhau. Điều cần tìm chỉ thực hiện được khi dựa vào điều đã cho một các đầy

đủ, nếu điều đã cho khái quát thì điều tìm được cũng khái quát, nếu điều đã cho

cụ thể, chi tiết thì điều tìm được cũng cụ thể, chi tiết.

Trong thực tiễn bao giờ nguyên nhân cũng xuất hiện từ trước từ đó mới

xuất hiện khái quát nhưng trong nhận thức thì dựa vào kết quả để tìm nguyên

nhân. Do vậy giáo viên có thể xây dựng câu hỏi theo điều đã biết câu đó nêu

điều cần tìm hoặc ngược lại.

3.2. Yêu cầu sư phạm của câu hỏi

Câu hỏi là phương tiện quan trọng để tổ chức các hoạt động dạy học nói

chung, học sinh nói riêng, câu hỏi cần đảm bảo các yêu cầu sau:

- Câu hỏi là công cụ, phương tiện dạy học. Cũng như nội dung kiểm tra và

tự kiểm tra kết quả học tập.

- Câu hỏi phải mã hố được lượng thơng tin quan trọng đã trình bày dưới

dạng thông báo phổ biến kiến thức, thành dạng nêu ra vấn đề học tập.

- Câu hỏi phải được diễn đạt gọn, súc tích, rõ ràng chứa đựng hướng trả lời.

- Câu hỏi phải diễn đạt điều cần hỏi.



6



- Câu hỏi phải có tác dụng kích thích tư duy phát huy năng lực tự lực của

học sinh.

3.3. Quy trình xây dựng câu hỏi theo hướng phát huy năng lực tự lực

của học sinh.

3.3.1. Nguyên tắc chung

- Câu hỏi tập trung vào vấn đề nghiên cứu.

- Câu hỏi mang tích chất nêu vấn đề, buộc học sinh phải luôn ở trạng thái

có vấn đề.

- Hệ thống câu hỏi - lời giải đáp thể hiện một cách logic chặt chẽ, các bước

giải quyết một vấn đề lớn tạo nên nội dung trí dục chủ yếu của bài, là nguồn tri

thức cho học sinh.

- Trong nhiều trường hợp giáo viên nên nêu ra nhiều câu hỏi gây sự tranh

luận. Trong cả lớp, tạo điều kiện phát triển tính độc lập tư duy của học sinh, lập

luận theo quan điểm riêng của mình.

3.3.2. Để thiết kế được câu hỏi nói chung và câu hỏi phát huy năng lực tự

lực nói riêng cần thực hiện theo quy trình sau:

Các bước

Nội dung thực hiện

tiến hành

1

- Xác định rõ và đúng mục tiêu của câu hỏi

- Liệt kê những cái cần hỏi và sắp xếp những cái cần hỏi theo một

2

trình tự phù hợp với các hoạt động học tập

3

- Diễn đạt các câu hỏi

4

- Xác định những nội dung cần trả lời

- Chỉnh sửa lại nội dung và hình thức diễn đạt để đưa câu hỏi vào sử

5

dụng

3.3.3. Giải thích quy trình

3.3.3.1. Xác định rõ và đúng mục tiêu câu hỏi ?

Nghĩa là muốn học sinh trả lời ở mức độ nào về kiến thức, tư duy, kĩ năng

như vậy giáo viên phải nắm vững mục tiêu bài dạy, biện pháp tổ chức thực hiện

bài dạy năng lực của học sinh.

3.3.3.2. Liệt kê cái cần hỏi và sắp xếp những cái cần hỏi theo một trình tự

nhất định phù hợp với các trình tự hoạt động học tập.

Trong mỗi nội dung mỗi bài có nhiều thơng tin kiến thức, giáo viên có thể

xây dựng nhiều câu hỏi dựa vào các thơng tin, kiến thức đó. Việc xây dựng và sử

dụng câu hỏi phát huy năng lực tự lực chỉ có hiệu quả khi được xây dựng và đặt

vào đúng vị trí với nội dung và mục đích phù hợp. Vì vậy hệ thống câu hỏi phải

sắp xếp theo một trình tự logic nhất định (phù hợp với nội dung bài dạy và theo

trình tự hoạt động các hoạt động học tập) để hình thành nên kiến thứ mới, rèn

luyện nên các thao tác tư duy, hình thành nên kĩ năng, kĩ sảo, các câu hỏi phát

huy năng lực tự lực phải có tính kế thừa hỗ trợ nhau tạo nên tri thức hoàn chỉnh.

3.3.3.3. Diễn đạt cái cần hỏi

7



- Mỗi câu hỏi đều chứa đựng hai nội dung: Điều đã biết và điều cần tìm.

Điều đã biết và điều cần tìm có quan hệ với nhau, điều đã biết và điều cần tìm là

cơ sở để suy ra điều cần tìm, hay điều cần tìm là hệ quả của điều đã biết.

- Điều đã biết là những thông tin được nêu trong sách giáo khoa hay những

kiến thức vẫn được thu nhận trước đó, điều đã biết thể hiện qua kênh chữ hoặc

kênh hình.

- Điều cần tìm là mối quan hệ giữa các hiện tượng hay đặc điểm bản chất,

hay xác định kỹ năng ứng dụng, phương pháp luận hay nguyên nhân giải thích .

Dựa vào đó giáo viên có thể diễn đạt trong câu hỏi theo trình tự khác nhau: Điều

đã biết - điều cần tìm hay điều ngược lại.

3.3.3.4. Xác định nội dung cần trả lời

Tìm nội dung trả lời để xác định câu hỏi có trả lời được hay khơng? Câu trả

lời có phù hợp với trình độ của học sinh hay không? Nếu không cần sửa lại như

thế nào?

3.3.3.5. Chỉnh sửa lại nội dung và hình thức diễn đạt câu hỏi để đưa vào sử

dụng.

Đây là khâu cuối cùng, câu hỏi lúc này giống như viên ngọc đã được gọt

rũa cẩn thận để đưa vào sử dụng nhằm đạt hiệu quả cao nhất.

*Ví dụ minh hoạ: Xây dựng câu hỏi phát huy năng lực tự lực khi dạy mục I.

Thế nào là từ đồng âm ? ta có thể làm như sau:

+ Mục tiêu xây dựng câu hỏi là:

Tìm ra nghĩa của từ “Lồng” trong các ngữ cảnh khác nhau. Sau đó tìm

xem chúng có liên quan đến nhau hay khơng. Từ đó rút ra kết luận về khái

niệm như thế nào là từ đồng âm và có đáp án cho phần mở bài khi nêu tình

huống có vấn đề ở trên.

+ Liệt kê những câu hỏi và những điều đã biết.

- Cái đã biết:

+ Nghĩa của từ “Lồng” trong các ngữ liệu( theo từ điển tiếng việt).

+ Mỗi từ “lồng” trong các ngữ liệu trên thuộc từ loại gì( đã học từ loại ở

lớp 6)

- Cái cần hỏi:

+ Sau khi hiểu nghĩa của từ “Lồng” rồi em cho biết nghĩa của chúng có

liên quan gì với nhau khơng?

+ Từ sự phân tích trên rút ra khái niệm như thế nào là từ đồng âm?

+ Tìm hiện tượng đồng âm mà em biết trong cuộc sống hoặc trong văn

học ?

- Chỉnh sửa lại câu hỏi và ý trả lời

3.4. Xây dựng câu hỏi để dạy bài 11.

CÁC CÂU HỎI ĐỂ DẠY BÀI 11 : TỪ ĐỒNG ÂM.

ND1 – Thế nào là từ đồng âm ?

1. Giải thích nghĩa của mỗi từ “lồng” trong các ngữ liệu trên ?

2. Từ “lồng” trong câu “ con ngựa đang đứng bỗng lồng lên? Thuộc từ loại gì?

và trong câu “Mua được con chim, bạn tơi nhốt ngay vào lồng” thuộc từ loại gì?

8



3. Em cho biết nghĩa của 2 từ “lồng” có liên quan gì với nhau khơng?

4. Từ sự phân tích ngữ liệu em rút ra khái niện như thế nào là từ đồng âm?

5. Vận dụng lí thuyết vừa rút ra làm bài tập nhanh: BT 1:Xác định cặp từ

đồng âm trong các câu sau và giải thích nghĩa của cặp từ đồng âm đó? “ Những

đơi mắt sáng thức đến sáng”; BT1: Tìm hiện tượng đồng âm trong đời sơng hằng

ngày hoặc trong ca dao, tục ngữ? (Ví dụ: Ruồi đậu mâm xơi, mâm xơi đậu; Kiến

bò đĩa thịt, đĩa thịt bò…)

ND2 – Sử dụng từ đồng âm

1. Nhờ đâu mà em phân biệt được nghĩa của từ “lồng” trong hai câu trên?

2.Quan sát hình Ngữ liệu 2 từ “kho”:

+ Nếu tách khỏi ngữ cảnh từ “kho” hiểu thành mấy nghĩa?

+ Vậy để từ “kho” được hiểu rõ ràng theo 2 nghĩa trên. Em hãy thêm vào

câu văn trên một số từ để câu trở thành đơn nghĩa ?

3. Từ việc xét ngữ liệu trên hãy cho biết: Để tránh những hiểu lầm do hiện

tượng đồng âm gây ra, cần phải chú ý điều gì khi giao tiếp?

4. Nhờ vào hiện tượng đồng âm mà trong thơ văn các tác giả hay sử dụng

và coi đó là 1 biện pháp nghệ thuật em hãy tìm và phân tích để thấy hiệu quả

diễn đạt mà từ đồng âm mang lại?

ND 3 – Luyện tập

1. Dựa vào từ điển Tiếng việt và kiến thức về từ đồng âm hãy tìm từ đồng

âm với mỗi từ sau: Thu, cao, ba, tranh, sang, nam, sức, nhè, tuốt, môi. Gợi ý như

từ Thu-> mùa thu, thu tiền…

2. a. Tìm nghĩa khác nhau của danh từ “cổ” và giải thích mối liên hệ giữa

các nghĩa đó?

b. Tìm từ đồng âm với danh từ “cổ” và cho biết nghĩa của từ đó?

3. Đặt câu với mỗi cặp từ đồng âm sau: Bàn(danh từ)- bàn(động từ);

Sâu(danh từ)- sâu(tính từ); năm(danh từ)- năm(số từ).

4. Cho học sinh đọc câu chuyện trong SGK( bảng phụ):

+ Anh chàng ấy đã sử dụng biện pháp gì để khơng trả lại cái vạc cho người

hàng xóm?

+ Nếu em là viên quan xử kiện, em sẽ làm thế nào để phân rõ phải trái?

ND4 - Kiểm tra đánh giá

1.Em hãy đánh dấu X vào những câu tục ngữ ca dao sử dụng từ đồng

nghĩa:

- Xấu người đẹp nết còn hơn tốt đồ.

- Con mẹ đẻ con con

- Chữ tài đi với chữ tai một vần.

- Nói hay hơn hay nói.

- Cưỡi ngựa xem hoa.

- Ăn cơm cáy thì ngáy oo

2. Tìm từ đồng âm trong câu thơ sau và giải nghĩa:

- Tôi trở về quê Bác làng Sen.

- Ôi hoa sen đẹp của bùn đen.

9



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

PHẦN II: NỘI DUNG

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×