Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ - 0trang

* Các nghiên cứu về nguyên nhân của RLLA theo các trường phái tâm lý

học. Việc tìm ra gốc rễ của các RLLA cũng sẽ giúp cho việc trị liệu của các

nhà tâm lý học đạt hiệu quả cao.

Thuyết phân tâm: Lo âu là một tín hiệu khuấy động bản ngã thực hiện hành

động phòng vệ chống lại những áp lực từ bên trong. Một cách lý tưởng, sự

dồn nén thành công tạo nên sự cân bằng tâm lý mà khơng có triệu chứng.

Học thuyết phân tâm học kinh điển mô tả RLLA như là kết quả của những

xung đột trong vơ thức.

Thuyết tập nhiễm xã hội: Gia đình là môi trường xây dựng nên các cảm xúc,

sự hiểu biết và sự an tồn cho trẻ. Mơi trường này có ảnh hưởng sâu sắc đến thế

giới quan và khả năng đương đầu với những vấn đề trong cuộc sống của con

người. Lo âu có thể được tập nhiễm từ người chăm sóc hoặc từ những người

khác trong gia đình hoặc môi trường sống của đứa trẻ . Như vậy, hành vi của

cha mẹ là yếu tố quan trọng hình thành và phát triển lo âu ở trẻ.

Thuyết nhận thức: Những yếu tố nhận thức, đặc biệt là cách mà một người

giải thích hoặc suy nghĩ về các sự kiện stress đóng một vai trò quan trọng

trọng bệnh ngun của RLLA. Theo quan điểm của Beck thì những trạng thái

cảm xúc bất thường như trầm cảm, lo âu là Khi có một kích thích tác động

lên nhận thức thì dẫn đến một đáp ứng. Thơng thường khi gặp phải một tình

huống gây lo sợ thì nhận thức bị bóp méo sự ước lượng của chúng về những

kích thích gây lo âu. Sự ước lượng này chứa đựng những kinh nghiệm, niềm

tin sai lệch về chính bản thân mình, về thế giới và về tương lai. Khi gặp phải

một kích thích tương tự sẽ so sánh nó với những tình huống xảy ra trong quá

khứ và cho ra phản ứng. Vì vậy, RLLA là do những niềm tin sai lệch mà bệnh

nhân suy diễn những sự kiện xảy ra thành những sự kiện đe dọa hoặc nguy

hiểm quá mức. Như vậy, RLLA là do xử lý thông tin không đúng. Theo

Barlow và cộng sự (1996), một trong những biểu hiện nhận thức rõ ràng nhất

của lo âu đó là cảm giác khơng thể kiểm sốt được, nó biểu hiện bằng mọi

cảm giác không được giúp đỡ, không nơi nương tựa do mất khả năng tiên

đoán, kiểm soát và đạt được những kết quả mong muốn [10, tr.12].

4



+ Thuyết về nhân cách: Một số RLLA liên quan đến nhân cách lo âu, tránh

né. Đó là nhân cách có các đặc điểm: lo lắng trước đám đông, sợ không được

chấp nhận, bi quan lo lắng, bị bối rối, thận trọng trước những trải nghiệm

mới, rụt rè, thiếu tự tin, ít bạn bè, né tránh các tình huống xã hội.

* Tiếp cận về rối loạn lo âu theo hướng nghiên cứu dịch tễ học: Lo âu là một

vấn đề sức khỏe mang tính dịch tễ, vì thế nhiều nhà tâm lý học cũng đi vào

nghiên cứu về nó theo hướng dịch tễ học. Theo Richard C. Shelton các RLLA

thường gặp nhất trong các bệnh lý tâm thần, có thể ảnh hưởng đến 15% dân

số ở bất kỳ thời điểm nào. Rối loạn lo âu ám sợ có tỷ lệ là 8 – 10%, RLLA

lan tỏa chiếm 5%, rối loạn hoảng sợ chiếm 1 – 3% trong dân số [42]. Theo

nghiên cứu của Rieger và cộng sự (1990) có khoảng 15% dân số nói chung,

trong cuộc đời đã trải nghiệm các triệu chứng mang đặc trưng đủ của RLLA

và 2,3 – 8,1% có RLLA hiện hữu [21]

Năm 1999, Chính phủ đưa vào Chương trình mục tiêu Quốc gia Dự án

Bảo vệ sức khoẻ tâm thần cộng đồng. Kết quả của Điều tra dịch tễ học 10 rối

loạn tâm thần thường gặp tại cộng đồng từ năm 2000 – 2002 cho thấy tỷ số

người mắc rối loạn lo âu chiếm 2,7% số người có các rối loạn tâm thần [40].

Với đề tài nghiên cứu: tìm hiểu mức độ biểu hiện của stress ở sinh viên của sinh

viên trường Đại học Sư phạm – Đại học Đà Nẵng tác giả Ngơ Hồng Anh, Vũ

Ngọc Duy và Nguyễn Thị Mỹ Trang trên 200 sinh viên đã đưa ra kết quả: 100%

sinh viên có những biểu hiện lo âu [3].

Nghiên cứu của Hoàng Cẩm Tú ở khoa Tâm bệnh - Bệnh viện Nhi

quốc gia cho thấy tỷ lệ RLLA chiếm khoảng 30% bệnh nhân có vấn đề về

tâm bệnh [20]

Nghiên cứu của Nguyễn Công Khanh (2000) đã sử dụng thang đánh giá

lo âu của Spiebeger trên 503 học sinh trung học cơ sở thấy có 17,65% 19,2% học sinh đã trải qua biểu hiện của RLLA [20]

Những nghiên cứu này giúp chúng ta thấy được các nguy cơ và thách

thức đối với các nhà tâm lý trong việc chăm sóc SKTT cho cộng đồng đặc

biệt là chăm sóc sức khỏe tâm thần cho đối tượng đã đang và sắp trở thành

5



lực lượng lao động chính cho đất nước. Điều này cho thấy việc tiếp tục có các

nghiên cứu sâu hơn về các rối loạn cụ thể trong vấn đề sức khỏe tâm thần là cần

thiết để góp phần nâng cao chất lượng của lực lượng lao động cho xã hội.

* Ngồi ra, hiện nay ở Việt Nam đã có một số cơng trình nghiên cứu tìm hiểu

các yếu tố ảnh hưởng đến RLLA. Với nghiên cứu: Khảo sát tình trạng lo âu –

trầm cảm và một số yếu tố liên quan ở trẻ vị thành niên lang thang kiếm sống

trên đường phố (2010) tác giả Phan Tiến Sĩ và Nguyễn Thành Công chỉ ra

rằng: tác động sâu sắc nhất tới mức độ lo âu của các em (trẻ lang thang kiếm

sống trên đường phố) chính là bạn bè. [14]

Trong Luận văn thạc sỹ tâm lý học của mình (2003): Ảnh hưởng của

một số yếu tố tâm lý đến RLLA của trẻ em, tác giả Nguyễn Thị Hồng Thúy

tiến hành trị liệu trên hai trường hợp điển hình có RLLA có sử dụng phối hợp

liệu pháp nhận thức – hành vi, thư giãn, khen thưởng kết hợp với liệu pháp

gia đình. Thời gian trị liệu cho cả hai trường hợp này đều kéo dài trên 4 tháng

và đều đem lại kết quả khả quan: trẻ giảm lo âu, các triệu chứng cơ thể giảm

và có thể hòa nhập vào mơi trường học tập mới [20].

Hiện nay đã có một số nghiên cứu ở Việt Nam nghiên cứu và áp dụng

mơ hình trị liệu CBT - mơ hình trị liệu nhân thức hành vi hiện nay được các

nhà khoa học tâm lý cho rằng có hiệu quả cao trong trị liệu về rối loạn lo âu.

Nghiên cứu: Bước đầu áp dụng mô hình trị liệu nhận thức hành vi cho trẻ em

có RLLA của các tác giả Nguyễn Thị Hồng Thúy, Trần Thành Nam, Cao Vũ

Hùng, Đặng Hoàng Minh (2004) được tiến hành thử nghiệm trên 20 trẻ có

RLLA. Với nghiên cứu này, nhóm tác giả đã khẳng định mơ hình nhận thức

hành vi được coi là mơ hình trị liệu có hiệu quả đối với trẻ có RLLA và

chứng minh rằng nếu trị liệu đầy đủ phiên trị liệu thì vấn đề lo âu ở trẻ dẽ

giảm dần và có thể hết hẳn [21]

Năm 2012, Huỳnh Hồ Ngọc Anh - tác giả của luận văn thạc sỹ tâm lý

học lâm sàng, với đề tài "Tác động của trị liệu nhận thức hành vi đến học

sinh trung học phổ thơng có rối loạn lo âu dựa trên định hình trường hợp".

Trên cơ sở nghiên cứu, tác giả đã có những đánh giá tổng hợp lý luận về rối

loạn lo âu và phương thức trị liệu [2]

6



Như vậy, nhận thức được ảnh hưởng nghiêm trọng của vấn đề lo âu đến

sức khỏe tâm thần con người có thể thấy rằng có khá nhiều các nghiên cứu về

các rối loạn lo âu. Những nghiên cứu này được tiếp cận cả về phía nghiên

cứu lý luận cho đến những nghiên cứu mang tính chất ứng dụng thực tế trên

những nhóm đối tượng nhất định. Trong số các nghiên cứu đó khơng có nhiều

nghiên cứu tập trung vào tìm hiểu về mức độ biểu hiện và các dạng RLLA cụ

thể ở sinh viên. Điều đó cho thấy đây là một hướng nghiên cứu cần tiếp tục

được đi sâu tìm hiểu hơn nữa.

1.2. Một số khái niệm

1.2.1. Rối loạn lo âu

1.2.1.1. Khái niệm về RLLA

Rối loạn lo âu là một rối loạn cảm xúc được đặc trưng bởi sự lo lắng

quá mức , dai dẳng và kéo dài nhiều ngày về một tình huống có tính chất vô

lý, lặp đi lặp lại và kéo dài ảnh hưởng đến sự thích nghi trong cuộc sống. Lo

âu cũng là sự lặp đi lặp lại những suy nghĩ vô lý, những hành vi mang tính

chất nghi thức, đồng thời đi kèm với những trạng thái về thể chất: khó thở,

mệt mỏi, không ngủ được, ra mồ hôi tay, tim đập nhanh...

1.2.1.2. Các biểu hiện của RLLA

* Về hành vi:

* Về nhận thức:

* Các biểu hiện cơ thể (do rối loạn hệ thần kinh thực vật gây ra)

1.2.1.3. Một số RLLA phổ biến

* Ám sợ khoảng trống: Thuật ngữ “ám ảnh sợ khoảng trống“ ở đây được dùng

với nghĩa rộng hơn, không chỉ bao gồm sợ khoảng trống mà sợ cả những khía

cạnh liên quan như sự có mặt một đám đơng và việc khó rút lui đến một nơi an

tồn. Bởi vậy, thuật ngữ này kể đến một cụm những ám ảnh sợ liên hệ qua lại và

thường gối lên nhau bao gồm: sợ đi vào cửa hàng, sợ đám đơng và các nơi cơng

cộng hoặc sợ đi một mình trong tàu hỏa, xe ô tô hoặc máy bay.

* Ám sợ xã hội: là một dạng trong nhóm bệnh rối loạn lo âu được mô tả bởi đặc

điểm sợ hãi q mức trong các tình huống xã hội thơng thường. Biểu hiện thể chất

thường thấy là tim đập nhanh, đỏ mặt, đổ mồ hơi, khó chịu ở dạ dày, buồn nơn.

7



* Ám sợ đặc hiệu: Đó là những ám ảnh sợ khu trú vào các tình huống rất đặc

hiệu: sợ các động vật, sợ chỗ cao, sợ sấm, sợ bóng tối, sợ đi máy bay, sợ chỗ

đóng kín, sợ đại tiểu tiện trong các nhà vệ sinh công cộng, sợ ăn một món ăn

nhất định, sợ nhìn thấy máu hoặc vết thương, sợ các bệnh đặc biệt.

* Rối loạn hoảng sợ: được đặc trưng bởi các cơn hoảng sợ có tính chất kịch

phát, xuất hiện đột ngột, sợ hãi vơ cùng mạnh mẽ. Người bị rối loạn hoảng sợ

có cảm tưởng sắp chết, cho rằng mình bị nhồi máu cơ tim, bị phát điên hoặc

mất kiểm soát bản thân.

* RLLA lan tỏa: là một rối loạn được đặc trưng bởi tình trạng lo âu q mức

khơng kiểm sốt được, lo âu nhiều chủ đề, không phù hợp với thực tế. Lo âu

xuất hiện nhiều ngày, kéo dài trên 6 tháng, kèm theo ít nhất 3 trong 6 triệu

chứng cơ thể, bao gồm: căng cơ, bồn chồn kích thích, khó tập trung hoặc cảm

giác trống rỗng, dễ mệt mỏi, dễ bị kích thích, rối loạn giấc ngủ

* Rối loạn stress sau sang chấn: Rối loạn này phát sinh như một đáp ứng trì

hỗn hoặc kéo dài đối với sự kiện hoặc hồn cảnh gây stress có tính chất đe

dọa hoặc thảm họa đặc biệt có thể gây ra đau khổ tràn lan cho hầu hết bất cứ

ai. Các triệu chứng điển hình bao gồm sự tái diễn những giai đoạn sống lại

sang chấn bằng cách nhớ lại bắt buộc hoặc các giấc mơ xảy ra trên sự cùn

mòn về cảm xúc, tách rời khỏi những người khác, không đáp ứng với mơi

trường xung quanh, mất hứng thú, mất thích thú, né tránh các hoạt động và

hoàn cảnh gợi lại sang chấn.

1.2.2. Sinh viên

1.2.2.1. Khái niệm “Sinh viên’’

Sinh viên là người học tập tại các trường đại học, cao đẳng hay trung

cấp chuyên nghiệp. Ở đó họ được truyền đạt kiến thức bài bản về một ngành

nghề, chuẩn bị cho công việc sau này của họ [48]

1.2.2.2. Đặc điểm tâm lý của sinh viên có liên quan đến RLLA

Sự thích nghi với môi trường sống và phương pháp học tập mới.

Tự ý thức của sinh viên.

Động cơ và định hướng giá trị của sinh viên.

8



CHƯƠNG 2

TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Tiến trình thực hiện đề tài

Đề tài dược thực hiện từ tháng 10 năm 2012 đến tháng 10 năm 2013

bao gồm các công việc sau:

o



Thu thập tài liệu, xây dựng cơ sở lý luận cho đề tài



o



Xây dựng bảng hỏi thu thập thông tin



o



Tiến hành lựa chọn khách thể nghiên cứu và phát bảng hỏi thu thập

thông tin.



o



Xử lý kết quả nghiên cứu.



o



Viết báo cáo trên cơ sở kết quả nghiên cứu.



2.2. Vài nét về địa bàn nghiên cứu

Tiền thân từ trường Trung học Lao động Tiền lương thuộc Bộ Lao động

thành lập năm 1961 có nhiệm vụ đào tạo cán bộ lao động tiền lương cho toàn

miền bắc. Năm 2005, Trường Cao đẳng Lao động Thương Binh Xã hội được

đổi tên thành Trường Đại học Lao động - Xã hội, chịu sự lãnh đạo và quản lý

trực tiếp của Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội; chịu sự quản lý nhà nước

về giáo dục của Bộ Giáo dục - Đào tạo; chịu sự quản lý hành chính theo lãnh

thổ của Uỷ ban nhân dân Thành phố Hà Nội. Hiện nay trường đang đào tạo sinh

viên theo các chuyên ngành: Công tác xã hội, Bảo hiểm xã hội, Quản lý lao

động, Kế tốn và Kỹ thuật chỉnh hình. Năm học 2014 -2015 trường được chính

thức đào tạo sinh viên chuyên ngành Quản trị doanh nghiệp.

2.3. Đặc điểm về khách thể nghiên cứu

* Tuổi: Khách thể nghiên cứu của đề tài là những SV từ năm thứ nhất đến

năm thứ ba trường Đại hoc Lao động Xã hội có độ tuổi dao động trong phạm

vi hẹp, với tuổi trung bình là 19,3 (tuổi thấp nhât là 18 và cao nhất là 24).

* Giới tính: số lượng sinh viên nữ học tập ở trường Đại học Lao động Xã hội có sự

chênh lệch lớn so với sinh viên nam (sinh viên nữ (80%) gấp hơn 4 lần nam (20%).

* Chuyên ngành học: Phần lớn SV đang theo học ngành Kế toán, chiếm gần

40% trong tổng số SV trả lời. Số lượng SV ngành Bảo hiểm và Công tác xã

9



hội gần tương đương nhau, chiếm hơn 50% tổng số SV trả lời, còn lại là SV

ngành Quản trị chiếm gần 10%.

* Nơi ở: Đa số SV ở nhà thuê chiếm ½ số SV tham gia trả lời bảng hỏi. SV ở kí túc

và ở nhà người quen cùng chiếm 14% còn lại là SV sống cùng gia đình chiếm 22%.

* Tình hình kinh tế: Phần lớn SV tự đánh giá mình có điều kiện kinh tế bình

thường (87,8%). Tỷ lệ SV ở nhà thuê đánh giá có điều kiện kinh tế khó khăn

chiếm 10%. Tỷ lệ này trong nhóm ở cùng gia đình là 2%.

* Năm học: Tỷ lệ SV năm thứ nhất và năm thứ hai bằng nhau (gần 40%), số

SV năm thứ 3 tham gia trả lời bảng hỏi chiếm 23%.

* Cảm nhận về đặc điểm bản thân: Tỉ lệ SV tự nhận mình là người sống nội

tâm, hay phiền muộn và nhanh nhẹn hoạt bát tương đương nhau, chiếm 50%

tổng số SV. 41% SV tự nhận mình là người hiền lành, bình thản, tỉ lệ SV tự

nhân mình là người nóng tính thấp (10%).

2.4. Các phương pháp nghiên cứu

2.4.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận

Bao gồm các công việc như: Đọc, phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa và

khái qt hóa những quan điểm cũng như những cơng trình nghiên cứu của

các tác giả trong và ngồi nước liên quan đến rối loạn lo âu nói chung và rối

loạn lo âu của sinh viên nói riêng…để xây dựng cơ sở lý luận của đề tài.

2.4.2. Phương pháp điều tra qua bảng hỏi có sử dụng thang đo

Đây là phương pháp chính của đề tài nhằm mục đích tìm hiểu những biểu

hiện của RLLA và đánh giá các yếu tố có ảnh hưởng đến lo âu ở sinh viên.

Bảng tự đánh giá này gồm 3 phần, phần 1 chúng tôi sử dụng bảng tự đánh

giá về mức độ lo âu của Zung, phần 2 là những câu hỏi được thiết kế dựa trên

tiêu chí chẩn đốn của DSM_IV về các dạng rối loạn lo âu, phần 3 là một số

thông tin cá nhân.

Phần 1: Thang đánh giá RLLA của Zung. gồm 20 câu hỏi được đưa từ bộ

thang đo tự đánh giá lo âu của Zung W.K, phần này nhằm điều tra sàng lọc

các đối tượng có biểu hiện của RLLA.

10



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×