Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Tổng quan về nấm Rhizoctonia solani

Tổng quan về nấm Rhizoctonia solani

Tải bản đầy đủ - 0trang

Rhizoctonia solani có lịch sử rất lâu đời, đã được phát hiện đầu tiên trên cây khoai tây ở

Châu Âu

Rhizoctonia solani là loài nấm rất phổ biến xuất hiện trên khắp các vùng trơng trọt

trên thế giới và có mặt trên tất cả các loại đất canh tác. Nguyên nhân là do lồi này có

phạm vi ký chủ rất rộng, trên mọi vùng sinh thái trồng trọt. Bệnh đốm vẳn trên lúa do

nâm Rhizoctonia solani gây ra được tìm thấy ở các nước nhiệt đới Châu Á (Philippines

1985, Srilanka 1985, Malaysia 1980, Việt Nam 1911,..) Dẫn theo Bruch sneh và ctv 1998.

Đã có 67 cơng trình nghiên cứu về bệnh đốm vằn, về lịch sử phát triển, tác hại, phân bơ,

xác định ngun nhân, chu kì phát triển của nấm, một số điều kiện sinh thái, sinh học,

khả năng chống bệnh của một số giống lúa và biện pháp phòng trừ bằng thuốc hóa học

( Hashi Oka và Milano 1970) đã thơng báo có 8 loại nấm gây bệnh đốm vằn trên lúa là

Rhizoctonia solani, Corticium sasaki, C.solani, C.microclerotia, C.graminearum,....

2.3. Triệu chứng bệnh đốm vằn

Bệnh khô vằn gây hại chủ yếu ở một số bộ phận của cây như bẹ lá, phiến lá và cổ

bông. Các bẹ lá sát mặt nước hoặc bẹ lá già ở dưới gốc thường là nơi phát sinh bệnh đầu

tiên.

Vết bệnh ở bẹ lá lúc đầu là vết đốm hình bầu dục màu lục tối hoặc xám nhạt, sau lan

rộng ra thành dạng vết vằn da hổ, dạng đám mây. Khi bệnh nặng, cả bẹ và phần lá phía

trên bị chết lụi.

Vết bệnh ở lá tương tự như ở bẹ lá, thường vết bệnh lan rộng ra rất nhanh chiếm hết

cả bề rồng phiến lá tạo ra từng mảng vân mây hoặc dạng vết vằn da hổ. Các lá già ở dưới

hoặc lá sát mặt nước là nơi bệnh phát sinh trước sau đó lan lên các lá ở trên.



22



Hình 13. Vết bệnh đốm vằn

trên bẹ lúa



Vết bệnh ở cổ bông thường là vết kéo dài bao quanh cổ bơng, hai đầu vết bệnh có

màu xám loang ra, phần giữa vết bệnh màu lục sẫm co tóp lại.



Hình 14. Vết bệnh đốm vằn trên lá lúa

Trên vết bệnh ở các vị trí gây hại đều xuất hiện hạch nấm màu nâu, hình tròn dẹt

hoặc hình bầu dục nằm rải rác hoặc thành từng đám nhỏ trên vết bệnh. Hạch nấm rất dễ

dàng rơi ra khỏi vết bệnh và nổi trên mặt nước ruộng.



23



Hình 15. Hạch nấm bệnh đốm vằn

hình thành trên vết bệnh



2.4. Điều kiện phát sinh, phát triển

Bệnh đốm vằn phát sinh mạnh trong điều kiện nhiệt độ cao và độ ẩm cao. Nhiệt độ

khoảng 24-320C và ẩm độ bão hoà hoặc lượng mưa cao thì bệnh phát sinh phát triển

mạnh, tốc độ lây lan nhanh. Ở nhiệt độ dưới 100C và cao hơn 380C nấm ngừng phát triển.

Hạch nấm hình thành nhiều ở 30-320C, khi nhiệt độ quá thấp <12 0C và nhiệt độ q cao

>400C nấm khơng hình thành hạch. Bệnh thường phát sinh trước tiên ở các bẹ và lá già

sát mặt nước hoặc ở dưới gốc. Tốc độ lây lan lên các lá phía trên phụ thuộc rất nhiều và

thời tiết mưa nhiều, lượng nước trên đồng ruộng quá cao, đặc biệt ở các ruộng nhiều

nước, cấy quá dày.

Sự phát triển của bệnh khô vằn ở thời kỳ đầu từ cây mạ đến đẻ nhánh có mức độ

bệnh ít. Giai đọan đòng trổ đến chín sáp là thời kỳ nhiễm bệnh nặng. Ở miền Bắc nước ta

bệnh khô vằn gây hại trong vụ mùa lớn hơn ở vụ đông xuân.

Sự phát sinh phát triển của bệnh có liên quan nhiều tới chế độ nước trên đồng ruộng và

chế độ phân bón. Bón phân đạm nhiều, bón đạm muộn thúc đòng bệnh sẽ phát sinh phát

triển mạnh hơn. Bón nhiều lần cũng làm cho mức độ bị bệnh cao. Bón Kali có tác dụng là

giảm mức độ nhiễm bệnh của cây.

Nguồn bệnh chủ yếu là hạch nấm tồn tại ở trên đất ruộng và sợi nầm ở gốc rạ và lá bị

bệnh còn sót lại sau thu hoạch. Hạch nấm có thể sống một thời gian dài sau thu hoạch lúa

thậm chí trong điều kiện ngập nước ngắn hạn vẫn có tới 30% số hạch giữ được sức sống,

nảy mầm thành sợi và xâm nhiễm gây bệnh cho vụ sau. Quá trình xâm nhiễm lặp lại

thường xảy ra qua tiếp xúc giữa hạch và bẹ lá lúa.

Chỉ số của đợt gây bệnh lần đầu có liên quan mật thiết với số lượng hạch tiếp xuác

với cây, nhưng sự phát triển của bệnh sau khi tiếp xúc với ký chủ lại chịu ảnh hưởng lớn

của nhiệt độ, ẩm độ và tính mẫn cảm của cây ký chủ.



24



Phản ứng của các giống đều nằm trong phạm vi từ nhiễm nặng đến tương đối chống

chịu. Chưa có giống lúa nào thể hiện đặc tính chống bệnh cao (Hsieh, Wu, Shian, 1965).

Giống lúa Indica chống chịu bệnh tốt hơn giống lúa Japonica (Shian, Lee và Kim, 1965).

Ở nước ta, hầu hết các giống lúa địa phương và giống nhập nội đều có mức độ nhiễm

bệnh khơ vằn từ trung bình đến nhiễm nặm. Một số ít các giống như KV10, IR9965,

IR50, IR17494, OM80,.... có mức độ nhiễm bệnh nhẹ hơn so với các giống khác, lúa

thuần, lúa lai,..

2.5. Lưu tồn và lan truyền

Bệnh đốm vằn lây lan bởi hạch nấm hoặc lây lan từ rơm rạ mắc bệnh và từ cỏ dại có

bệnh ở ven bờ ruộng.

Hạch nấm là bộ phận lây nhiễm chính của nám Rhizoctonia solani vào cây lúa. Hạch

nấm sinh ra từ vết bệnh ở bẹ lúa hoặc ở lá lúa, nhanh chóng rơi xuống nước ruộng và nổi

trên mặt nước. Hạch nấm sẽ sinh ra những sợi nấm nhỏ mọc tia ra xung quanh. Khi sợi

nấm nhỏ tiếp xúc với bẹ lúa của bụi lúa lân cận, sợi nấm sẽ xâm nhập vào bẹ lá lúa và

gây ra vết bệnh mới. Sợi nấm thường len vào mặt trong của bẹ lá lúa để xâm nhập vào

trong vì nơi đây lớp tế bào biểu bì của bẹ lá lúa có vách mỏng, mềm hơn phía ngồi của

bẹ lúa. Sợi nấm cũng có thể xâm nhập vào bẹ hoặc lá lúa qua các khí khẩu, hoặc xâm

nhập trực tiếp qua các lớp biểu bì lành mạnh. Khi xâm nhập trực tiếp qua các lớp biểu bì

lành mạnh, sợi nấm tạo thành cụm sợi nấm, gồm rất nhiều sợi nấm đan xen nhau, qua đó

với sự giúp đỡ của các sợi nấm khác, một sợi nấm đâm xuyên qua lớp vách của tế bào

biểu bì để đi sâu vào tế bào biểu bì của bẹ hoặc lá lúa. Do cách lây lan này, vết bệnh đốm

vằn thường xuất hiện đầu tiên ở nơi tiếp giáp với nước rồi lan dần lên trên. Khi vào được

bên trong tees bào biểu bì của bẹ lúa, sợi nấm nhanh chóng phân nhánh và lan nhanh ra

xung quanh và tạo thành vết bệnh đốm vằn. Sau khi sợi nấm xâm nhập được vào tế bào

biểu bì của bẹ lúa từ một đến hai ngày sau thì hình thành vết bệnh nhỏ dạng vết thấm

nước. Từ đây, vết bệnh lan dần theo hướng đi lên phía ngọn của cây lúa.

Trường hợp ruộng khơng có nước (lúa đã thu hoạch), hạch nấm rơi trên mặt đất, sẽ

lưu tồn (tồn tại) trong đât ruộng trong thời gian nhiều tháng. Trong điều kiện khơ ráo và

nhiệt độ phòng, hạch nấm có thể sống sót đến 20 tháng. Như vậy, sau một vụ lúa có bệnh

đốm vằn sẽ có nhiều hạch nấm rơi trên mặt đất và sẽ là nguồn gây bệnh cho vụ sau.

Rơm rạ có mang vết bệnh đốm vằn rơi vương vãi trên đât ruộng cũng là nguồn gây

bệnh cho vụ sau. Sợi nấm trong rơm rạ có thể tồn tại trong thời gian giữa hai vụ lúa và sẽ

mọc ra để xâm nhiễm vào bẹ hoặc lá lúa khi có cơ hội.

Cỏ dại ven bờ ruộng có mang bệnh đốm vằn, khi bò dài ra sẽ tiếp xúc với lá lúa ở gần

bờ. Sợi nấm bệnh đốm vằn từ trong lá cỏ mọc dài ra, khi tiếp xúc với lá lúa sẽ xâm nhập

vào tế bào biểu bì của lá lúa qua khí khẩu hoạc trực tiếp xuyên qua vách tế bào biểu bì

của lá lúa và gây ra vết bệnh trên lá lúa.

25



Các lá lúa bị nhiễm bệnh đốm vằn khi tiếp xúc với các la lúa khác cũng có thể lây

bệnh cho lá lúa mạnh.

Bên cạnh các hạch nấm sinh ra từ lúa mắc bệnh, các hạch nấm của bệnh đốm vằn từ

cỏ dại mọc ven ruộng, ven bờ mương và cả ở những bụi lục bình trôi nổi trên sông rạch

cũng là nguồn lây lan bệnh đốm vằn quan trọng. Hạch nấm rơi trên mặt nước kênh rạch

có thể vào ruộng trong lúc lấy nước tưới ruộng và xâm nhiễm gây hại cho lúa trong

ruộng.

Với các cách lây lan này, khi vụ láu trước có bệnh đốm vằn thì vụ lúa kế tiếp chắc

chắn sẽ bị bệnh vì sựu lưu tồn của hạch nấm và rơm rạ mắc bệnh từ vụ trước. Điều này

cho thấy bệnh đốm vằn tuy phát triển chậm, không ồ ạt như bệnh đạo ơn, nhưng ln

ln có mặt trong mỗi mùa vụ và vụ sau có khuynh hướng nặng hơn vụ trước do sựu tích

lũy hạch nấm từ vụ trước.

2.6. Phổ ký chủ

Nấm Rhizoctonia solani là nấm đa ký chủ, tức là có khả năng ký sinh gây hại cho rất

nhiều loại cây. Bên cạnh cây lúa, nấm có thể gây bệnh cho hầu hết các loại cây trồng, hầu

hết các loại cỏ dại và trên cả các loại cây rừng. Lúa, đại mạch, đậu tương, ngô, lạc, dâu...

2.7. Ảnh hưởng của điều kiện ngoại cảnh

Bệnh đốm vằn chịu ảnh hưởng của điều kiện ngoại cảnh. Các yêu tố ảnh hưởng quan

trọng gồm: ẩm độ tương đối của khơng khí, nhiệt độ và hàm lượng phân đạm bón cho

lúa.

Bệnh đốm vằn phát triển manh trong điều kiện ẩm độ cao và nhiệt độ cao. Ẩm độ

trong ruộng lúa tùy thuộc vào ẩm độ tương đối của khơng khí và vào khoảng cách giữa

các bụi lúa. Khoảng cách giữa các bụi lúa cầng ngắn thì ẩm độ của ruộng lúa càng cao.

Khoảng cách giữa các bụi lúa lại chịu ảnh hưởng của mật độ sạ. Sạ càng dầy, khoảng

cách giữa các bụi lúa càng ngắn. Như vậy sạ dầy tạo điều kiện thuận lợi cho bệnh phát

triển sớm, nhanh và nặng.

Nhiệt độ trong ruộng lúa tùy thuộc vào nhiệt độ của không khí. Bệnh đốm vằn phát

triển mạnh trong điều kiện nhiệt độ khơng khí trong khoảng 28-30 0C. Nếu gặp nhiệt độ

mát hơn, như vào vụ đông xuân, bệnh đốm vằn phát triển kém hơn vụ trước có nhiệt độ

cao hơn. Do đó, tại Đồng bằng sơng Cửu Long, bệnh đốm vằn nặng vào vụ hè thu và vụ

thu đông và nhẹ vào vụ đông xuân do điều kiện nhiệt độ của các vụ mùa này. Ngoài ra,

bệnh đốm vằn phát triển mạnh vào hai mùa vụ này còn do là mùa mưa nên ruộng lúa ln

ln ẩm ướt thích hợp cho sự phát triển của bệnh.

Ruộng lúa được sạ với mật độ cao, lúa giáp tán sớm, sẽ tạo ẩm độ cao thích hợp cho

sự phát triển của bệnh đốm vằn sớm hơn so với ruông được sạ với mật độ thưa hơn.



26



Hàm lượng đạm bón cho ruộng lúa cũng có ảnh hưởng lên bệnh đốm vằn. Ruộng lúa

được bón hàm lượng dạm cao sẽ thích hợp cho bệnh đốm vằn phát triển. Mặt khác, bón

phân đạm cao sẽ làm cho bụi lúa nở bụi, lúa giáp tán sớm nên ẩm độ trong ruộng luôn

cao, là điều kiện cho bệnh đốm vằn phát triển nặng. Rng lúa được bón đạm theo nhu

cầu cây lúa (sử dụng bảng đo màu lá lúa để bón đạm) và sạ với mật độ vàu phải có bệnh

đốm vằn cũng phát triển chậm nên dễ trị bệnh hơn.

Bón phân lân với lượng quá cao sẽ thúc đẩy sự phát triển của bệnh đốm vằn, trong

khi đó phân kali giúp giảm sựu phát triển của bệnh.

Chất Na có đặc tính là ức chế sự phát triển của nấm gây bệnh đốm vằn. Do đó vùng

bị nhiễm mặn, có hàm lượng Na trong đất cao, ít bị bệnh đốm vằn hơn so với vùng nước

ngọt.

Cây lúa có tưởi càng cao càng mẫn cảm với bệnh đốm vằn. Do đó, bệnh đốm vằn

phát triển rất nhanh sau khi cây lúa trổ bông.

2.8. Biện pháp quản lý bệnh đốm vằn

a. Ngừa bệnh

Đến nay chưa tìm được giống lúa kháng bệnh đốm vằn, chỉ có các giống ít nhiễm

bệnh hoặc nhiễm bệnh nặng. Nên chọn các giống ít nhiễm bệnh đốm vằn mà trồng. Bệnh

đốm vằn phát triển chậm và có thuốc đặc trị nên dễ trị bệnh khi phát hiện.

Làm đất kỹ để chơn vùi rơm rạ có bệnh và hạch nấm xuống sâu trong đất giúp giảm cơ

hội để hạch nấm và rơm rạ có bệnh tiếp xúc với lúa mới gieo sạ sẽ giúp giảm thiệt hại do

bệnh đốm vằn gây ra. (Hạch nấm và rơm rạ nhiễm bệnh chỉ khi nào nổi trên mặt nước và

tiếp xúc với bẹ lúa mới xâm nhiễm gây bệnh được).

Sạ với mật độ vừa phải (12kg hạt giống /1000m 2) cũng giúp đẩy lùi sự phát triển của

bệnh, giúp giảm bớt sự gây hại của bệnh đối với vụ lúa.

Không bón phân đạm quá dư thừa cho ruộng lúa cũng giúp giảm bớt sự phát triển của

bệnh. Sử dụng bảng đo màu lá lúa để bón phân đạm theo nhu cầu của cây lúa giúp lúa có

năng suất cao mà ít tốn phân vùa giúp bệnh đốm vằn phát triển chậm hơn, giúp phun

thuốc trị bệnh có hiệu quả cao.

Trong vụ lúa nên thường xuyên vén và cắt cỏ dọc theo bờ ruộng không để cỏ tiếp xúc

với lá lúa giúp ngừa sự lây lan bệnh từ cỏ xuống ruộng lúa.

Làm sạch cỏ dọc theo bờ kênh mương và vớt bơt lục bình trên kênh mương để giảm bớt

sự sinh ra hạch nấm rơi xuống nước kênh mương.

Cần ngăn chặn hạch nấm từ kênh mương theo nước tưới vào ruộng bằng cách sử dụng

lưới chặn ngang đường nước. Để ít bị nghẽn nước do rác đóng bít đường nước, có thể sử

dụng lưới ba lớp: Lớp lưới phía ngồi cùng là lưới lỗ to kích thước từ 3-4cm có tác dụng

ngăn rác to lại. Lớp giữa là lưới kích thước 1cm, có tác dụng ngăn rác nhỏ hơn. Lớp dưới

cùng là lưới muỗi, kích thước 1mm có tác dụng ngăn hạch nấm bệnh đốm vằn lại.

27



b. Trị bệnh

Có nhiều loại thuốc có hiệu quả cao với bệnh đốm vằn

- Validamycine (validan,vv...)

- Iprodione (Rovral), Thiophanate Methyl (Topan)

- Nhóm triazole bao gồm propiconazole, diphenoconazole (Tilt Super, Nevo,

Tilfuji,vv..), cyproconazole (Bonanza), hexaconazole (Forvil New),vv....

- Nhóm azoxystrobine (Amistar Top, TT Over, Trobin Top, Cure Gold,vv..).

Các thuốc trên đều có hiệu quả cao đối với bệnh đốm vằn. Phun thuốc ngay khi phát

hiện ra bệnh đốm vằn trong ruộng. Sử dụng thuốc theo liều lượng được hướng dẫn trên

bao bì của thuốc. Phun thuốc kĩ để thuốc xuống đến gốc lúa, là nơi bệnh đang gay hại.

Hiện nay trong các công thức phối trộn của thuốc, có những thuốc vùa trị bệnh đạo ơn

vừa trị bệnh đốm vằn. Do đó trong q trình dùng thuốc trị bệnh cho lúa bà con cần quan

tâm đến các hoạt chất bên trong của thuốc để quyết định phối trộn thêm với thuốc khác

hay khơng.

Việc sử dụng thuốc hóa học để trị bệnh đốm vằn, tuy rất hiệu quả nhưng khơng có

tính bền vững, vì dù có phun thuốc nhưng vết bệnh vẵn sinh ra hạch nấm, mặc dù hạch

nấm nhỏ nhưng vẫn có thể là nguồn bệnh của vụ sau. Do đó, khi phun thuốc trị bệnh cho

vụ này có hiệu quả, nhưng sang vụ sau bệnh đốm vằn vẫn có mặt trong ruộng và lại phải

phun thuốc.

c. Quản lý bệnh đốm vằn bằng biện pháp sinh học

Để quản lý bệnh đốm vằn một cách bền vững, có thể sử dụng vi sinh vật có khả năng

đối kháng với nấm bệnh. Các nghiên cứu của Bộ môn Bảo vệ Thục vật, Trường Đại học

Cần Thơ đã tìm ra chủng vi khuẩn Pseudomonas fluorescens TG17 có khả năng vừa ức

chế sựu phát triển của sợi nấm gây bệnh đốm vằn và vừa ức chế sựu hình thành hạch

nấm.



28



Hình 16. Khả năng ức chế

sự phát triển nấm bệnh

đốm vằ của vi khuẩn

Pseudomonas fluorescens

TG17 ( Bốn đốm bốn phái

là vi khuẩn TG17 còn nấm

mọc ở giữa là nấm

Rhizoctonia solani gây

bệnh đốm vằn)



Việc sử dụng chế phẩm của

vi khuẩn TG17 được

Phòng Nơng nghiệp Cai Lậy tỉnh Tiền Giang áp dụng cho trên 40 ha ruộng lúa ba vụ tại

xã Mỹ Thành Nam trong hai năm liền, đem lại kết quả rất khả quan. Vi khuản được phun

lên lúa hai lần vào 40 và 50 ngày sau khi sạ ở mỗi vụ lúa. Sau mỗi vụ lúa có sử dụng vi

khuẩn đối kháng TG17, bệnh đốm vằn giảm dần. Đến vụ thứ tư, sau khi sử dụng vi khuẩn

này liên tiếp ba vụ trước, bệnh đốm vằn trong ruộng giảm hẳn, giảm đến mức khơng còn

là mối quan tâm của bà con trong vùng. Kết quả là do vi khuẩn Tg17 có khả năng ức chế

sựu hình thành hạch nấm nên sau mỗi vụ só hạch nấm sinh ra từ vết bệnh rơi xuống

ruộng càng ngày càng giảm. Lại thêm các ruộng có sử dụng lưới ngăn hạch nấm từ bên

ngoài vào ruộng theo nước tưới. Qua nhiều vụ, cứ mỗi vụ số lượng hạch nấm có trong

ruộng giảm dần cho đến khi số hạch nấm để gây bệnh còn lại khơng đáng kể.

Vi khuẩn TG17 còn được triển khai ra sử dụng với diện tích 2500 ha ở các tình An

Giang, Hậu Giang và Sóc Trăng với kết quả rất tốt.

Đáng tiếc là đến nay vi khuẩn đối kháng TG17 không được sản xuất đại trà như một

sản phẩm bảo vệ thực vật để bán ra cho nơng dân sử dụng.



29



Hình17. A: là đĩa chưa vi khuẩn TG17 và nấm gây bệnh đốm vằn nấm không sinh ra hạch

nấm do sự ức chế của vi khuẩn. B: đĩa không chứa vi khuẩn TG17 chỉ chứa nấm gây

bệnh đốm vằn nấm sinh ra rất nhiều hạch nấm

2.9. Tình hình nghiên cứu

a. Nghiên cứu ngồi nước

Các lồi nấm Rhizoctonia slolani đac được tìm thấy bởi Dacandolle mô tả năm 1815,

lúc đầu đặt tên là Rhizoctonia crocorum, Rhizoctonia sonali là loài quan trọng của nấm

Rhizoctonia. Năm 1858, Julius Kuhn quan sát và mô tả chi tiết về lồi nấm này. Lồi nấm

Rhizoctonia solani có lịch sử rất lâu đời, đã được phát hiện đầu tiên trên cây khoai tây ở

Châu Âu

Theo Hemi và Endo (1931) cho biết hạch nấm sinh ra nhiều nhất ở ngoài ánh sáng và

sự hình thành chúng được tăng cường do sự giảm nhiệt độ đột ngột, đồng thời ơng còn

cho biết nấm có thể qua đơng trong đất dưới dạng hạch hoặ sợi nấm. Hạch nấm mất sức

sống trong đất khô sau 21 tháng.

Park and Bestus (1932) ở Srilanca đã khảo sát sự tồn tại của hạch nấm dưới các điều

kiện khác nhau ở trong phòng, trên đất khơ và ẩm chúng sống ít nhất 130 ngày và sau khi

ngâm ở độ sâu 3 inse (1 inse = 2.54cm) trong nước máy, hạch nấm sống khoảng 224

ngày. Theo Palo (1926) ở Philippines hạch nấm có thể sống vài tháng trong đất.

b. Nghiên cứu trong nước

Theo Đường Hồng Dật (1958), bệnh đốm vằn trên lúa là do nấm Rhizoctonia solani

gây ra. Trong những năm 1971-1976 bệnh đốm vằn đã phát sinh và gây hại phổ biến ở

nhiều vùng trồng lúa các tỉnh đồng bằng sông Hồng, Viện bảo vệ thực vật đã tiến hành

nhiều thí nghiệm về tính chống chịu của các giống lúa, tác nhân gây hại, phổ ký chủ, thí

nghiệm để thử thuốc phòng trị bệnh do nấm Rhizoctonia solani gây ra.

30



Trong 4 năm 1979-1982 Hà Minh Trung và ctv đã điều tra trên đồng ruồng phát hiện

ra nấm Rhizoctonia solani gây hại trên 19 loại cây trồng, trong đó có 2 loại cây phân

xanh, 13 lồi cỏ dại, 4 loại cây trông là ngô, cao lương, đậu tương, lúa là nguồn bệnh

tương đối nguy hiểm trên đồng ruộng.

Báo cáo khoa học 1989-1990 Viện BVTV (Bảo vệ thực vật) cho biết đốm vằn hại

trên các giống lúa cây thấp, ngắn ngày nặng hơn các giống cây cao, dài ngày, cấy sớm bị

nặng hơn cấy muộn, chân đất cao bị nặng hơn chân đất trũng. Theo cục Bảo vệ thực vật

năm 1999 ở miền bắc diện tích bị nhiễm đốm vằn là 96.000 ha bị nặng là 63.000 ha.

Bệnh đốm vằn bị nhiễm năng cao hơn bệnh khác.

Năm 1993 tại Tiền Giang 5000 ha lúa bị hại, năm 1984 lag 21.500 ha bị nhiễm bệnh,

bệnh có thể hại từ gốc lên đến bông làm giảm năng suất rất lớn. Ở miền Nam bệnh hại

nhiều trên lúa hè thu và có năm hại cả trên lúa đơng xn.



III. KẾT LUẬN

Dựa trên tình hình nghiên cứu bệnh đốm vằn trong và ngồi nước ta có thể thấy tình hình

bệnh đốm vằn đang diễn ra phức tạp và có khả năng bùng phát thành dịch. Tuy có thuốc

đặc trị nhưng khả năng tạo hạch của nấm Rhizoctonia solani là điều đáng quan ngại,

chúng tạo hạch ngay cả khi đã sử dụng thuốc đặc trị. Chỉ có biện pháp sinh học dùng vi

khuẩn đối kháng Pseudomonas fluorescens TG17 để ức chế sự phát triển và khả năng tạo

hạch của nấm, mà hiện nay vi khuẩn đối kháng TG17 này chưa được sản xuất đại trà và

phục vụ cho BVTV nên tình hình bệnh đốm vằn vẫn còn lo ngại.



TÀI LIỆU THAM KHẢO

Gs.Ts Vũ Triệu Mân, Giáo trình bệnh cây chuyên khoa

PGS. Phạm Văn Kim, Các bệnh hại lúa quan trọng ở ĐBSCL

31



http://www.luanvan.co/luan-van/luan-van-nghien-cuu-nam-rhizoctonia-solani-kuhn-gayhai-tren-cay-lac-tai-nghi-long-nghi-loc-nghe-an-vu-xuan-nam-2013-61656/

https://xemtailieu.com/tai-lieu/dieu-tra-benh-kho-van-rhizoctonia-solani-hai-lua-va-khaosat-bien-phap-phong-tru-tai-thi-xa-tan-chau-tinh-an-giang-nam-2012-2013-324387.html

http://baovethucvathaiphong.vn/?pageid=newsdetails&catID=93&id=484

https://www.syngenta.com.vn/cay-lua

http://tiennong.vn/w71/benh-kho-van-hai-lua-rhizoctonia-solani-kuhn.aspx

https://en.wikipedia.org/wiki/Rhizoctonia_solani



32



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tổng quan về nấm Rhizoctonia solani

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×