Tải bản đầy đủ - 0 (trang)
Chương III: Phương pháp nghiên cứu của đề tài.

Chương III: Phương pháp nghiên cứu của đề tài.

Tải bản đầy đủ - 0trang

Đại học Thương Mại



Trong quá trình thực hiện đề tài, do giới hạn về hiểu biết cũng như thời gian và kinh phí, bài

thảo luận còn có những hạn chế sau:

-



Đề tài về Internet khơng còn mang tính mới mẻ trong giai đoạn hiện nay nhưng

nghiên cứu với đối tượng nghiên cứu là sinh viên Đại học Thương Mại thì còn chưa

phổ biến.



-



Do chưa có kinh nghiệm cũng như vốn kiến thức còn nhiều hạn chế nên bài thảo luận

khơng thể tránh khỏi những khuyết điểm và thiếu sót.



-



Do chưa có thời gian nghiên cứu sâu để có cái nhìn tổng quan nên nghiên cứu có thể

sử dụng mẫu câu hỏi chưa thật chi tiết, đầy đủ. Vì vậy, kết quả có thể khơng phản ánh

được đầy đủ tất cả các yếu tố ảnh hưởng đến đề tài nghiên cứu.



3.3



Cách chọn mẫu, điều tra.



3.3.1. Ý nghĩa của chọn mẫu.

-



Tiến hành chọn mẫu theo phương pháp nghiên cứu định lượng bằng bảng hỏi trực

tuyến trên một số đơn vị của tổng thể để tiết kiệm thời gian, chi phí.



-



Từ những đặc điểm của mẫu, ta có thể suy được đặc điểm và tính chất của tổng thể

nghiên cứu.



3.3.2. Các bước chọn mẫu.

a) Xác định tổng thể nghiên cứu

Đề tài hướng tới nghiên cứu tổng thể có giới hạn: số sinh viên Đại học Thương Mại.

b) Đơn vị lấy mẫu.

-



Đơn vị địa lý: Trường Đại học Thương Mại.



-



Cá nhân là sinh viên Đại học Thương Mại.



c) Danh sách nguồn (Khung chọn mẫu):

-



Tổng thể nghiên cứu: sinh viên Đại học Thương Mại.



-



Tuổi: 18-22.



-



Giới tính: Nam, nữ.



-



Ngành học: Kinh tế, Quản trị kinh doanh, Kế tốn, Thương mại điện tử, Ngơn ngữ,

Luật, Tài chính ngân hàng, …



d) Xác định kích thước mẫu/ Cỡ mẫu.

Lấy độ tin cậy là 95% với giá trị z tương ứng là 1,96, sai số cho phép là nằm trong

khoảng 5%. Giả định lớn nhất có thể xảy ra là . Cỡ mẫu sẽ được tính là:

7|Trang



Đại học Thương Mại



e) Xác định phương pháp chọn mẫu.

Tổng thể nghiên cứu là sinh viên Đại học Thương Mại, rất tiện lợi để tiếp cận. Do đó,

có thể tiến hành chọn mẫu theo phương pháp chọn mẫu thuận tiện (Phương pháp chọn mẫu

phi ngẫu nhiên). Nếu người được phỏng vấn không đồng ý thì có thể chuyển sang đối tượng

sinh viên khác. Ngồi ra, phương pháp này cũng sẽ tiết kiệm được thời gian và chi phí trong

q trình thu thập dữ liệu.

f) Tiến hành chọn mẫu và điều tra.

Do hạn chế về thời gian và chi phí nên nhóm chỉ có thể tiến hành khảo sát trên 154 sinh

viên thuộc Đại học Thương Mại.

Tất cả 154 mẫu khảo sát được tiến hành trực tuyến, thông qua công cụ Google Forms,

và trên các mạng xã hội như Facebook, Zalo, …



8|Trang



Đại học Thương Mại



Chương IV: Phân tích dữ liệu

4.1 Mục đích và nội dung truy cập Internet.

90

80

70

60

50

40

30

20

10

0



81

70

Không thực sự

cần thiết

Cần thiết

Rất cần thiết

3



Internet đang ngày càng trở nên phổ biến

trong cuộc sống. Phần đông sinh viên tham gia khảo sát đều cho rằng Internet là cần thiết

cho cuộc sống của họ. Vậy mục đích và nội dung truy cập Internet của sinh viên đại học

Thương Mại là gì?

Giới tính



Tổng



Mục đích



Nam

Nữ

Số lượng

%

Số lượng

%

Số lượng

%

Học tập

23

65.71

92

77.31

115

74.68

Giải trí

34

97.14

83

69.75

117

75.97

Làm việc

1

2.86

4

3.36

5

3.25

Tìm kiếm việc làm

3

8.57

5

4.20

8

5.19

Khác

0

0

1

0.84

1

0.65

Với câu hỏi nhiều lựa chọn này, có thể thấy, mục đích vào mạng Internet để phục vụ

cho hoạt động học tập và giải trí của sinh viên được xem là mục đích chính. Trong tổng số

154 người tham gia trả lời có đến 117 ý kiến chọn giải trí, chiếm 75,97%. Con số này cũng

khơng phải là lạ khi khoa học và công nghệ phát triển từng ngày từng giờ, càng ngày càng

có nhiều các hình thức giải trí đa dạng, hấp dẫn như: xem phim, nghe nhạc, liên lạc bạn bè

… Chính vì vậy, Internet trở thành một nơi “ưu tiên” khi nghĩ đến việc giải trí sau những

giờ học và làm việc căng thẳng.

Bên cạnh đó nhu cầu vào mạng Internet để học tập cũng chiếm tỷ lệ cao với 74,68%.

Hầu hết sinh viên đến học tại trường Đại học Thương Mại là những người ở khắp mọi miền

đất nước, phải sống tự lập xa gia đình người thân, do đó sự kiểm sốt của gia đình, nhà

trường khơng còn chặt chẽ như trước nữa. Tự ý thức và có trách nhiệm với việc học tập của

mình là điều mọi người đều nhận thấy đối với mọi sinh viên. Với mạng lưới tìm kiếm rộng

lớn cùng hàng ngàn tài liệu, Internet đã đáp ứng được nhu cầu thiết yếu ấy một cách nhanh

chóng, thuận tiện và tiết kiệm chi phí đi lại.

Bên cạnh hai mục đích chính khi vào mạng Internet là học tập và giải trí, tìm kiếm

việc làm và làm việc cũng được một số người quan tâm tìm hiểu, chiếm 4,2% và 3,4%. Các

hoạt động khác khi vào mạng Internet của sinh viên chiếm tỷ lệ thấp nhất với 0,84%.

9|Trang



Đại học Thương Mại



Bảng số liệu trên cũng cho thấy sự khác biệt trong mục đích tham gia vào mạng

Internet theo giới tính. Đa số nữ vào mạng Internet với mục đích học tập với 92 ý kiến người

tham gia trả lời chiếm 77,31%. Trong khi đó chỉ có 65,7% nam giới trả lời vào mạng với

mục đích học tập. Đối với mục đích vào mạng để giải trí thì hồn toàn ngược lại với tỷ lệ ở

nam là 97,14% và nữ là 69,75%. Từ đó có thể thấy nam sinh có xu hướng giải trí trên mạng

cao hơn nữ sinh.

4.2 Mức độ truy cập Internet thường xuyên của sinh viên.

Thời gian



Nam



Nữ



Số lượng

%

Số lượng

%

<1h

1

0.65

0

0

1-3h

6

3.9

27

17.53

3-5h

13

8.44

45

29.22

>5h

15

9.74

47

30.52

Bảng số liệu trên cho chúng ta thấy, với nhu cầu sử dụng Internet ngày càng lớn như

hiện nay, sinh viên ngày càng dành nhiều thời gian cho việc truy cập mạng, có thể nhận thấy

họ truy cập rất thường xuyên mỗi ngày. Khi tìm hiểu về mức độ vào mạng Internet của

người tham gia trả lời, số lượng sinh viên dành thời gian dưới một giờ để vào mạng là rất

thấp và gần như khơng có. Thời gian sử dụng Internet chủ yếu của sinh viên là 3-5 giờ hoặc

trên 5 giờ một ngày.

Phân tích tần suất sử dụng Internet theo giới tính, nghiên cứu này cho thấy tuy số

lượng các bạn sinh viên nam tham gia nghiên cứu khơng nhiều nhưng nhìn chung tần suất sử

dụng Internet của các bạn khá cao vì có thể là do đặc tính của nam giới nói chung và của

sinh viên nam nói riêng quan tâm và u thích cơng nghệ. Mặt khác đặc tính thích khám phá

của nam giới cũng có thể là một lí do.

Sinh viên khóa

Thời gian



I

II

III

IV

Số lượng

%

Số lượng

%

Số lượng % Số lượng

%

<1h

1

0.8

0

0

0

0

0

0

1-3h

15

12.4

1

4.8

0

0

1

12.5

3-5h

21

17.4

9

42.9

3

75

1

12.5

>5h

41

33.9

11

52.4

1

25

6

75

Nhu cầu vào mạng của sinh viên các khóa khơng có nhiều sự khác biệt bởi sinh viên

năm nào cũng có nhiều nhu cầu về việc tìm tài liệu phục vụ học tập, giải trí. Tỉ lệ sinh viên

năm 3, năm 4 có nhu cầu sử dụng Internet cao, điều này dễ hiểu vì nhu cầu sử dụng Internet

của những sinh viên năm cuối cho việc học tập và tìm kiếm việc làm nhiều hơn sinh viên

năm đầu. Mặt khác qua quan sát cũng có thể nhận thấy rằng những sinh viên sắp ra trường tự

trang bị hoặc được gia đình trang bị máy tính cá nhân nhiều hơn những sinh viên mới.

4.3 Phương tiện truy cập Internet của sinh viên.

10 | T r a n g



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Chương III: Phương pháp nghiên cứu của đề tài.

Tải bản đầy đủ ngay(0 tr)

×